Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN DƯƠNG

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 23/2024/DS-ST

Ngày: 23-8-2024

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Lý

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Dung

Bà Bùi Thị Nhàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Minh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Lại Văn Quyền - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 54/2024/TLST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2024 về Tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-DS ngày 29/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2024/QĐST-DS ngày 14/8/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần T

Trụ sở: Toà nhà Ngân hàng, Số E L, Phường T, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Hoàng Phương M; chức vụ: Chuyên viên tố tụng Xử lý nợ - Trung tâm Xử lý nợ 1 – Khối Xử lý và Thu hồi nợ Ngân hàng TMCP T (theo Giấy uỷ quyền số 356-2/2024/GUQ-TPB.DR ngày 29/3/2024); có mặt.

- Bị đơn: Ông Trần Duy H và bà Trịnh Quỳnh H1; địa chỉ: Thôn V, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; cùng vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 21/3/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP T (sau đây viết tắt là Ngân hàng) đều trình bày:

Ông Trần Duy H và bà Trịnh Quỳnh H1 vay vốn tại Ngân hàng theo Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô số 766/2021/HDTD/NQN/01 ngày 19/11/2021, Hợp đồng cho vay số 766/2021/HDTD/NQN/02 ngày 19/11/2021 và (các) khế ước nhận nợ, giải ngân cùng các văn bản tín dụng khác kèm theo.

Căn cứ vào Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô số 766/2021/HDTD/NQN/01 ngày 19/11/2021, Ngân hàng đã giải ngân cho ông Trần Duy H và bà Trịnh Quỳnh H1 02 lần, cụ thể như sau:

Lần 1 giải ngân theo Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô số 766/2021/HDTD/NQN/01 ngày 19/11/2021: Số tiền giải ngân: 600.000.000 đồng; mục đích vay để thanh toán công nợ tiền mua ô tô. Thời hạn vay: 48 tháng (từ ngày 22/11/2021 đến ngày 22/11/202). Lãi suất: linh hoạt trong thời hạn vay: Lãi suất áp dụng trong 03 tháng đầu tiên là 8,5%/năm; Lãi suất áp dụng từ tháng thứ tư trở đi: Lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng một lần và bằng lãi suất tiết kiệm 12 tháng* (VND) của Ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 4,5%/năm. Quá hạn: bằng 150% lãi suất trong hạn tại cùng thời điểm. Chậm trả: Bằng 10% tính trên số dư nợ lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, áp dụng khi Khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi vay theo quy định tại Hợp đồng này. Phí trả nợ trước hạn: Trong 03 năm đầu tiên: 3% * (nhân với) số tiền trả nợ trước hạn; Trong năm tiếp theo là 1% * (nhân với) số tiền trả nợ trước hạn. Lịch trả nợ: 05 Kỳ hạn; trả nợ lãi: 01 tháng/lần vào ngày 25; kỳ trả nợ gốc: Trả nợ nhiều lần theo lịch trả nợ do Ngân hàng gửi Khách hàng, định kỳ 01 tháng/lần.

Lần 2 theo Thông báo số 428/TBP-NQN ngày 12/12/2022: Số tiền giải ngân: 9.750.000 đồng. Mục đích vay: vay mua bảo hiểm vật chất cho chiếc xe ô tô có biển kiểm soát 15A-348.59. Thời hạn vay: 06 tháng (từ ngày 13/12/2022 đến ngày 13/06/2023). Lãi suất:Trong hạn: 18%/năm. Quá hạn: bằng 150% lãi suất trong hạn tại cùng thời điểm. Chậm trả: Bằng 10% tính trên số dư nợ lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, áp dụng khi Khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi vay theo quy định tại Hợp đồng này. Phí trả nợ trước hạn: Trong 03 năm đầu tiên: 3% * (nhân với) số tiền trả nợ trước hạn; Trong năm tiếp theo là 1% * (nhân với) số tiền trả nợ trước hạn. Lịch trả nợ: Kỳ hạn trả nợ lãi: 01 tháng/lần vào ngày 25; Kỳ trả nợ gốc: Trả nợ nhiều lần theo lịch trả nợ do Ngân hàng gửi Khách hàng, định kỳ 01 tháng/lần.

Căn cứ vào Hợp đồng cho vay số 766/2021/HDTD/NQN/02 ngày 19/11/2021, Ngân hàng đã giải ngân cho ông Trần Duy H và bà Trịnh Quỳnh H1 khoản vay như sau: Số tiền giải ngân: 20.000.000 đồng. Mục đích vay: Vay thanh toán bảo hiểm nhân thọ. Thời hạn vay: 48 tháng (từ ngày 22/11/2021 đến ngày 22/11/2025). Lãi suất: linh hoạt trong thời hạn vay: Lãi suất áp dụng trong 03 tháng đầu tiên là 12,5%/năm. Lãi suất áp dụng từ tháng thứ tư trở đi: Lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng một lần và bằng lãi suất tiết kiệm 12 tháng* (VND) của Ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 4,5%/năm. Quá hạn: bằng 150% lãi suất trong hạn tại cùng thời điểm. Chậm trả: Bằng 10% tính trên số dư nợ lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, áp dụng khi Khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi vay theo quy định tại Hợp đồng này. Phí trả nợ trước hạn: Trong khoảng thời gian 1/3 thời hạn cho vay: 3% * (nhân với) số tiền trả nợ trước hạn. Trong khoảng thời gian từ 1/3 đến 2/3 thời hạn cho vay: 2% * (nhân với) số tiền trả nợ trước hạn; Sau khoảng thời gian 2/3 thời hạn cho vay: miễn phí. Lịch trả nợ: Ngày đến hạn trả nợ cuối cùng: 22/11/2025; Kỳ hạn trả nợ lãi: 01 tháng/lần vào ngày 25; kỳ trả nợ gốc: Trả nợ nhiều lần theo lịch trả nợ do Ngân hàng gửi Khách hàng, định kỳ 01 tháng/lần.

Như vậy, tổng số tiền mà Ngân hàng đã giải ngân cho ông H và bà H1 là 629.750.000 đồng (Sáu trăm hai mươi chín triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ, ông H và bà H1 đã ký với Ngân hàng Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô số 766/2021/HDTD/NQN/01 ngày 19/11/2021 để thế chấp tài sản là:01 Xe ô tô nhãn hiệu Mercedes; số loại: C200; Màu Trắng, Biển kiểm soát: 15A-348.59, số khung: RLMWF4CX7FV000356; số máy: 27492030350998 cấp cho ông Trần Duy H theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 000619 do Phòng CSGT – Công an thành phố H ngày 17/11/2021.Quá trình thực hiện Hợp đồng, ông H và bà H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng kể từ thời điểm quá hạn. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần tạo điều kiện để ông H và bà H1 thực hiện đúng hợp đồng nhưng tới thời điểm hiện tại ông H và bà H1 vẫn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ theo các hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên. Tính đến hết ngày 23/8/2024, ông H và bà H1 còn nợ ngân hàng số tiền là: Nợ gốc: 513.055.256 đồng; Nợ lãi trong hạn: 95.728.686 đồng; Nợ lãi quá hạn 63.458.273 đồng;nợ lãi chậm trả 10.358.628 đồng.Tổng cộng là 682.600.843 đồng.Ngân hàng yêu cầu ông H, bà H1 phải thanh toán trả số nợ trên.Ông H, bà H1 tiếp tục phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất nợ quá hạn đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến ngày ông H và bà H1 thực tế thanh toán hết nợ cho Ngân hàng. Trong trường hợp ông H và bà H1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền nêu trên, thì yêu cầu phát mại tài sản thế chấp là 01 Xe ô tô nhãn hiệu Mercedes; số loại: C200; Màu Trắng, Biển kiểm soát: 15A-348.59, số khung: RLMWF4CX7FV000356; số máy: 27492030350998 cấp cho ông Trần Duy H theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 000619 do Phòng CSGT – Công an thành phố H ngày 17/11/2021.Trong trường hợp kê biên phát mại tài sản bảo đảm không đủ trả nợ, ông H và bà H1 có nghĩa vụ phải tiếp tục trả cho Ngân hàng phần nợ còn lại cho đến khi thực tế thanh toán hết nợ.

Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Trần Duy H trình bày: Thống nhất với phần trình bày của nguyên đơn về quan hệ tín dụng, thế chấp tài sản như Ngân hàng trình bày ở trên là đúng. Đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện trả nợ.

Bị đơn bà Trịnh Quỳnh H1 đến làm việc và không gửi đến Toà án ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và ý kiến về việc giải quyết vụ án. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Kiểm sát viên đề nghị Tòa án căn cứ vào các qui định của pháp luật chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bị đơn phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Kể từ ngày 23 tháng 8 năm 2024, bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp không trả được nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Bị đơn có địa chỉ ở xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng có thẩm quyền giải quyết vụ án và Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
  2. Về yêu cầu của nguyên đơn:

Căn cứ vào các hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ, bảng lịch trình trả nợ, sao kê quá trình trả nợ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa đã có đủ căn cứ xác định việc Ngân hàng yêu cầu bị đơn trả nợ của như trình bày ở trên là có căn cứ chấp nhận.

Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của Ngân hàng: Việc các bên thừa nhận bên vay có dùng tài sản là 01 Xe ô tô nhãn hiệu Mercedes; số loại: C200; Màu Trắng, Biển kiểm soát: 15A-348.59, số khung: RLMWF4CX7FV000356; số máy: 27492030350998 cấp cho ông Trần Duy H theo Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 000619 do Phòng CSGT – Công an thành phố H ngày 17/11/2021 là tình tiết sự kiện không phải chứng minh; căn cứ Điều 92 của BLTTDS, Tòa án công nhận đó là sự thật. Hợp đồng thế chấp tài sản đảm bảo về hình thức, trình tự, thủ tục, nội dung. Do vậy, yêu cầu của Ngân hàng về phát mại tài sản thế chấp ở trên trong trường hợp bên vay không trả được nợ là có căn cứ chấp nhận theo các điều 280, 292, 293, 299, 303, 317, 323, 463, 466 Bộ luật Dân sự; các điều 91 và 95 của Luật các Tổ chức tín dụng.

  1. Về án phí: Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại số tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng.

Các đương sự không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 26, 35, 39, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 280, 292, 293, 299, 303, 317, 323, 463, 466 Bộ luật Dân sự; Điều 91; Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử :

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần T như sau:

Ông Trần Duy H, bà Trịnh Quỳnh H1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần T tổng số tiền tính đến hết ngày 23 tháng 8 năm 2024 là : nợ gốc là 513.055.256 đồng; lãi trong hạn là 95.728.686 đồng; lãi quá hạn là 63.458.273 đồng; lãi chậm trả 10.358.628 đồng.Tổng cộng là 682.600.843 đồng.Cụ thể như sau:

  • - Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô số 766/2021/HDTD/NQN/01 ngày 19/11/2021: Nợ gốc là 487.491.926 đồng; lãi trong hạn là 92.239.982 đồng; lãi quá hạn là 57.899.436 đồng; lãi chậm trả 9.967.321 đồng.Tổng cộng là 647.598.665 đồng.
  • - Thông báo số 428/TBP-NQN ngày 12/12/2022: Nợ gốc là 9.750.000 đồng; lãi trong hạn là 439.952 đồng; lãi quá hạn là 3.797.291 đồng; lãi chậm trả 65.154 đồng. Tổng cộng là 14.052.397 đồng.
  • - Hợp đồng cho vay số 766/2021/HDTD/NQN/02 ngày 19/11/2021: Nợ gốc là 15.813.330 đồng; lãi trong hạn là 3.048.752 đồng; lãi quá hạn là 1.761.546 đồng; lãi chậm trả 326.153 đồng.Tổng cộng là 20.949.781 đồng.

Trường hợp ông Trần Duy H, bà Trịnh Quỳnh H1 không trả được nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần T thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần T có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại toàn bộ tài sản đã thế chấp để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm đã cam kết theo Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô số 766/2021/HDTD/NQN/01 ngày 19/11/2021 - bên thế chấp là ông H, bà H1Ngân hàng Thương mại Cổ phần T - bên nhận thế chấp. Tài sản thế chấp bao gồm quyền sở hữu 01 xe ô tô nhãn hiệu Mercedes; số loại: C200; Màu Trắng, Biển kiểm soát: 15A-348.59, số khung: RLMWF4CX7FV000356; số máy: 27492030350998 cấp cho ông Trần Duy H do Phòng CSGT – Công an thành phố H ngày 17/11/2021.

Khi phát mại tài sản, sau khi thanh toán hết các nghĩa vụ cho Ngân hàng nếu còn thừa sẽ được trả lại cho ông Trần Duy H, bà Trịnh Quỳnh H1, nếu thiếu thì ông Trần Duy H, bà Trịnh Quỳnh H1 phải có trách nhiệm tiếp tục thanh toán hết cho Ngân hàng. Khi phát mại tài sản ông Trần Duy H, bà Trịnh Quỳnh H1 được quyền ưu tiên mua tài sản phát mại.

Kể từ ngày 23 tháng 8 năm 2024, ông Trần Duy H, bà Trịnh Quỳnh H1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà hai bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô số 766/2021/HDTD/NQN/01 ngày 19/11/2021, Thông báo số 428/TBP-NQN ngày 12/12/2022, Hợp đồng cho vay số 766/2021/HDTD/NQN/02 ngày 19/11/2021, giấy nhận nợ cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

  1. Về án phí: Ông Trần Duy H, bà Trịnh Quỳnh H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 31.304.000 đồng.

Trả lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 14.800.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí đã nộp số 0008450 ngày 12 tháng 6 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện A, thành phố Hải Phòng.

  1. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  2. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND TP Hải Phòng;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Cục THADS huyện An Dương;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hồng Lý

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/DS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 23/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chap hop dong tin dung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger