ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 24/2024/HSST Ngày 23/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Trưởng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Dũng và ông Hoàng Văn Thành.
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
Nguyễn Trung K, sinh năm 1978, tại tỉnh Hà Nam. Nơi cư trú: Số nhà A, đường T, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Trưởng phòng kinh doanh số 1 Công ty B; trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Đảng, đoàn thể: Đảng viên (Đã đình chỉ sinh hoạt đảng); con ông: Nguyễn Sơn C và bà Vũ Thị L; vợ: Chị Trần Thị Kim H; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh ngày 30/11/2023; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/10/2023 đến ngày 19/01/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn C1 đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.
Phạm Quốc L1, sinh năm 1985, tại tỉnh Nam Định. Nơi cư trú: Xóm S, xã H, huyện G, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Nguyên cán bộ Phòng kinh doanh số 1 Công ty B; trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Đảng, đoàn thể: Không; con ông: Phạm Quang Đ và bà Hoàng Thị T; vợ: Chị Phạm Thị Hồng C2, sinh năm 1983 (Đã ly hôn); con: 01 con sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/01/2024 đến ngày 12/01/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn C1 đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Tổng Công ty B1, đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Xuân V, tổng giám đốc; đại diện theo uỷ quyền: Ông Dương Thành Q; chức vụ: Giám đốc Ban kiểm soát tuân thủ - Pháp chế, địa chỉ: Số G, đường L, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Xin xử vắng mặt
- Người làm chứng: Ông Lê Minh T1, chị Trần Thị Hòa L2 và ông Nguyễn Sơn C, đều xin xử vắng mặt; chị Vũ Thị P, anh Nguyễn Việt C3, chị Phạm Thị H1 và chị Nguyễn Thị Thu P1, đều vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tổng Công ty B1 là Công ty TNHH một thành viên Đ1 thành lập và hoạt động theo Giấy phép thành lập và hoạt động số 45GP/KDBH ngày 23/11/2007, Giấy phép điều chỉnh số 45/GPĐC15/KDBH ngày 29/3/2019 của Bộ T3. Công ty B là đơn vị kinh doanh nằm trong cơ cấu của Tổng Công ty B1. Công ty B có Phòng kế toán nghiệp vụ, Phòng hướng dẫn và các Phòng kinh doanh bảo hiểm được giao bán bảo hiểm và chi trả tiền hoa hồng, tiền hỗ trợ đại lý theo Quyết định số 45/QĐ/GĐ-2010 ngày 26/02/2010 của Giám đốc Công ty B quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và quản lý tài chính.
Phòng kinh doanh số 1 của Công ty B do Nguyễn Trung K làm Trưởng phòng và các nhân viên, trong đó có Phạm Quốc L1, sinh năm 1985; Nguyễn Thị Thu P1, sinh năm 1995, trú tại xã Đ, huyện B; Phạm Thị H1, sinh năm 1985, trú tại phường L, thành phố P chịu trách nhiệm quản lý 25 đại lý bảo hiểm. Theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, Thông tư số 50/2017/TT-BTC ngày 15/5/2017 của Bộ T3 thì các đại lý tham gia khai thác bán bảo hiểm được hưởng tiền hoa hồng, tiền hỗ trợ từ 10% đến 15% trên phí bảo hiểm thực tế thu được của từng hợp đồng bảo hiểm đã bán; cán bộ của Công ty B trực tiếp khai thác, bán bảo hiểm; khách hàng mua bảo hiểm không được hưởng tiền hoa hồng, tiền hỗ trợ đại lý.
