Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HNGĐ-PT.

Ngày: 22 - 8 - 2024

V/v tranh chấp về nuôi con

và nghĩa vụ cấp dưỡng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỷ

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Văn Giang và Bà Lê Thị Hồng Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Dương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Dương Thị Hương Liên - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024 Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 16/2024/TLPT-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024 về việc Tranh chấp về nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng.

Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 23/2024/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 18/2024/QĐ-PT ngày 01 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Triệu Thanh T, sinh năm 1990 (có mặt).

Địa chỉ: Tổ E, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

Bị đơn: Anh Vũ Văn C, sinh năm 1984 (có mặt).

Địa chỉ: Xóm V, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Người kháng cáo: Chị Triệu Thanh T và anh Vũ Văn C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, nguyên đơn là chị Triệu Thanh T trình bày:

Chị và anh Vũ Văn C tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên ngày 04 tháng 12 năm 2013. Hai bên gia đình có tổ chức cưới hỏi theo phong tục của địa phương. Sau khi cưới vợ chồng chị công tác và sinh sống tại huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2016 thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, quan điểm không hòa hợp, trong công việc và tình cảm anh C không quan tâm, chia sẻ giải quyết cùng chị được. Trong việc nuôi dạy, chăm sóc con mỗi người một ý nghĩ, không hiểu nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Vũ Vân N, sinh ngày 17/02/2015 và cháu Vũ Ngọc D, sinh ngày 06/10/2022. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng nuôi cả 2 con, yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con 2.500.000 đ/cháu/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Hiện nay chị đang công tác tại công an huyện P, thu nhập 12 triệu đồng đến 15 triệu đồng/tháng.

Về tài sản chung, nợ chung và các khoản cho vay: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Vũ Văn C trình bày: Thời điểm kết hôn, việc đăng ký kết hôn như chị T trình bày là đúng. Sau thời gian suy nghĩ anh nhận thấy mình có nhiều điều không phải, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, viết đơn xin ly hôn anh đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Vũ Vân N, sinh ngày 17/02/2015 và cháu Vũ Ngọc D, sinh ngày 06/10/2022. Sau khi ly hôn anh có ý kiến được nuôi cháu N, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Với nội dung trên, tại bản án số 23/2024/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử và quyết định:

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Triệu Thanh T, cho chị T được ly hôn anh Vũ Văn C.

- Về con chung: Giao cho chị T1 Thanh Trà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Vũ Vân N, sinh ngày 17/02/2015 và cháu Vũ Ngọc D, sinh ngày 06/10/2022 cho đến khi các con trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Vũ Văn C cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Vũ Ngọc D, sinh ngày 06/10/2022; Mức cấp dưỡng là 1.000.000 đ/tháng cho đến khi cháu D đủ 18 tuổi. Thời điểm cấp dưỡng từ tháng 6/2024.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, chị Triệu Thanh T có đơn yêu cầu thi hành án, anh Vũ Văn C không tự nguyện thi hành được khoản tiền cấp dưỡng nuôi con trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi được xác định theo mức lãi suất theo quy định tại Điều 357; khoản 2 Điều 468 BLDS.

- Về quyền thăm nom con: Anh Vũ Văn C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị T, anh C có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung và các khoản cho vay: Chị T và anh C đều xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền và thời hạn kháng cáo.

Ngày 11/6/2024, nguyên đơn chị Triệu Thanh T có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xem xét tăng mức cấp dưỡng nuôi con chung lên 5.000.000 (Năm triệu) đồng/tháng/2con.

Ngày 18/6/2024 bị đơn anh Vũ Văn C có đơn kháng cáo đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xem xét giải quyết để anh được nuôi 01 con chung, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên tòa phúc thẩm, chị Triệu Thanh T và anh Vũ Văn C giữ nguyên nội dung kháng cáo. Chị T không nhất trí kháng cáo của anh C. Anh C nhất trí tăng mức cấp dưỡng nuôi con Vũ Ngọc D là 2.350.000đ/1 tháng.

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát phát biểu sự tuân theo pháp luật của thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 300, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Vũ Văn C. Chấp nhận một phần kháng cáo của chị Triệu Thanh T.

