|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 23/2024/HSPT Ngày 23-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Bình
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thị Kim Hồng
Ông Lưu Anh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Tạ Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 25/2024/TLPT-HS ngày 26 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Lương Hữu M do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 12/2024/HS-ST ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai.
* Bị cáo có kháng cáo: Lương Hữu M, sinh ngày 05 tháng 9 năm 1980 tại tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn 1, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Hữu M1 và bà Trần Thị N, bị cáo có vợ là Dương Thị L và có 02 người con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
* Bị hại có kháng cáo: Bà Trần Thị Thu H, sinh năm: 1976; địa chỉ: Thôn I, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Lương Hữu M: Ông Phạm Ngọc Q – Luật sư Công ty TNHH MTV Q1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh G. Có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Đặng Ngọc B – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh G. Có mặt.
- Người làm chứng: Bà Dương Thị L, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn I, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 30 ngày 29/6/2023, bà Trần Thị Thu H và chồng là ông Nguyễn Văn T đến nhà của bị cáo Lương Hữu M, trú cùng thôn I, xã L, huyện Đ, tỉnh Gia Lai để yêu cầu bị cáo thanh toán tiền công làm thuê của ông T và con trai nuôi bà H. Khi đến nhà bị cáo, ông T đứng ngoài sân, còn bà H đi vào bên trong nhà. Lúc này, gia đình bị cáo đang ngồi ăn cơm tại phòng khách cùng với các ông Nguyễn Văn B1, ông Nguyễn Văn N1 và ông Đỗ Văn B2 là khách của bị cáo, thì bà H đi đến ngồi cạnh bị cáo yêu cầu bị cáo trả tiền, trong lúc tính tiền công thì bị cáo và bà H đã xảy ra cãi vã, lời qua tiếng lại với nhau, bị cáo yêu cầu bà H đi về để mai sẽ tính lại nhưng bà H không đồng ý mà yêu cầu phải thanh toán luôn. Do bực tức với lời nói của bà H, bị cáo đã nhặt chiếc chén (bát) bằng sứ ở dưới chiếu dùng để ăn cơm đánh một cái trúng vào vùng má bên phải của bà H gây thương tích. Nghe ồn ào, bà Dương Thị L vợ bị cáo chạy đẩy bà H ra sân, bà H cầm một chiếc bát khác ném về phía bà L nhưng không trúng. Khi ra khỏi cổng, bà H cầm viên gạch (loại gạch 06 lô) ném vào sân nhà bị cáo nhưng không trúng ai, bà Lý n lại ném bà H nhưng cũng không trúng; bà H và bà L ra ngoài đường có lời qua tiếng lại, giằng co, xô đẩy nhau. Lúc này bị cáo, ông T và anh H1 con bị cáo đi đến can ngăn. Sau đó, gia đình bị cáo vào nhà, còn ông T chở bà H đi về.
Vụ việc được bà H đến Công an xã I, huyện Đ trình báo. Công an xã I đã thụ lý tin báo, xác minh ban đầu và chuyển hồ sơ cho Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền. Quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
* Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số:435 ngày 25/8/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh G đối với bà Trần Thị Thu H, đã kết luận:
- Các kết quả chính:
- 01 sẹo vết thương phần mềm vùng má phải.
- 01 sẹo vết thương phần mềm mặt trước cổ phải.
- 01 sẹo vết thương phần mềm đường giữa đòn trái khoảng gian sườn 2.
- Kết luận:
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giảm định pháp y tâm thân, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Thị Thu H tại thời điểm giám định là 6% (Sáu phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Kết luận khác:
- + Cơ chế hình thành vết thương: Do sự tác động trực tiếp.
- + Vật gây thương tích: Phù hợp với sự tác động của vật tày có cạnh. Do vậy, vật được Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ trưng cầu là hai viên gạch và những mảnh sứ đã bị vỡ từ chén, bát đều là vật phù hợp có thể gây ra thương tích nêu trên.
Ngày 12/9/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ ra quyết định khởi tố vụ án và ngày 09/10/2023 ra Quyết định khởi tố bị can đối với Lương Hữu M về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận tội.
- Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:
Tại bản án hình sơ thẩm số 12/2024/HS-ST ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Lương Hữu M phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Lương Hữu M 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng; nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
- Kháng cáo của bị cáo:
Ngày 05/02/2024, bị cáo Lương Hữu M kháng cáo về phần hình phạt, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Ngày 07/02/2024, bị hại bà Trần Thị Thu H kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo và yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xác minh xử lý hình sự hoặc xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Dương Thị L.
- Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo rút toàn bộ nội dung kháng cáo.
Bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt và đồng thời có đơn đề nghị rút yêu cầu khởi tố đối với bị cáo Lương Hữu M.
Người bào chữa cho bị cáo và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại đề nghị hội đồng xét xử xem xét đơn đề nghị rút yêu cầu khởi tố của bị hại và thỏa thuận giữa bị cáo với bị hại để hủy bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ và đình chỉ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 155 và Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, hủy bản án hình sự sơ thẩm số 12/2024/HSST ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai và đình chỉ vụ án hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng cũng như bản án sơ thẩm đã tuyên và phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[2] Về việc rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của bị hại bà Trần Thị Thu H:
Xét thấy, bà Trần Thị Thu H là người bị hại trong vụ án có bị cáo Lương Hữu M bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự, vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại. Sau khi Tòa án cấp sơ thẩm xét xử, bà H đã có đơn xin rút đơn yêu cầu khởi tố và xác nhận việc rút yêu cầu khởi tố này là hoàn toàn tự nguyện. Bên cạnh đó, bà H cũng xác nhận bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bà và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Căn cứ Điều 155 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và hướng dẫn tại công văn số 254/TANDTC-PC ngày 26 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tối cao về việc người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu theo quy định tại Điều 155 của Bộ luật tố tụng hình sự: Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án hình sự sơ thẩm số 12/2024/HSST ngày 31/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai và đình chỉ vụ án hình sự.
[3] Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Bị cáo M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; bị cáo M không phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm, phúc thẩm.
Bị hại bà Trần Thị Thu H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 2 Điều 155 và Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 12/2024/HS-ST ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai và đình chỉ vụ án hình sự thụ lý số 25/2024/TLPT-HS ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
- Bị cáo Lương Hữu M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Bị cáo Lương Hữu M không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và phúc thẩm.
- Bị hại bà Trần Thị Thu H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên toà Võ Văn Bình |
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Võ Văn Bình |
Bản án số 23/2024/HSPT ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 23/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hủy BAHSST