Qua theo dõi đại lý, Nguyễn Trung K thấy hoạt động không hiệu quả nên K đã trực tiếp bán bảo hiểm cho khách hàng, để thu hút khách hàng mua bảo hiểm, tăng doanh thu, tăng sức cạnh tranh tăng uy tín thành tích thi đua cá nhân nên khi trực tiếp ký hợp đồng bán bảo hiểm cho khách hàng, Nguyễn Trung K đã tự ý thỏa thuận chiết khấu cho khách hàng từ 10% đến 15% mức phí bảo hiểm theo hợp đồng đã ký. Trường hợp K trực tiếp thu tiền phí bảo hiểm từ khách hàng thì sẽ chiết khấu luôn cho khách hàng; trường hợp khách hàng chuyển khoản trực tiếp về Công ty thì chuyển toàn bộ mức phí theo hợp đồng và K tự ứng trước tiền của mình để trả tiền chiết khấu cho khách hàng như thỏa thuận. Để hợp pháp hóa số tiền trích lại cho khách hàng, K nhập lên hệ thống của Tổng Công ty B1 những hợp đồng này vào mục hợp đồng của một số đại lý để thanh toán tiền hoa hồng, tiền hỗ trợ gồm đại lý của chị Vũ Thị P, địa chỉ phường L, TP P, tỉnh Hà Nam; đại lý của chị Trần Thị Hòa L2, địa chỉ phường V, TP N, tỉnh Nam Định; đại lý của anh Nguyễn Việt C3, địa chỉ Đ, TP P, tỉnh Hà Nam. Cụ thể:
Từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2021, Nguyễn Trung K đã kê khai chuyển 129 hợp đồng do bản thân K trực tiếp ký bán bảo hiểm vào đại lý Vũ Thị P để thanh toán tiền hoa hồng, tiền hỗ trợ đại lý số tiền 239.666.240 đồng; chuyển 142 hợp đồng vào đại lý Trần Thị Hòa L2 để thanh toán tiền hoa hồng, tiền hỗ trợ đại lý số tiền 308.673.200 đồng; chuyển 104 hợp đồng vào đại lý Nguyễn Việt C3 để thanh toán tiền hoa hồng, tiền hỗ trợ đại lý số tiền 143.684.800 đồng và chỉ đạo Phạm Thị H1, Nguyễn Thị Thu P1 lập 373 Phiếu thanh toán hoa hồng bảo hiểm và chi phí hỗ trợ đứng tên 03 đại lý trên để thanh toán tổng số tiền là 692.024.240 đồng K đã chiết khấu cho khách hàng không đúng quy định.
Phạm Quốc L1 là cán bộ của Phòng kinh doanh bảo hiểm số 01, trực tiếp quản lý đại lý Vũ Thị P. Khi Nguyễn Trung K chuyển các hợp đồng do mình trực tiếp bán vào các đại lý Vũ Thị P, đại lý Trần Thị Hòa L2 để thanh toán tiền hoa hồng trái quy định, K có nói cho L1 biết các Hợp đồng bảo hiểm trên là do K trực tiếp bán. Phạm Quốc L1 đã giúp K ký vào mục “người giao tiền” trên 57 Phiếu thanh toán cho đại lý Vũ Thị P, Trần Thị Hòa L2 với tổng số tiền hoa hồng, tiền hỗ trợ là 101.160.740 đồng. Nguyễn Trung K ký duyệt dưới mục “lãnh đạo duyệt thanh toán” với 373 Phiếu thanh toán hoa hồng bảo hiểm và chi phí hỗ trợ đại lý rồi chuyển về Phòng kế toán tổng hợp lập Phiếu chi và trình ông Lê Minh T1 - Giám đốc Công ty B duyệt chi. Sau đó K trực tiếp lĩnh tiền từ bộ phận kế toán hoặc nhờ nhân viên nhận tiền rồi đưa lại cho K.
Quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm là trái quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 và Thông tư số 50/2017/TT-BTC ngày 15/5/2017 của Bộ T3, Nguyễn Trung K và Phạm Quốc L1 bị tố cáo đến Cơ quan điều tra tiến hành điều tra theo quy định của pháp luật.
Ngày 12/9/2023, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh H đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 145/QĐ-VPCQCSĐT trưng cầu Phòng K1 - Công an tỉnh H giám định chữ viết, chữ ký tại mục “Lãnh đạo duyệt thanh toán”, “Đại lý”, “Người lập”, “Người giao tiền” trên 228 Phiếu chi; 373 Phiếu thanh toán hoa hồng bảo hiểm và chi phí hỗ trợ đại lý bằng tiền.
Tại Bản kết luận giám định số 42 ngày 09/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận:
- Chữ ký dưới mục “người nhận tiền” trên phiếu chi là 270, “lãnh đạo duyệt” là 373, “người lập” là 83 và “người giao tiền” là 271 trên Phiếu thanh toán hoa hồng bảo hiểm và chi phí hỗ trợ đại lý bằng tiền trên mẫu cần giám định ký hiệu từ A1.1 đến A1.328 và từ A2.1 đến A2.373 so với chữ ký của Nguyễn Trung K trên mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, M3, M4, M5, M6 do cùng một người ký ra.