+ Sửa một phần bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 23/2024/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, tăng mức cấp dưỡng nuôi con chung theo đề nghị của chị T lên 2.350.000 đồng/tháng;

+ Anh C phải chịu án phí HNGĐ phúc thẩm; chị T không phải chịu án phí HNGĐ phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về thủ tục tố tụng

Đơn kháng cáo của chị Triệu Thanh T và anh Vũ Văn C làm trong hạn luật định, đều đã nộp tạm ứng án phí kháng cáo nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

2. Xét kháng cáo của anh Vũ Văn C

[2.1]. Chị Triệu Thanh T và anh Vũ Văn C kết hôn năm 2013, trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2016 phát sinh mâu thuẫn, do không thể hàn gắn được nên năm 2024 chị T đã làm đơn xin ly hôn. Anh C nhất trí ly hôn và chỉ kháng cáo xin được nuôi một con chung.

[2.2] Xét thấy, anh C và chị T có hai con chung là Vũ Vân N, sinh ngày 17/02/2015 và cháu Vũ Ngọc D, sinh ngày 06/10/2022. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án thể hiện, chị T và anh C đều có đủ điều kiện để trực tiếp, chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên, cháu D dưới 36 tháng tuổi, đang sinh sống ổn định cùng với chị T, cháu N nay đã 09 tuổi và có nguyện vọng ở với mẹ, do hai cháu đều là con gái và còn nhỏ cần phải có sự chăm sóc của người mẹ nhiều hơn. Bản thân anh C do đặc thù công tác thường xuyên về muộn, hiện anh C đang ở nhà thuê và không có sự hỗ trợ, giúp đỡ từ phía gia đình trong việc chăm sóc con (vì bố mẹ anh C đã mất, anh chị em đều có gia đình riêng).

[2.3]. Để ổn định cuộc sống và tránh cho các con có sự ảnh hưởng về tâm lý khi cha mẹ ly hôn. Tại hướng dẫn mục 1 Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán TANDTC, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân gia đình “Giải quyết việc nuôi con khi ly hôn quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình:

“...1. Khi xem xét “quyền lợi về mọi mặt của con” quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình phải đánh giá khách quan, toàn diện các tiêu chí sau đây: a) Điều kiện, khả năng của cha, mẹ trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, bao gồm cả khả năng bảo vệ con khỏi bị xâm hại, bóc lột; b) Quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi, được duy trì mối quan hệ với người cha, mẹ không trực tiếp nuôi; c) Sự gắn bó, thân thiết của con với cha, mẹ; d) Sự quan tâm của cha, mẹ đối với con; đ) Bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con; e) Nguyện vọng của con được ở cùng với anh, chị, em (nếu có) để bảo đảm ổn định tâm lý và tình cảm của con; g) Nguyện vọng của con được sống chung với cha hoặc mẹ...”

[2.4]. Tại phiên toà phúc thẩm, anh C không xuất trình được tài liệu chứng cứ nào mới để chứng cho kháng cáo của mình là có căn cứ. Việc Tòa án cấp sơ thẩm giao cả hai con cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là đã xem xét đến “quyền lợi về mọi mặt của con” khi cha mẹ ly hôn và phù hợp với thực tế, cũng như quy định của pháp luật tại Nghị quyết 01 năm 2024 của HĐTP TANDTC. Do vậy, kháng cáo này của anh C không được Hội đồng xét xử chấp nhận. Cần giữ nguyên nội dung về việc “Giao cho chị T1 Thanh Trà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Vũ Vân N, sinh ngày 17/02/2015 và cháu Vũ Ngọc D, sinh ngày 06/10/2022 cho đến khi các con trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác” tại bản án HNGĐ số 23/2024/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện P.

