TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH Bản án số: 23/2024/HNGĐ-PT Ngày: 23 tháng 7 năm 2024 V/v: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình" | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Tuyết Mai
Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Hữu Minh
2. Ông Nguyễn Văn Tính
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Lành - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Thân Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2023/TLPT- HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 42/2023/HNGĐ- ST ngày 06 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 32/2024/QĐPT-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1984; HKTT: Thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Hiện trú tại: Thôn 1, xã S, huyện G, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị H: Bà Nguyễn Thị T – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Bắc Ninh. Có mặt;
Bị đơn: Anh Nguyễn Vinh V, sinh năm 1981; HKTT: Thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh V: Luật sư Phạm Quốc V1, Công ty L; địa chỉ: Xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt;
Người kháng cáo: Anh Nguyễn Vinh V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau:
* Nguyên đơn chị Vũ Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Vinh V tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 24/02/2005 tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng bố mẹ chồng đến năm 2011 thì ra ở riêng. Cuộc sống vợ chồng hòa thuận được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong làm ăn kinh tế. Anh V thường xuyên đánh đập, chửi mắng chị và các con, khiến chị nhiều lần bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở nhưng sau đó chị đã tha thứ để vợ chồng đoàn tụ nuôi dậy con chung.
Tuy nhiên, anh V không thay đổi mà vẫn đánh đập, xúc phạm chị. Ngày 04/5/2023, do không chịu đựng được, chị đã mang theo 02 con chung là cháu Q và cháu M về nhà bố mẹ đẻ ở huyện G, tỉnh Bắc Ninh sinh sống. Vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay, chị xác định tình cảm không còn nên đề nghị được ly hôn anh V.
Con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Nguyễn Thị Q1, sinh ngày 23/11/2006; cháu Nguyễn Thị Trà M1, sinh ngày 01/11/2011 và cháu Nguyễn Vinh Đ, sinh ngày 6/8/2015. Hiện nay cháu Q1 và cháu M1 đang ở cùng với chị, còn cháu Đ đang ở với anh V. Khi ly hôn chị xin nuôi cháu M1 và cháu Đ. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tài sản chung: Vợ chồng có thửa đất số 288, tờ bản đồ 18 diện tích 276m² tại thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh đất đứng tên vợ chồng chị (viết tắt là thửa đất số 288), cùng toàn bộ tài sản trên đất, chị xác định đây là tài sản chung vợ chồng nên đề nghị Tòa án chia tài sản theo pháp luật.
Trường hợp phải chia tài sản: Chị có nguyện vọng nhận phần đất trống, còn phần đất có ngôi nhà trên đất thì giao cho anh V và anh V phải trích trả cho chị giá trị chênh lệch, chị sẽ về sống cùng bố mẹ chị.
Về công nợ: Không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Nguyễn Vinh V trình bày: Anh xác nhận trình tự, thời gian kết hôn như chị H trình bày là đúng. Anh cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn, nhiều lần chị H bỏ về nhà bố mẹ đẻ nhưng đó cũng chỉ là những mâu thuẫn, xích mích nhỏ trong cuộc sống. Anh xác định vẫn còn tình cảm với chị H nên anh không đồng ý ly hôn. Anh đề nghị Tòa án hoà giải để vợ chồng đoàn tụ, trường hợp nếu chị H nhất quyết xin ly hôn thì anh đồng ý.
Con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Nguyễn Thị Q1, sinh ngày 23/11/2006; cháu Nguyễn Thị Trà M1, sinh ngày 01/11/2011 và cháu Nguyễn Vinh Đ, sinh ngày 6/8/2015. Hiện nay cháu Q1 và cháu M1 đang ở cùng với chị H, cháu Đ đang ở với anh. Anh không đồng ý ly hôn nên không đề nghị Tòa án giải quyết về con chung. Trường hợp phải ly hôn thì anh xin được nuôi cả 03 con chung và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung: Anh xác định vợ chồng có tài sản chung là tài sản nằm trên thửa đất số 288, gồm có 01 nhà 02 tầng, tum và công trình tạm do vợ chồng xây, khi ly hôn anh đồng ý chia những tài sản trên. Đối với thửa đất số 288 mặc dù đứng tên vợ chồng anh nhưng không phải là do vợ chồng mua mà nguồn gốc là do của bố mẹ anh cho riêng anh. Do vậy khi ly hôn anh đề nghị vợ chồng phải trả đất cho bố mẹ và không đồng ý chia đất.
Về công nợ: Không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Ngoài ra anh không có ý kiến yêu cầu gì khác.
Với nội dung trên, Tòa án nhân dân huyện Tiên Du đã căn cứ các Điều 33, 51, 56, 58, 59, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147, 235, 262, 264, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án; Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Vũ Thị H được ly hôn anh Nguyễn Vinh V.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Thị Q1, sinh ngày 23/11/2006 và cháu Nguyễn Thị Trà M1, sinh ngày 01/11/2011 cho chị Vũ Thị H chăm sóc và nuôi dưỡng; Giao cháu Nguyễn Vinh Đ, sinh ngày 06/8/2015 cho anh Nguyễn Vinh V trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Hai bên được quyền đi lại thăm nom con chung. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về tài sản chung: Xác nhận thửa đất số 288, tờ bản đồ 18 diện tích 276 m² tại thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh cùng toàn bộ tài sản trên đất là tài sản chung của chị H và anh V.
+ Chia cho anh Nguyễn Vinh V được quản lý, sử dụng phần đất có diện tích 128,5m² tại thửa đất số 288 được giới hạn bởi các điểm (1,A,B,4), đất có tứ cận như sau: Cạnh Bắc giáp thửa đất số 289 của gia đình ông Nguyễn Vinh B có chiều dài 5,1m, Nam giáp đường làng, Tây giáp nhà bà Trần Thị K và bà Nguyễn Thị D, Đ1 giáp thửa đất chia cho chị H. Anh V được sở hữu: 01 ngôi nhà 02 tầng và các tài sản trên diện tích đất được chia.
+ Chia cho chị Vũ Thị H được quản lý, sử dụng phần đất có diện tích 147,5m² tại thửa đất số 288 được giới hạn bởi các điểm (A,2,3,B), đất có tứ cận như sau: Cạnh phía Nam giáp đường làng, Đ1 và B1 giáp thửa đất nhà ông Nguyễn Vinh B, Tây giáp nhà đất chia cho anh V, chị H được sử dụng toàn bộ các tài sản trên thửa đất được chia.
(Có sơ đồ phân chia đất và các tài sản trên đất kèm theo).
Các đương sự có quyền liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục, điều chỉnh, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Chị H có nghĩa vụ trích trả cho anh V giá trị tài sản chênh lệch là 10.356.000 đồng.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên án phí, lệ phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 08/9/2023, anh Nguyễn Vinh V kháng cáo bản án sơ thẩm về phần tài sản. Anh V cho rằng phần đất ở là tài sản bố mẹ tặng cho riêng anh, không phải là tài sản chung vợ chồng nên không đồng ý chia cho chị H 45% giá trị tài sản.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án như sau:
- Xác nhận thửa đất số 288, tờ bản đồ 18 diện tích 276m² tại thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh cùng toàn bộ tài sản trên đất là tài sản chung của chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Vinh V.
- Giao cho anh V được hưởng 60% giá trị tài sản và sử dụng phần đất trống. Giao cho chị H được hưởng 40% giá trị tài sản và sử dụng phần đất có nhà. Tài sản trên đất của bên nào thì giao cho bên đó sử dụng.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự, quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 300, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Toà án: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự; sửa một phần bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, kết quả tranh tụng tại phiên tòa:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của anh Nguyễn Vinh V được nộp trong hạn luật định, có nội dung phù hợp và đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Vinh V tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T năm 2005, Vũ Thị Thu H1 tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật được quy định tại các Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình, nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình chung sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Bản án sơ thẩm xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, quá trình vợ chồng sống ly thân anh V không đồng ý ly hôn nhưng không đưa ra được biện pháp hàn gắn quan hệ vợ chồng nên đã xử cho chị H được ly hôn anh V là phù hợp.
[3] Xét kháng cáo của anh Nguyễn Vinh V về tài sản thì thấy:
Nguồn gốc thửa đất số 288 là của bố mẹ anh V, năm 2011 tặng cho anh V, nhưng sau đó thửa đất được kê khai và được cấp giấy chứng nhận QSDĐ mang tên anh Nguyễn Vinh V và chị Vũ Thị H. Căn cứ giấy chứng nhận QSDĐ đã cấp thì có căn cứ xác nhận thửa đất số 288 là của anh V và chị H.
Tại phiên tòa phúc thẩm, chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Vinh V thỏa thuận về việc chia tài sản. Xét thấy việc thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
- Xác nhận thửa đất số 288, tờ bản đồ 18, diện tích 276m² tại thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh cùng toàn bộ tài sản trên đất trị giá 4.081.043.000 đồng là tài sản chung của chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Vinh V. Chia cho chị H 40% giá trị tài sản là 1.632.417.200đ, chia cho anh V 60% giá trị tài sản là 2.448.625.800₫.
- Chia cho Vũ Thị H được quản lý, sử dụng phần đất có diện tích 128,5m² thuộc thửa đất số 288, tờ bản đồ 18, diện tích 276m² tại thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh được giới hạn bởi các điểm 1-A-B-4-5-1, đất có tứ cận: Cạnh Bắc dài 5,10m giáp thửa đất số 289 của gia đình ông Nguyễn Vinh B; cạnh Nam dài 5,10m giáp đường làng; cạnh Tây dài 16,02m và 8,98m giáp nhà bà Trần Thị K và bà Nguyễn Thị D; cạnh Đông dài 25,00m giáp thửa đất chia cho anh V. Chị H được sở hữu: 01 ngôi nhà 02 tầng và các tài sản trên đất được chia có tổng trị giá là 2.234.217.000 đồng.
- Chia cho anh Nguyễn Vinh V được quản lý, sử dụng phần đất có diện tích 147,5m² thuộc thửa đất số 288, tờ bản đồ 18 diện tích 276m² tại thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh được giới hạn bởi các A-2-3-B-A, đất có tứ cận: Cạnh Nam dài 5,90m giáp đường làng; cạnh Đông dài 25,00m và cạnh Bắc dài 5,90m giáp thửa đất nhà ông Nguyễn Vinh B; cạnh Tây dài 25,00m giáp nhà đất chia cho chị H. Anh V được sở hữu toàn bộ tài sản trên thửa đất được chia gồm: 01 mái vẩy lợp tôn, 01 sân lát bằng xi măng, 01 lều quán bán tạp hóa, 01 sân lát bằng gạch và 01 cửa bằng tôn, có tổng giá trị là 1.846.825.400 đồng. (Có sơ đồ phân chia đất và các tài sản trên đất kèm theo).
Chị Vũ Thị H trả anh Nguyễn Vinh V tiền chênh lệch tài sản là 601.800.400₫ (Sáu trăm linh một triệu tám trăm nghìn bốn trăm đồng).
Các đương sự có quyền liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục chỉnh lý, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Án phí: Chị H là người khuyết tật nên được miễn án phí chia tài sản theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Giảm ½ án phí chia tài sản cho anh V. Do sửa bản án sơ thẩm nên anh Nguyễn Vinh V không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 300, Điều 148 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015: Sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Vinh V về tài sản như sau:
- Xác nhận thửa đất số 288, tờ bản đồ 18 diện tích 276m² tại thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh cùng toàn bộ tài sản trên đất trị giá 4.081.043.000 đồng là tài sản chung của chị Vũ Thị H và anh Nguyễn Vinh V.
- Chia cho chị Vũ Thị H được quản lý, sử dụng phần đất có diện tích 128,5m² thuộc thửa đất số 288, tờ bản đồ 18 tại thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh được giới hạn bởi các điểm 1-A-B-4-5-1, đất có tứ cận: Cạnh Bắc dài 5,10m giáp thửa đất số 289 của gia đình ông Nguyễn Vinh B; cạnh Nam dài 5,10m giáp đường làng; cạnh Tây dài 16,02m và 8,98m giáp nhà bà Trần Thị K và bà Nguyễn Thị D; cạnh Đông dài 25,00m giáp thửa đất chia cho anh V. Chị H được sở hữu: 01 ngôi nhà 02 tầng và các tài sản trên phần đất được chia.
- Chia cho anh Nguyễn Vinh V được quản lý, sử dụng phần đất có diện tích 147,5m² thuộc thửa đất số 288, tờ bản đồ 18 tại thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh được giới hạn bởi các điểm A-2-3-B-A, đất có tứ cận: Cạnh Nam dài 5,90m giáp đường làng; cạnh Đông dài 25,00m và cạnh Bắc dài 5,90m giáp thửa đất nhà ông Nguyễn Vinh B; cạnh Tây dài 25,00m giáp nhà đất chia cho chị H. Anh V được sở hữu toàn bộ tài sản trên thửa đất được chia.
(Có sơ đồ phân chia đất và các tài sản trên đất kèm theo bản án).
Chị Vũ Thị H có nghĩa vụ trả anh Nguyễn Vinh V số tiền chênh lệch tài sản là 601.800.000₫ (Sáu trăm linh một triệu tám trăm nghìn đồng).
Các đương sự có quyền liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục chỉnh lý, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Án phí: Miễn án phí chia tài sản cho chị Vũ Thị H. Anh Nguyễn Vinh V phải chịu án phí chia tài sản là 40.486.000đ.
Anh Nguyễn Vinh V không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả anh V 300.000₫ đã nộp tại Biên lai số AA/2021/0002555 ngày 08/9/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Tuyết Mai |
Bản án số 23/2024/HNGĐ-PT ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 23/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