- Chữ ký dưới mục “người nhận tiền” trên phiếu chi là 7, “người lập” là 58 và “người giao tiền” là 55 trên các Phiếu thanh toán hoa hồng bảo hiểm và chi phí hỗ trợ đại lý bằng tiền trên mẫu cần giám định ký hiệu từ A1.1 đến A1.328 và từ A2.1 đến A2.373 so với chữ ký của Phạm Quốc L1 trên mẫu so sánh ký hiệu M7, M8, M9, M10, M11 do cùng một người ký ra.
Quá trình điều tra: Cơ quan Cảnh sát Điều tra công an tỉnh H làm rõ Nguyễn Trung K, Phạm Quốc L1 đã gây thiệt hại cho Tổng Công ty B1 số tiền 692.024.240 đồng. Nguyễn Trung K, Phạm Quốc L1 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội; Nguyễn Trung K nộp số tiền 686.718.560 đồng, Phạm Quốc L1 nộp số tiền 20.000.000 đồng để khắc phục hậu quả cho Tổng công Công ty B (Theo ủy nhiệm chi ngày 08 tháng 03 năm 2024 Công an tỉnh H chuyển số tiền là 706.718.560 đồng vào tài khoản cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam).
Vật chứng, tài sản thu giữ đã chuyển cơ quan thi hành án gồm: 01 điện thoại di động Iphone XR Max của Nguyễn Trung K (Tình trạng và đặc điểm tài sản như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05 tháng 03 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam).
Cáo trạng số 26/CT-VKS-P2 ngày 04 tháng 03 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đã truy tố Nguyễn Trung K về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 356 Bộ luật Hình sự; Phạm Quốc L1 về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 356 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đã truy tố. Và cho rằng thực tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt nên nhiều doanh nghiệp bán bảo hiểm giảm giá, chiết khấu cho khách hàng khi mua dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ. Vì vậy, một số Đại lý thuộc Công ty B khó cạnh tranh, tìm kiếm khách hàng, nhiều năm liền các đại lý không đảm bảo chỉ tiêu doanh thu hàng năm, không phát triển được thị trường. Do áp lực về tài chính, phát triển thị trường, muốn tăng doanh thu, tăng uy tín bản thân, tạo thành tích thi đua cá nhân nên Nguyễn Trung K đã trực tiếp tìm kiếm khách hàng, phát triển thị trường bằng cách trực tiếp chiết khấu cho khách hàng, giảm giá dịch vụ bảo hiểm để tăng sức cạnh tranh.
Hành vi của các bị cáo là trái quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm và gây thiệt hại cho Tổng Công ty B1 số tiền 692.000.000 đồng nhưng các bị cáo không chiếm đoạt số tiền này, đã khắc phục bồi thường thiệt hại cho Tổng Công ty B1 số tiền 692.000.000 đồng. Bị cáo Phạm Quốc L1, nhân viên Phòng K2 đã ký chứng từ giúp cho Nguyễn Trung K thanh toán hoa hồng bảo hiểm và chi phí hỗ trợ đại lý gây thiệt hại cho Tổng Công ty B1.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố. Đề nghị áp dụng khoản 1 (đối với L1), điểm c khoản 2 Điều 356 (đối với K); điểm b, s (thêm điểm t, v với K) khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 54 (với K); Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. Điều 106, khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Đề nghị tuyên bố: Nguyễn Trung K, Phạm Quốc L1 phạm tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”
Xử phạt: Nguyễn Trung K từ 30 đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạm Quốc L1 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 đến 30 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về hình phạt bổ sung: Cấm đảm nhiệm chức vụ đối với Nguyễn Trung K từ 01 năm đến 02 năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Nguyễn Trung K, Phạm Quốc L1 đã tự nguyện nộp bồi thường cho bị hại 692.000.000 đồng, trừ số tiền các bị cáo đã nộp bồi thường là 706.718.560 đồng tại Tài khoản cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam, phần của Nguyễn Trung K là 686.718.560 đồng, Phạm Quốc L1 là 5.306.000, còn dư 14.694.000 đồng trả lại cho Phạm Quốc L1.
Về xử lý vật chứng: Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Iphone XR Max vì không sử dụng vào việc thực hiện tội phạm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Vì vậy, hành vi của người có thẩm quyền tố tụng, quyết định của cơ quan tố tụng là khách quan, đúng pháp luật và là chứng cứ giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa người bị hại; người làm chứng là ông Lê Minh T1, chị Trần Thị Hòa L2 và ông Nguyễn Sơn C đều có đơn xin xử vắng mặt; chị Vũ Thị P, anh Nguyễn Việt C3, chị Phạm Thị H1 và chị Nguyễn Thị Thu P1 là người làm chứng vắng mặt không có lý do nhưng không ảnh hưởng đến đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
[2] Trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2021, Nguyễn Trung K, Trưởng phòng Phòng Kinh doanh số 1 - Công ty B thuộc Tổng Công ty B1 (là Công ty TNHH một thành viêĐ1) biết rõ quy định cán bộ kinh doanh trực tiếp bán bảo hiểm, khách hàng mua bảo hiểm không được hưởng tiền hoa hồng, tiền hỗ trợ đại lý nhưng vì muốn tăng số lượng khách hàng, tăng doanh thu nên K đã đã tự ý chiết khấu cho khách hàng mua bảo hiểm mà K trực tiếp bán rồi chuyển các bảo hiểm đó vào các đại lý Vũ Thị P, Trần Thị Hòa L2, Nguyễn Việt C3 để thanh toán hoa hồng bảo hiểm và chi phí hỗ trợ các đại lý trái quy định gây thiệt hại cho Tổng Công ty B1 số tiền 692.024.240 đồng. Phạm Quốc L1 là nhân viên Phòng kinh doanh số 1 biết các Hợp đồng bảo hiểm do Nguyễn Trung K trực tiếp bán, chuyển vào đại lý Vũ Thị P và đại lý Trần Thị Hòa L2 để thanh toán tiền hoa hồng, tiền hỗ trợ không đúng quy định nhưng đã ký chứng từ giúp cho Nguyễn Trung K thanh toán hoa hồng bảo hiểm và chi phí hỗ trợ đại lý gây thiệt hại số tiền 101.160.740 đồng.
Hành vi đó của Nguyễn Trung K đã phạm vào tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 356 Bộ luật Hình sự. Hành vi của Phạm Quốc L1 tham gia thực hiện và giúp sức cho Nguyễn Trung K trực tiếp gây thiệt hại số tiền 101.160.740 đồng nên đã phạm vào tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 356 Bộ luật Hình sự.
Hành vi nêu trên của Nguyễn Trung K, Phạm Quốc L1 là nguy hiểm cho xã hội nên cần phải xử lý nghiêm đối với các bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe phòng ngừa tội phạm.
Về đồng phạm: Vụ án đồng phạm giản đơn, K là người khởi xướng, chỉ đạo L1 thực hiện hành vi phạm tội nên xếp vai trò đầu vụ; bị cáo L1 giúp sức nên xếp vai trò thứ trong vụ án.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự như ý kiến đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã khắc phục toàn bộ thiệt hại; gia đình các bị cáo có công với cách mạng (bị cáo L1 có ông nội là lão thành cách mạng, bị cáo K có bố đẻ là thương binh); bị hại (Tổng Công ty B1) xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ các bị cáo được hưởng theo quy định tại b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra quá trình điều tra bị cáo K đã tích cực hợp tác với cơ quan Điều tra trong việc giải quyết vụ án; có thành tích xuất sắc trong quá trình công tác, nhiều năm được tặng danh hiệu Chiến sỹ thi đua cơ sở đây là tình tiết giảm nhẹ K được hưởng theo quy định điểm t, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và là căn cứ áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ hình phạt đối với K.
Trong vụ án này: Bị cáo Phạm Quốc L1 giúp sức, làm theo sự chỉ đạo của K, không được hưởng lợi và có nhân thân tốt nên đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của Nguyễn Trung K không có tính chất chiếm đoạt để trục lợi cho chính bản thân K. Vì, Công ty T4 (Bút lục 1060-1061), Công ty T5 (Bút lục 1166), Công ty V1 (Bút lục 1168), Công ty TNHH T6, Công ty Cổ phần N (Bút lục 1175), Công ty TNHH T7 (Bút lục 1196) và các khách hàng mua bảo hiểm khác đều xác nhận khi mua bảo hiểm phi nhân thọ được K chiết khấu cho khách hàng từ 10- 15% so với số tiền ghi trên hóa đơn; tại Văn bản ngày 22 tháng 4 năm 2024, Tổng Công ty B1 có ý kiến cho rằng hành vi của Nguyễn Trung K vì áp lực doanh thu đã tìm kiếm khách hàng nhằm tăng doanh thu và tăng khả năng cạnh tranh mà đã trực tiếp chiết khấu cho khách hàng là trái quy định của pháp luật, đề nghị đánh giá đúng mục đích, động cơ phạm tội của các bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Trong vụ án này, Nguyễn Trung K “có động cơ cá nhân khác”, thu hút khách hàng làm tăng vai trò, uy tín cá nhân là lãnh đạo phòng và tăng doanh thu cho Công ty B nên đã tự ý chiết khấu (bản chất là giảm giá) cho khách hàng khi mua dịch vụ bảo hiểm là trái quy định của pháp luật như ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đã chủ động khắc phục hậu quả do mình gây ra, các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, bị cáo Nguyễn Trung K đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Nghị Quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30 tháng 12 năm 2020 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự trong xét xử tội tham nhũng và tội phạm khác về chức vụ và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Trung K phạm tội không do trục lợi nên không phạt tiền đối với bị cáo, tuy nhiên cần cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ tại cơ quan hành chính nhà nước liên quan đến quản lý tài chính theo khoản 4 Điều 356 Bộ luật Hình sự là phù hợp. Bị cáo L1 không giữ chức vụ, không được hưởng lợi do hành vi phạm tội của mình gây ra nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[3]. Về trách nhiệm dân sự: Tổng Công ty B1 bị thiệt hại số tiền 692.000.000 đồng, các bị cáo đã nộp toàn bộ số tiền để khắc phục bồi thường cho người bị hại là phù hợp quy định pháp luật. Số tiền nộp bồi thường còn thừa được trả lại cho L1.
[4]. Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: 01 điện thoại di động Iphone XR Max thu của Nguyễn Trung K không sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
[5]. Các vấn đề khác: Đối với chị Nguyễn Thị Thu P1, chị Phạm Thị H1 đã lập chứng từ thanh toán tiền hoa hồng, tiền hỗ trợ đại lý, ký một số chứng từ thanh toán. Quá trình điều tra xác định những người này không biết các bảo hiểm thanh toán là do K bán nên Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh H không xem xét xử lý là có căn cứ.
Đối với chị Vũ Thị P, chị Trần Thị Hòa L2, anh Nguyễn Việt C3 là chủ các đại lý đều không biết việc K đã lấy tên đại lý của mình để thanh toán tiền hoa hồng, tiền hỗ trợ đại lý và cũng không giúp gì cho K trong việc thanh toán trên nên không có căn cứ xử lý đối với những người này.
Đối với ông Lê Minh T1 và các nhân viên phòng kế toán Công ty B đã thực hiện việc thanh toán theo đúng quy định, không biết việc Nguyễn Trung K làm thủ tục thanh toán tiền hoa hồng, tiền hỗ trợ trái quy định nên Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh H không có căn cứ để xử lý.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 (đối với L1), điểm c khoản 2 và khoản 4 Điều 356 (đối với K); điểm b, s (thêm điểm t, v với K) khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 54 (với K); Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. Điều 106, khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
[1]. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố: Nguyễn Trung K, Phạm Quốc L1 phạm tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”
Xử phạt:
- - Nguyễn Trung K 30 (Ba mươi) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - P (Mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao Nguyễn Trung K cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định; Phạm Quốc L1 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện G, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Cấm Nguyễn Trung K đảm nhận chức vụ liên quan đến quản lý tài chính tại cơ quan hành chính nhà nước trong thời hạn 01 (Một) năm kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.
[2]. Về trách nhiệm dân sự: Buộc Nguyễn Trung K bồi thường 686.718.000 đồng (Sáu trăm tám sáu ngàn, bảy trăm mười tám ngàn đồng), Phạm Quốc L1 bồi thường 5.306.000 đồng cho Tổng Công ty B1. Trừ số tiền các bị cáo đã nộp bồi thường là 706.718.560 đồng (làm tròn 706.7180.000 đồng) tại Tài khoản cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam theo uỷ nhiệm chi số 127 ngày 08/3/2024 giữa Công an tỉnh H và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam, các bị cáo đã bồi thường xong. Còn dư 14.694.000₫ (Mười bốn triệu, sáu trăm chín tư ngàn đồng) hoàn lại cho Phạm Quốc L1.
[3]. Về xử lý vật chứng: Trả lại Nguyễn Trung K 01 điện thoại di động Iphone XR Max cũ. (T2 trang và đặc điểm tài sản như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05 tháng 03 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam).
[5]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc Nguyễn Trung K, Phạm Quốc L1 mỗi bị cáo phải chịu án phí là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Quốc Trưởng |
10
Bản án số 24/2024/HSST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
- Số bản án: 24/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ không có động cơ chiếm đoạt tài sản nên đủ điều kiện được hưởng án treo.