Anh C có quyền đi lại thăm nom con chung và trong trường hợp cần thiết vẫn có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Xét kháng cáo của chị Triệu Thanh T

[3.1] Chị Triệu Thanh T có nguyện vọng nuôi cả hai con và thực tế chị cũng là người đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc hai con, nên phải đảm bảo các điều kiện chăm sóc cho các con chung được tốt nhất. Bản thân chị T mặc dù có thu nhập ổn định, nhưng cũng cần sự hỗ trợ của anh C trong chi phí nuôi dạy hai con. Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”, do đó chị T yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3.2] Thấy rằng, anh C hiện đang công tác tại trường cấp 2 thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, mức lương trung bình là 9.200.000 đồng/tháng, ngoài ra không còn khoản thu nhập nào khác. Tại Điều 116 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết” và Điều 7. Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình tại Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán TANDTC, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân gia đình quy định: “...2. Tiền cấp dưỡng cho con là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không thoả thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con; 3. Trường hợp các bên không thỏa thuận được phương thức cấp dưỡng thì Tòa án quyết định phương thức cấp dưỡng hàng tháng hoặc phương thức khác phù hợp với nhu cầu, lợi ích của con và điều kiện kinh tế của người cấp dưỡng...”

[3.3]. Hiện nay mức lương cơ bản đã được tăng lên, việc Tòa án cấp sơ thẩm chỉ buộc anh C có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với cháu D là 1.000.000 đồng/tháng là chưa phù hợp, không đảm bảo được chi phí tối thiểu của con trong sinh hoạt thường ngày. Do vậy, việc chị T kháng cáo tăng mức cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ.

[3.4] Tuy nhiên, việc chị T kháng cáo yêu cầu tăng mức cấp dưỡng nuôi con là 5.000.000 đồng/1 tháng/2con là không phù hợp với thực tế thu nhập của anh C và các quy định của pháp luật. Bản thân chị T cũng có nghĩa vụ và trách nhiệm nuôi dưỡng 1 con chung, nên chỉ có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của chị T, tăng mức cấp dưỡng đối với cháu D.

[3.5] Tại phiên tòa hôm nay anh C và chị T đã thỏa thuận được với nhau về mức cấp nuôi con. Anh C đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung Vũ Ngọc D, sinh ngày 06/10/2022 với mức cấp dưỡng bằng 01 tháng lương cơ bản là 2.350.000 đồng/tháng. Thời điểm cấp dưỡng từ tháng 6 năm 2024. Xét đây là quyền tự định đoạt và thỏa thuận của đương sự, được Hội đồng xét xử ghi nhận.

[3.6] Từ những phân tích trên, không chấp nhận kháng cáo của anh C, có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của chị T.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên tòa, đề nghị sửa một phần bản án sơ thẩm số 23/2024/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên do các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ.

[3.7] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của anh C không được chấp nhận nên anh C phải chịu án phí phúc thẩm; kháng cáo của chị T được chấp nhận nên không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[3.8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm được giữ nguyên và không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 300, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

I. Không chấp nhận đơn kháng cáo của anh Vũ Văn C. Chấp nhận một phần kháng cáo của chị Triệu Thanh T.

II. Sửa một phần bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 23/2024/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên do các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Cụ thể:

- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Vũ Văn C tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Vũ Ngọc D, sinh ngày 06/10/2022, với mức cấp dưỡng là 2.350.000 đồng/tháng, thời điểm cấp dưỡng từ tháng 6/2024 cho đến khi cháu D đủ 18 tuổi, hoặc đến khi có sự thay đổi khác.

Kể từ ngày đến thời điểm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, người được cấp dưỡng, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả cho đến khi thi hành xong. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên, nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Khi xét thấy cần thiết hoặc do điều kiện sống có sự thay đổi, vợ chồng có thỏa thuận khác phù hợp với quy định pháp luật và vì lợi ích của con chung, các bên có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng hoặc chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

III. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm số 23/2024/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 6 năm 2024 được giữ nguyên và không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

IV. Về án phí dân sự phúc thẩm:

+ Anh Vũ Văn C phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí phúc thẩm, xác nhận đã nộp đủ theo biên lai thu số 0003886 ngày 02/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

+ Chị Triệu Thanh T không phải chịu án phí phúc thẩm, được hoàn trả lại 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp, theo biên lai tạm ứng án phí số 0003878 ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

V. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND huyện P;
  • - THADS huyện P;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HNGĐ-PT ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp về nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng

  • Số bản án: 23/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp về nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: triệu thanh t và vũ văn c
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger