Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 24/2024/HS-ST

Ngày: 23/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Thanh Quyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Giang

Ông Nguyễn Văn Trưởng

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Việt – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Trương Thành Tình – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Trí H, sinh năm 1996, tại thị xã L, tỉnh Hậu Giang; Nơi cư trú: ấp T, xã T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H1 (đã chết) và bà Đặng Ngọc T; bị cáo chưa có vợ con; Tiền sự, tiền án: Không; Nhân thân:

  • - Ngày 23/7/2015, Công an xã T, thị xã L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh nhau” theo Quyết định số 21/QĐ-XPHC, phạt số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng), chấp hành xong ngày 07/8/2015.
  • - Ngày 04/01/2016, Công an xã T, thị xã L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh nhau” theo Quyết định số 50/QĐ-XPHC, phạt tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng).Bị cáo chưa chấp hành xong.
  • - Ngày 28/4/2016, Ủy ban nhân dân xã T, thị xã L ra Quyết định số 246/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn/biện pháp quản lý tại gia đình, chấp hành xong ngày 28/10/2016.
  • - Ngày 06/10/2020, Công an xã T, thị xã L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh nhau” theo Quyết định số 20/QĐ-XPHC, phạt tiền 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Bị cáo chưa chấp hành xong.

Bị cáo Nguyễn Trí H bị bắt tạm giam từ ngày 11 tháng 5 năm 2024 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

  • - Dương Văn L, sinh năm 2004; Nơi cư trú: Ấp T, xã T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
  • - Dương Văn C, sinh năm 1986; Địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (có mặt).

Người làm chứng:

  • - Trương Bảo Q, sinh năm 1986 (vắng mặt).
  • - Nguyễn Văn Tựu E, sinh năm 1984 (vắng mặt).
  • - Trương Văn S, sinh năm 1982 (vắng mặt).
  • - Võ Văn X, sinh năm 1942 (vắng mặt).
  • - Nguyễn Văn N, sinh năm 1988 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ ngày 13/01/2024, Trương Bảo Q, Nguyễn Văn Tựu E, Dương Văn L đến nhà Võ Văn X (ngụ ấp T, xã T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang) để nhậu. Đến khoảng hơn 00 giờ, ngày 14/01/2024, Trương Văn S, Nguyễn Văn N, Nguyễn Trí H, Dương Văn C cũng đến nhà Võ Văn X để nhậu cùng.

Trong lúc nhậu, C đưa cho H mượn 200.000 đồng, H trả cho S 100.000 đồng. Sau đó, H, S, N rủ nhau đánh bài ăn tiền (bài binh 6 lá). Lúc này, giữa CH xảy ra cự cãi với nhau về số tiền 200.000 đồng, C yêu cầu H trả lại nhưng H không trả. H dùng tay phải cầm 01 cái chén bằng sứ có sẵn trên bàn nhậu đánh vào vùng mặt C thì được L can ngăn. Lúc này, H dùng tay trái câu ngang vùng cổ của L đè xuống bộ ván rồi dùng tay phải cầm lấy 01 cái chén bằng sứ (dùng để ăn cơm) đánh liên tục 02 đến 03 cái trúng vào vùng đầu của L gây thương tích nên L bỏ chạy, H đuổi theo. Lúc này, H lượm được 01 khúc cây gỗ hình vuông, dài khoảng 01 mét (không thu hồi được) đánh trúng vào người của C nhiều cái gây thương tích.

Ngày 14/01/2024 và 17/01/2024, Dương Văn LDương Văn C có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

* Tại Bản kết luận giám định pháp y số 38/KLTTCT-TTPY ngày 19/02/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh H đối với Dương Văn L kết luận(BL 109-110):

“1. Các kết quả chính:

- Đa vết sẹo phần mềm vùng đầu và khuỷu tay phải.

2. Kết luận:

2.1. Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định phần trăm tổn thương cơ thể trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định phần trăm tổn thương cơ thể của Dương Văn L tại thời điểm giám định: 11% (mười một phần trăm) áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

2.2. Tỷ lệ thương tích từng vết thương:

  • - 03 vết sẹo vùng đỉnh, thái dương trái gây tổn hại đến sức khỏe hiện tại là: 01% (một phần trăm).
  • - Vết sẹo trán, thái dương trái gây tổn hại đến sức khỏe hiện tại là: 06% (sáu phần trăm).
  • - Vết sẹo vùng chẩm trái gây tổn hại đến sức khỏe hiện tại là: 01% (Một phần trăm).
  • - Vết sẹo mặt ngoài khuỷa tay phải gây tổn hại đến sức khỏe hiện tại là: 01% (một phần trăm).

2.3. Cơ chế hình thành vết thương: 03 sẹo vùng đỉnh - thái dương trái, trán - thái dương trái, chẩm trái và khuỷu tay phải của ông Dương Văn L do vật tày có cạnh tác động trực tiếp gây nên.

2.4. Vật gây thương tích: 03 sẹo vùng đỉnh - thái dương trái, trán - thái dương trái, chẩm trái và khuỷu tay phải do vật tày có cạnh gây nên.

* Tại Bản kết luận giám định pháp y số 39/KLTTCT-TTPY ngày 19/02/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh H đối với Dương Văn C kết luận (BL 107-108):

“1. Các kết quả chính:

- Vết sẹo phần mềm vùng thái dương phải, má trái, cẳng tay trái.

- Biến đổi sắc tố da cánh tay trái và khuỷu tay trái.

2. Kết luận:

2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định phần trăm tổn thương cơ thể trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định phần trăm tổn thương cơ thể của Dương Văn C tại thời điểm giám định: 10% (mười phần trăm) áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

2.2. Tỷ lệ thương tích từng vết thương:

  • - Vết sẹo vùng thái dương phải gây tổn hại đến sức khỏe hiện tại là: 01% (một phần trăm).
  • - Vết sẹo má trái gây tổn hại đến sức khỏe hiện tại là: 03% (ba phần trăm).
  • - Vết sẹo trên vai trái gây tổn hại đến sức khỏe hiện tại là: 02% (hai phần trăm).
  • - Biến đổi sắc tố da mặt trước ngoài 1/3 giữa cánh tay trái gây tổn hại đến sức khỏe hiện tại là: 01% (một phần trăm).
  • - Vết sẹo mặt sau 1/3 giữa cẳng tay trái gây tổn hại đến sức khỏe hiện tại là: 02% (hai phần trăm).
  • - Biến đổi sắc tố da mặt sau khuỷu tay trái gây tổn hại đến sức khỏe hiện tại là: 01% (một phần trăm).

2.3. Cơ chế hình thành vết thương:

  • - Vết sẹo thái dương phải, má trái, bả vai trái, cẳng tay trái do vật tày có cạnh tác động trực tiếp gây nên.
  • - Biến đổi sắc tố da mặt trước ngoài 1/3 giữa cánh tay trái và mặt sau khuỷu tay trái do vật tày gây nên.

2.4. Vật gây thương tích:

  • - Vết sẹo thái dương phải, má trái, bả vai trái, cẳng tay trái do vật tày có cạnh gây nên.
  • - Biến đổi sắc tố da mặt trước ngoài 1/3 giữa cánh tay trái và mặt sau khuỷu tay trái do vật tày gây nên.

Tại cáo trạng số 29/CT-VKS-TXLM, ngày 19/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Trí H ra trước Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang để xét xử về “Tội cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c, đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sửa đổi, bổ sung một phần truy tố, theo đó rút yêu cầu (một phần quyết định) truy tố bị cáo Nguyễn Trí H tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đồng thời bổ sung tình tiết định khung tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm c khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), bổ sung tình tiết “Có tính chất côn đồ” và giữ nguyên tình tiết “Dùng hung khí nguy hiểm”. Như vậy, tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử truy tố bị cáo Nguyễn Trí H về “Tội cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c “Phạm tội 02 lần trở lên” và điểm đ “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này” khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), với 02 tình tiết là “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ”.

Áp dụng điểm c, đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo

Nguyễn Trí H từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11 tháng 5 năm 2024.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy nhiều mảnh vỡ chén sứ có trọng lượng 165 gam.

Bị hại Dương Văn LDương Văn C cùng có ý kiến: Các bị hại không yêu cầu trách nhiệm dân sự đối với bị cáo, về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo đúng quy định pháp luật.

Lời sau cùng của bị cáo Nguyễn Trí H: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa sơ thẩm những người làm chứng Trương Bảo Q, Nguyễn Văn Tựu E, Trương Văn S, Võ Văn X, Nguyễn Văn N vắng mặt. Xét thấy, trong quá trình điều tra, truy tố những người này đã có lời khai. Căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trí H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, những người tham gia tố tụng khác, kết luận giám định thương tích và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã thể hiện: Xuất phát từ việc bị hại Dương Văn C đòi số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) mà bị cáo Nguyễn Trí H đã mượn nên vào khoảng hơn 00 giờ ngày 14/01/2024, bị cáo H đã dùng tay phải cầm 01 cái chén bằng sứ (dùng để ăn cơm) có sẵn trên bàn nhậu đánh trúng vào vùng mặt của C. Thấy bị cáo Nguyễn Trí H đánh Dương Văn C thì bị hại Dương Văn L (là cháu ruột của Dương Văn C) vào can ngăn. Lúc này, bị cáo H dùng tay trái câu ngang cổ, đè bị hại L xuống bộ ván rồi dùng tay phải cầm lấy 01 cái chén bằng sứ (dùng để ăn cơm) đánh liên tục 02 đến 03 cái trúng vào vùng đầu của L. Lúc này, bị cáo H nhặt 01 khúc cây gỗ hình vuông, dài khoảng 01 mét (không thu hồi được) tiếp tục đánh bị hại Chọn nhiều cái.

Hậu quả, gây tổng tỷ lệ thương tích tổn hại đến sức khỏe hiện tại đối với Dương Văn C là 10% (mười phần trăm); gây tổng tỷ lệ thương tích tổn hại đến sức khỏe hiện tại đối với Dương Văn L là 11% (mười một phần trăm).

Xét về điều kiện thời tiết, ánh sáng tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi trong điều kiện bình thường, địa điểm thực hiện hành vi không bị che khuất. Thời gian thực hiện hành vi một cách liên tục.

Xét về mục đích, động cơ: Về ý chí chủ quan khi thực hiện hành vi, bị cáo không có ý thức chủ quan là tước đi tính mạng của các bị hại. Nhưng hành vi của bị cáo xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ nhặt, hành động coi thường pháp luật, sẵn sàng dùng vũ lực để đáp trả lại việc bị hại đòi số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) mà bị cáo đã mượn.

Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Trí H đã phạm vào “Tội cố ý gây thương tích”, phạm tội 02 lần trở lên, dùng hung khí nguy hiểm và có tính chất côn đồ. Do đó, cáo trạng số 29/CT-VKS-TXLM, ngày 19/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo Nguyễn Trí H về “Tội cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c, đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với các tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên”, “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ” là có căn cứ.

[4] Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo:

Hội đồng xét xử nhận định, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần phải có mức án vừa răn đe, vừa giáo dục, phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã 03 lần bị xử phạt vi phạm hành chính cùng hành vi đánh nhau và 01 lần bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn/biện pháp quản lý tại gia đình. Trong đó, bị cáo đã chấp hành xong Quyết định số 21/QĐ-XPHC, còn các Quyết định số 50/QĐ-XPHC, Quyết định số 20/QĐ-XPHC bị cáo chưa chấp hành nộp tiền phạt, nhưng đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt hành chính nhưng người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt không theo dõi, đôn đốc, không có bất kỳ biện pháp nào buộc người bị xử phạt phải chấp hành quyết định. Tuy nhiên, điều này cũng thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo chưa tốt.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra bị cáo chưa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, không thừa nhận hành vi phạm tội, không có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan điều tra, không ký tên, điểm chỉ vào biên bản lấy lời khai, gây khó khăn cho quá trình điều tra, bị cáo chỉ thừa nhận hành vi của mình khi cơ quan điều tra bắt bị cáo để tạm giam. Tuy nhiên, tại phiên tòa, bị cáo cũng đã

thừa nhận hành vi phạm tội. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cần áp dụng cho bị cáo nhưng việc thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải của bị cáo có mức độ.

[6] Từ những nhận định trên, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, lời luận tội của Kiểm sát viên, ý kiến của người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Dương Văn C, Dương Văn L không yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo, bị hại cũng thống nhất việc đề nghị xử lý vật chứng của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về xử lý vật chứng.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

[10] Đối với hành vi đánh bài ăn thua bằng tiền của Nguyễn Trí H, Trương Văn SNguyễn Văn N, kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã L tiếp tục làm rõ và xử lý theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm c, đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trí H phạm “Tội cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trí H 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 11 tháng 5 năm 2024.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Trí H 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày 23 tháng 8 năm 2024 để đảm bảo thi hành án.

[2] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Dương Văn C, Dương Văn L không yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

[3] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: Nhiều mảnh chén sứ bị vỡ, có trọng lượng 165 gam.

(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 06/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã L và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ).

[4] Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Trí H phải nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Trí H, bị hại Dương Văn L, Dương Văn C có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 23/8/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND tỉnh Hậu Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND thị xã Long Mỹ;
  • - Công an thị xã Long Mỹ;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Châu Thanh Quyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 24/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang về hình sự - tội cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 24/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Nguyễn Trí H 3 năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger