|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 23/2024/HS-ST Ngày: 22-5-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh
Thẩm phán: Ông Nguyễn Tuấn Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Ngô Thị Hồng Gấm
2. Ông Thái Bá Việt
3. Ông Huỳnh Ngọc Trước
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thái và ông Lâm Xuân Long - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2024, đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Trần Văn H; Giới tính: Nam; Sinh ngày 05 tháng 10 năm 1963, tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Số A, Lê Văn Đ, khóm C, phường D, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp, chức vụ khi phạm tội: Giám đốc Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Đ; Đảng phái: Là đảng viên Đ3, đã bị khai trừ đảng; Con ông Trần Văn K, sinh năm 1942 và bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1942; Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ nhất; Vợ là Trần Thị H1, sinh năm 1963; Có 02 con, lớn sinh năm 1988, nhỏ sinh năm 1994; Tiền sự, tiền án: Chưa có; Bắt tạm giam ngày 20/5/2022; Ngày 16/9/2022, Viện kiểm sát ra quyết định thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh; Bị cáo hiện đang tại ngoại, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh (có mặt).
2/ Họ và tên: Nguyễn Thị Lệ N1; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 15 tháng 7 năm 1983, tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Số I, đường P, tổ A, khóm M, phường C, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp, chức vụ khi phạm tội: Phó Trưởng khoa xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, thăm dò chức năng thuộc Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Đ; Đảng phái: Là đảng viên Đ3, đã bị khai trừ đảng; Con ông Nguyễn Ngọc Á, sinh năm 1956 và bà Võ Thị Kim D, sinh năm 1956; Anh chị em ruột: Có 01 người, bị cáo là con thứ hai; Chồng là Nguyễn Văn N2, sinh năm 1992; Có 02 con, con lớn sinh năm 2007 và con nhỏ sinh năm 2023; Tiền sự, tiền án: Chưa có; Bắt tạm giam ngày 20/5/2022; Ngày 16/9/2022, Viện kiểm sát ra quyết định thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh; Bị cáo hiện đang tại ngoại, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh (có mặt).
3/ Họ và tên: Huỳnh Văn T; Giới tính: Nam; Sinh ngày 29 tháng 11 năm 1974, tại: tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Tổ C, khóm M, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp, chức vụ khi phạm tội: Trưởng phòng Kế hoạch Tài chính thuộc Sở Y tế tỉnh Đ; Đảng phái: Là Đảng viên Đ3, đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng; Con ông Huỳnh Văn T1, sinh năm 1954 (đã chết) và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1952; Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ là Vũ Thị M, sinh năm 1975; Có 02 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2008; Tiền sự, tiền án: Chưa có; Tạm giữ, tạm giam: Không có; Hiện bị cáo đang tại ngoại, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn H theo yêu cầu: Luật sư Huỳnh Thị Quỳnh H2 - Văn phòng L2, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Lệ N1 theo yêu cầu: Luật sư Hồ Thị Xuân H3 và luật sư Lại Phan Xuân Đ1 - Văn phòng L3, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Văn T theo yêu cầu: Luật sư Đỗ Thành S và luật sư Cao Minh T2 - Văn phòng L4, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ (có mặt).
Nguyên đơn dân sự:
- Trung tâm K (CDC Đ).
Người đại diện: Võ Công Đ2, sinh năm 1963 (có mặt).
Địa chỉ: Số B, khu phố A, khóm D, thị trấn M, huyện T, Đồng Tháp. - Bệnh viện Đ4.
Người đại diện: Huỳnh Phú H4, sinh năm 1989 (có mặt).
Địa chỉ: Khóm D, phường B, thành phố C, Đồng Tháp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Nguyễn Hoàng V, sinh năm 1966 (có mặt).
Địa chỉ: Số A, Phạm Hữu L, tổ B, khóm C, phường D, thành phố C, Đồng Tháp. - Huỳnh Minh T3, sinh năm 1975 (có mặt).
Địa chỉ: Số B, T, phường H, thành phố C, Đồng Tháp. - Đặng Kim N3, sinh năm 1987 (có mặt).
Địa chỉ: Số F, Trần Văn P1, ấp C, xã M, thành phố C, Đồng Tháp. - Nguyễn Thái V1, sinh năm 1979 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ A, khóm T, phường H, thành phố C, Đồng Tháp. - Nguyễn Thị Thu H5, sinh năm 1970 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số D, khóm E, phường A, thành phố C, Đồng Tháp. - Dương Ân H6, sinh năm 1963 (có mặt).
Địa chỉ: Số D, Nguyễn Minh T4, tổ B, khóm B, phường B, thành phố C, Đồng Tháp. - Nguyễn Lâm Thái T5, sinh năm 1969 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số G, tổ A, khóm B, phường F, thành phố C, Đồng Tháp. - Phan Quốc V2, sinh năm 1980 (vắng mặt).
Địa chỉ: Căn hộ A Chung cư T, số C, B, phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. - Vũ Đình H7, sinh năm 1986 (vắng mặt).
Địa chỉ: Căn hộ A Chung cư S, B Quốc lộ A, khu phố Q, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. - Phan Tôn Noel T6, sinh năm 1990 (vắng mặt).
Địa chỉ: Căn hộ C Chung cư P, L, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. - Trần Tiến L1, sinh năm 1987 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số C, đường T, phường A,quận N, thành phố Cần Thơ. - Trần Thị H8, sinh năm 1995 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số A, Quốc lộ A, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. - Hồ Thị Thanh T7, sinh năm 1980 (vắng mặt).
Địa chỉ: Căn hộ A Chung cư T, số C, B, phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. - Đinh Thị H9, T8 năm 1995 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số B đường T, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ tháng 5/2021 đến tháng 9/2021, Bệnh viện Đ4 (BVĐK) Đồng Tháp và Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) Đồng Tháp làm Chủ đầu tư 06 gói thầu mua sắm hóa chất, sinh phẩm xét nghiệm Covid-19 PCR của Công ty Cổ phần C (gọi tắt là Công ty C) có địa chỉ tại số C Hồ V, Phường 1, quận P, thành phố Hồ Chí Minh theo hình thức chỉ định thầu rút gọn. Cụ thể như sau:
- BV Đ5 làm Chủ đầu tư 03 gói thầu:
- - Gói thầu thứ nhất: Mua hóa chất, sinh phẩm chẩn đoán invitro SARS-CoV-2, theo Quyết định phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu số 688 ngày 04/6/2021 của Ủy ban nhân dân (UBND) Tỉnh, Quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu số 1625 ngày 22/6/2021 của BV Đ5.
- - Gói thầu thứ hai: Mua sinh phẩm phát hiện SARS-CoV-2, theo Quyết định phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu số 929 ngày 13/7/2021 của UBND Tỉnh, Quyết định phê duyệt kết quả chỉ định thầu rút gọn số 1834 ngày 19/7/2021 của BV Đ5.
- - Gói thầu thứ ba: Mua sinh phẩm phát hiện SARS-CoV-2 (nhóm 3), theo Quyết định phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu số 1147 ngày 12/8/2021 của UBND Tỉnh, Quyết định phê duyệt kết quả chỉ định thầu rút gọn số 2081 ngày 19/8/2021 của BV Đ5.
Ngày 24/6/2021, BV Đ5 ký Hợp đồng số 010621 với Công ty C, mua hóa chất phát hiện Covid-19 PCR (Test xét nghiệm) như sau: Số lượng theo hợp đồng 3.000 Test, giá 509.250 đồng/test, trị giá 1.527.750.000 đồng. Đã nhận 3.000 Test, trị giá 1.447.680.000 đồng. Đã thanh toán đủ 1.447.680.000 đồng vào ngày 20/8/2021, trong đó: 960 T mua với giá 509.250 đồng/test = 488.880.000 đồng và 2.040 Test mua với giá 470.000 đồng/test = 958.800.000 đồng.
Gói thầu này có mượn hàng trước khi ký hợp đồng. Từ ngày 19/5/2021 đến 29/5/2021 mượn 960 test, đơn giá 509.250 đồng/test, trị giá 488.880.000 đồng, đã thanh toán đủ.
Ngày 19/7/2021, BV Đ5 ký Hợp đồng số 010721 với Công ty C, mua hóa chất phát hiện Covid-19 PCR (Test xét nghiệm): Số lượng theo hợp đồng 20.000 Test, giá 470.000 đồng/test, trị giá 9.400.000.000 đồng. Số lượng đã nhận 20.000 Test, giá 470.000 đồng/test, trị giá 9.400.000.000 đồng. Đã thanh toán đủ 9.400.000.000 đồng vào ngày 20/8/2021.
Gói thầu này có mượn hàng trước khi ký hợp đồng. Ngày 08/7/2021 mượn 4.800 test, đơn giá 470.000 đồng/test, trị giá 2.256.000.000 đồng, đã thanh toán đủ.
Ngày 20/8/2021, BV Đ5 ký Hợp đồng số 020721 với Công ty C, mua hóa chất phát hiện Covid-19 PCR (Test xét nghiệm) như sau: Số lượng theo hợp đồng là 200.000 Test, giá 470.000 đồng/test, tổng trị giá là 94.000.000.000 đồng. Số lượng đã nhận 162.816 test, giá 470.000 đồng/test, trị giá 76.523.520.000 đồng. Đã thanh toán đủ 76.523.520.000 đồng (ngày 22/9/2021 và 18/10/2021). Số lượng chưa nhận là 37.184 test, trị giá 17.746.480.000 đồng.
Gói thầu này có mượn hàng trước khi ký hợp đồng. Từ ngày 30/7/2021 đến 20/8/2021 mượn 76.800 Test, đơn giá 470.000 đồng/test, trị giá 36.096.000.000 đồng, đã thanh toán đủ.
Như vậy, BV Đ5 đã ký 03 Hợp đồng mua Test xét nghiệm Covid-19 PCR của Công ty C với tổng trị giá là 104.927.750.000 đồng. Đã nhận hàng trị giá 87.371.200.000 đồng, đã thanh toán đủ 87.371.200.000 đồng.
Tất cả 03 gói thầu này, UBND tỉnh Đ phân công BV Đ5 làm Chủ đầu tư mua sắm rồi giao cho CDC Đồng Tháp nhận và sử dụng.
- Đ5 làm Chủ đầu tư 03 gói thầu:
- - Gói thầu thứ nhất: Mua sinh phẩm chẩn đoán invitro xét nghiệm khẳng định phát hiện virut SARS-CoV-2, theo Quyết định phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu số 1003 ngày 23/7/2021 của UBND Tỉnh, Quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu số 153 ngày 12/8/2021 của Đ5.
- - Gói thầu thứ hai: Mua hóa chất tách chiết sử dụng cho các máy xét nghiệm Realtime PCR công suất 96 mẫu để phục vụ công tác phòng, chống dịch C, theo Quyết định phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu số 1175 ngày 16/8/2021 của UBND Tỉnh, Quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn Nhà thầu số 159 ngày 17/8/2021 của Đ5.
- - Gói thầu thứ ba: Mua hóa chất, sinh phẩm chẩn đoán invitro xét nghiệm khẳng định phát hiện virut SARS-CoV-2, theo Quyết định phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu số 1362 ngày 10/9/2021 của UBND Tỉnh, Quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu số 176 ngày 14/9/2021 của Đ5.
- + Hóa chất phát hiện Covid-19 PCR (Test xét nghiệm): Số lượng theo hợp đồng 178.200 test, giá 367.500 đồng/test, tổng trị giá 65.488.500.000 đồng. Đã nhận 136.512 test, trị giá 50.168.160.000 đồng; đã thanh toán 81.408 test, trị giá 29.917.440.000 đồng; còn nợ 55.104 test, trị giá 20.250.720.000 đồng. Chưa nhận 41.688 test.
- + Hóa chất tách chiết Covid-19 PCR (Test tách chiết): Số lượng theo hợp đồng 178.200 test, giá 136.500 đồng/test, trị giá 24.324.300.000 đồng. Đã nhận 178.200 test, trị giá 24.324.300.000 đồng. Đã thanh toán đủ 24.324.300.000 đồng vào ngày 19/11/2021 và 15/12/2021.
Ngày 27/8/2021, Đ5 ký Hợp đồng số 010821 với Công ty C, mua hóa chất phát hiện Covid-19 PCR (Test xét nghiệm): Số lượng theo hợp đồng 1.056 test, giá 470.000 đồng/test, trị giá 496.320.000 đồng. Đã nhận 1.056 test, trị giá 496.320.000 đồng. Đã thanh toán đủ 496.320.000 đồng vào 12/10/2021.
Gói thầu này không có mượn hàng trước khi ký hợp đồng.
Ngày 27/8/2021, Đ5 ký Hợp đồng số 020821 với Công ty C, mua hóa chất tách chiết Covid-19 PCR (Test tách chiết): Số lượng theo hợp đồng 50.000 Test, giá 160.000 đồng/test, trị giá 08 tỷ đồng. Số lượng đã nhận 50.000 Test, giá 160.000 đồng/test, trị giá 08 tỷ đồng. Đã thanh toán đủ 08 tỷ đồng vào ngày 17/9/2021.
Gói thầu này mượn hết số hàng (50.000 Test) trước khi ký hợp đồng. Từ ngày 06/7/2021 đến 12/8/2021, đã thanh toán đủ.
Ngày 27/9/2021, Đ5 ký Hợp đồng số 010921 với Công ty C, mua 02 loại hóa chất:
Gói thầu này có mượn hàng trước khi ký hợp đồng. Trong đó: Ngày 23/9/2021 mượn 9.984 Test xét nghiệm, trị giá 3.669.120.000 đồng, đã thanh toán đủ. Từ ngày 12/8 đến 26/9/2021 mượn 131.248 Test tách chiết, trị giá 16.552.536.000 đồng, đã thanh toán đủ.
Như vậy, Đ5 đã ký 03 Hợp đồng mua Test xét nghiệm Covid-19 PCR và T9 tách chiết của Công ty C với tổng trị giá là 98.309.120.000 đồng. Đã nhận hàng trị giá 82.988.780.000 đồng. Đã thanh toán 62.738.060.000 đồng (Test xét nghiệm là 30.413.760.000 đồng, T9 tách chiết là 32.324.300.000 đồng). Còn nợ 20.250.720.000 đồng.
* Việc chỉ định thầu rút gọn các gói thầu được thực hiện theo trình tự các bước như sau:
- - Bước 1: Xuất phát từ nhu cầu mua sắm, đơn vị có nhu cầu (Chủ đầu tư) có văn bản xin chủ trương mua sắm, gửi Sở Y tế phối hợp Sở T12 tham mưu Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Đồng Tháp phê duyệt và UBND Tỉnh có văn bản phê duyệt chủ trương mua sắm.
- - Bước 2: Chủ Đầu tư tìm kiếm Nhà thầu để dự kiến chỉ định, bằng hình thức có văn bản hoặc trực tiếp liên hệ để yêu cầu gửi báo giá và hồ sơ năng lực. Trên cơ sở báo giá và hồ sơ năng lực nhận được của Nhà thầu, Tổ Chuyên gia tiến hành họp đánh giá và có báo cáo đánh giá.
- - Bước 3: Tổ Chuyên gia xây dựng dự toán, tham mưu Chủ đầu tư phê duyệt dự toán; làm Tờ trình phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu để Chủ đầu tư trình Sở Y tế tham mưu UBND Tỉnh phê duyệt, nội dung Tờ trình phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu thể hiện số lượng hàng hóa, giá trị, nguồn gốc, nguồn vốn, hình thức, thời gian thực hiện, dự kiến Nhà thầu được chỉ định; Sở Y tế thẩm định kỹ thuật, chuyển Sở Tài chính thẩm định giá và tham mưu UBND Tỉnh phê duyệt kế hoạch.
- - Bước 4: Khi UBND Tỉnh phê duyệt kế hoạch lựa chọn Nhà thầu, Chủ đầu tư ra quyết định đầu tư, tiến hành thương thảo và hoàn thiện hợp đồng với Nhà thầu.
- - Bước 5: Nhà thầu đóng tiền bảo lãnh, Chủ đầu tư và Nhà thầu ký hợp đồng, thực hiện hợp đồng, giao nhận hàng hóa.
- - Bước 6: Nghiệm thu thanh lý và thanh toán hợp đồng.
Trường hợp Nhà thầu dự kiến không giảm giá hoặc giảm giá dưới 3% giá trị gói thầu thì Chủ đầu tư báo cáo UBND Tỉnh để xin ý kiến thực hiện. Khi có ý kiến của UBND Tỉnh cho thực hiện (giảm giá dưới 3%) hoặc giảm giá trên 3% thì Chủ đầu tư ra Quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu và thông báo cho Nhà thầu trúng thầu biết.
Trong quá trình thực hiện chỉ định thầu rút gọn 06 gói thầu nêu trên, bị cáo Trần Văn H - Giám đốc CDC Đồng Tháp, bị cáo Nguyễn Thị Lệ N1 - Phó Trưởng khoa xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, thăm dò chức năng thuộc CDC Đ và bị cáo Huỳnh Văn T - Trưởng phòng Kế hoạch Tài chính thuộc Sở Y đã vi phạm quy định của pháp luật về bảo đảm công bằng, minh bạch trong hoạt động đấu thầu, gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng tài sản của Nhà nước. Cụ thể là:
- - Ngày 24/6/2021, tỉnh Đồng Tháp mới phát hiện ca bệnh Covid-19 đầu tiên tại Bệnh viện Đ4 nhưng trước đó vào ngày 29/4/2021 CDC Đồng Tháp đã nhận 01 máy xét nghiệm RT-PCR do Công ty TNHH G tặng, được Kỹ sư của Công ty C lắp đặt và kèm theo 01 bộ sinh phẩm do chính Công ty C sản xuất để chạy thử. Đến ngày 13/5/2021, CDC Đồng Tháp được Viện Pastueur thành phố H cấp Giấy chứng nhận đủ năng lực xét nghiệm SARS-CoV-2 bằng kỹ thuật Realtime RT-PCR. Việc này cho thấy có sự chuẩn bị và tạo lợi thế ngay từ đầu để Công ty C được trúng thầu.
- - Các bị cáo Lệ N1, H, T có mối quan hệ quen biết với ông Trần Tiến L1 là nhân viên Công ty C từ trước khi thực hiện các gói thầu. Để Công ty C được lựa chọn làm nhà thầu chỉ định, ông L1 đã liên hệ với bị cáo Lệ N1 trao đổi, hứa hẹn sẽ “hậu tạ”, “cám ơn” và liên hệ với bị cáo T trao đổi việc lựa chọn Công ty C được trúng thầu cung cấp Hóa chất xét nghiệm Covid-19 PCR.
- - Hầu hết các gói thầu (05/06 gói) đều có mượn hóa chất, sinh phẩm (mượn hàng) trước khi ký hợp đồng. Khi có nhu cầu mượn hóa chất, sinh phẩm, bị cáo Lệ N1 soạn thảo văn bản mượn hàng trình bị cáo H ký, bị cáo T soạn thảo văn bản mượn hàng trình ông T5 (Giám đốc Sở Y tế) ký rồi gửi cho Trần Tiến L1 (Nhân viên phụ trách bán hàng của Công ty C) để mượn và nhận hàng. Văn bản mượn hàng làm theo mẫu do Công ty C cung cấp, nội dung thể hiện rõ Chủ đầu tư (BVĐK, CDC Đ) cam kết sẽ hoàn thành các thủ tục, hồ sơ để thanh toán đúng giá ghi trên hóa đơn và số lượng hàng đã mượn của Công ty C.
- - Thu thập “Bảng báo giá” không đúng quy định. “Bảng báo giá” có trong 06 hồ sơ chỉ định thầu rút gọn chỉ do Công ty C cung cấp. Kết quả điều tra chứng minh được Nhân viên Công ty C đã làm “Bảng báo giá” của Công ty C và làm khống “Bảng báo giá” của các Doanh nghiệp trong hệ thống Việt Á hoặc của các Công ty đối tác của V, trong đó giá của Công ty C đưa ra là giá thấp nhất nhằm đảm bảo Công ty C đủ điều kiện được chỉ định thầu.
- - Thành viên Tổ chuyên gia, Tổ thẩm định không họp đánh giá, thẩm định hồ sơ thầu mà chỉ ký báo cáo, tài liệu liên quan để hợp thức hoá. Việc làm hồ sơ thầu chỉ là thủ tục để thanh toán số lượng hàng đã mượn sử dụng và để cho Công ty C được tiếp tục cung cấp số lượng hóa chất, sinh phẩm còn lại của gói thầu.
- - Sau khi thanh toán tiền các gói thầu, ông Trần Tiến L1 đã lập danh sách, mức chi tiền hoa hồng cho các cá nhân của các đơn vị, cơ sở y tế ở Đồng Tháp, trong đó bị cáo Lệ N1 được chi 05%, bị cáo H 05%, bị cáo T 02% số tiền đã thanh toán, ông Phan Quốc V2 - Tổng Giám đốc Công ty C đã phê duyệt nhưng chưa chi. Theo lời khai của ông V2, tuy chưa nhận tiền hoa hồng nhưng các bị cáo N1, H, Thêm ngầm hiểu sẽ được nhận, vì trong đấu thầu mua bán thuốc của ngành y tế là phải có chi hoa hồng sau khi thanh toán, nhưng bao nhiêu % họ không đòi hỏi, tùy nơi bán hàng; ông V2 đã duyệt danh sách, mức chi vào ngày 23/11/2021 nhưng thời điểm này dư luận chung chi trong việc mua bán Kit test xét nghiệm Covid-19 quá lớn nên ông V2 cho dừng lại, nếu không bị bắt thì Tết nguyên đán 2022 sẽ chi tiền hoa hồng cho các bị cáo theo % phê duyệt.
- * Về giá thành Test xét nghiệm Covid-19: Căn cứ: Kết quả thực nghiệm điều tra; Kết quả điều tra tại Bộ Y, Công ty C và các đơn vị cung cấp hóa chất đầu vào cho Công ty C phục vụ sản xuất Test xét nghiệm; Hồ sơ, tài liệu, hóa đơn, chứng từ và hạch toán chi phí của Công ty C trong việc sản xuất Test xét nghiệm; Kết quả trưng cầu giám định chất lượng Test xét nghiệm; Lời khai của Phan Quốc V2 và các bị can, đối tượng liên quan thuộc Công ty C, xác định: Giá thành sản xuất 01 Test xét nghiệm Covid-19 của Công ty C là 143.461 đồng (gồm chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp và các chi phí khác, lợi nhuận 5%, thuế giá trị gia tăng 5%).
- * Về hậu quả thiệt hại: Căn cứ năng lực sản xuất, số lượng, chất lượng, giá thành sản xuất 01 Test xét nghiệm Covid-19 và khoản 5 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP ngày 13/12/2017 của liên ngành Trung ương có đủ cơ sở xác định hậu quả thiệt hại như sau: Hậu quả thiệt hại = Số lượng Test xét nghiệm Covid-19 mua bán đã thanh toán x (Giá bán 01 Test xét nghiệm Covid-19 theo hợp đồng – 143.461 đồng/Test).
- + 960 test x (509.250 đồng/test - 143.461 đồng/test) = 351.157.440 đồng.
- + 184.856 test x (470.000 đồng/test - 143.461 đồng/test) = 60.362.693.384 đồng.
- + 1.056 test x (470.000 đồng/test - 143.461 đồng/test) = 344.825.184 đồng.
- + 81.408 test x (367.500 đồng/test - 143.461 đồng/test) = 18.238.566.912 đồng.
- * Thiệt hại về thiết bị, vật tư, sinh phẩm y tế khác: Tại bản Kết luận định giá số 913/KL-ĐGTS ngày 07/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Bộ Y kết luận: Không đủ thông tin để thực hiện việc định giá các hoá chất, vật tư, sinh phẩm y tế khác phục vụ phòng, chống dịch bệnh Covid-19 của CDC các tỉnh. Vì vậy, chưa đủ căn cứ xác định thiệt hại trong việc mua bán Hóa chất tách chiết Covid-19 PCR (Test tách chiết) của Đ5.
Như vậy, 03 gói thầu mua sắm Test xét nghiệm Covid-19 PCR do BV Đ5 làm Chủ đầu tư đã gây thiệt hại cho Nhà nước 60.713.850.824 đồng, gồm:
03 gói thầu Test xét nghiệm Covid-19 PCR do Đ5 làm Chủ đầu tư đã gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước 18.583.392.096 đồng, gồm:
Tổng thiệt hại của 06 gói thầu là 79.297.242.920 đồng.
Hành vi sai phạm cụ thể của từng bị cáo như sau:
1. Đối với bị cáo Trần Văn H:
Trước thời điểm thực hiện các gói thầu, bị cáo H đã có phát sinh liên hệ, trao đổi công việc với ông Trần Tiến L1. Các máy xét nghiệm Covid-19 PCR được lắp đặt, sử dụng tại CDC Đồng Tháp từ ngày 29/4/2021 (trước thời điểm bùng phát dịch bệnh) có thể sử dụng được các loại hóa chất, sinh phẩm của các đơn vị khác sản xuất để chạy xét nghiệm nhưng bị cáo H báo cáo Lãnh đạo Tỉnh là các máy xét nghiệm Covid-19 PCR lắp đặt tại Đ5 chỉ sử dụng được hóa chất, sinh phẩm của Công ty C sản xuất.
- - Đối với 03 gói thầu do BV Đ5 làm Chủ đầu tư: CDC Đồng Tháp là đơn vị nhận hóa chất, sinh phẩm sử dụng xét nghiệm Covid-19 PCR. Có 02 gói thầu bị cáo H đã chỉ đạo, ký duyệt văn bản mượn hàng do bị cáo Lệ N1 soạn thảo để gửi cho Công ty C thực hiện việc mượn hàng trước khi thực hiện các gói thầu hoặc ký hợp đồng; liên hệ, trao đổi với bị cáo T về việc mượn hàng của Công ty C trước khi ký hợp đồng.
- - Đối với 03 gói thầu do Đ5 làm Chủ đầu tư: Bị cáo H là Giám đốc CDC Đồng Tháp, người đại diện đơn vị Chủ đầu tư. Biết rõ các gói thầu xảy ra việc mượn hàng trước khi ký hợp đồng nhưng bị cáo H vẫn chỉ đạo, phân công bà Đặng Kim N3 lập thủ tục, ký duyệt hồ sơ có liên quan đến thực hiện chỉ định thầu rút gọn 03 gói thầu cho Công ty C trúng thầu; chỉ đạo, ký duyệt các văn bản mượn hàng do bị cáo Lệ N1 soạn thảo để gửi Công ty C thực hiện việc mượn hóa chất, sinh phẩm; ký duyệt thủ tục, chứng từ thanh toán tiền cho Công ty C.
Sau khi thanh toán tiền các gói thầu, ông L1 đề xuất chi tiền hoa hồng và được ông Phan Quốc V2 quyết định mức chi cho bị cáo H là 05% số tiền đã thanh toán, vì là người trực tiếp quan hệ mượn, ký hợp đồng mua sinh phẩm, hóa chất với Công ty C.
2. Đối với bị cáo Nguyễn Thị Lệ N1:
Trước khi Công ty C được lựa chọn làm đơn vị cung cấp hóa chất, sinh phẩm xét nghiệm Covid-19 PCR cho tỉnh Đồng Tháp, ông Trần Tiến L1 (Nhân viên Công ty C) và bị cáo Lệ N1 đã liên hệ, trao đổi việc lựa chọn Công ty C. Qua đó, ông L1 được bị cáo Lệ N1 cho biết bị cáo T là người có thể quyết định lựa chọn Công ty C cung cấp hóa chất, sinh phẩm và thỏa thuận thống nhất bị cáo Lệ N1 lo công việc của CDC Đồng Tháp, ông L1 sẽ liên hệ, trao đổi với bị cáo T. Trong những lần liên hệ, trao đổi, ông L1 hứa hẹn sẽ “hậu tạ”, “cám ơn”, “tính toán” cho bị cáo Lệ N1.
- - Đối với 03 gói thầu do BV Đ5 làm Chủ đầu tư: CDC Đồng Tháp là đơn vị nhận sinh phẩm, hóa chất sử dụng xét nghiệm Covid-19. Trong đó, có 02/03 gói thầu, bị cáo Lệ N1 là người soạn thảo văn bản mượn hàng trình bị cáo H ký rồi gửi cho Công ty C; trực tiếp liên hệ, trao đổi với ông L1 để mượn và nhận hàng. Ngoài ra, bị cáo Lệ N1 còn cung cấp thông tin của ông L1 cho bà Đặng Kim N3 (Trưởng khoa Đ5) để liên hệ, thu thập Bảng báo giá và tài liệu liên quan đưa vào hồ sơ thầu.
- - Đối với 03 gói thầu do Đ5 làm Chủ đầu tư: Bị cáo Lệ N1 được phân công phụ trách việc nhận hóa chất, sinh phẩm từ Công ty C và là Thành viên Tổ chuyên gia của 03 gói thầu. Vì đã có mối quan hệ quen biết với ông L1 và thực hiện việc mượn hàng của Công ty C từ trước nên bị cáo Lệ N1 tiếp tục liên hệ với ông L1 để trao đổi, thực hiện việc mượn hàng trước khi ký hợp đồng theo chỉ đạo của bị cáo H; soạn thảo văn bản mượn hàng trình bị cáo H ký duyệt rồi gửi cho Công ty C. Là thành viên Tổ Chuyên gia nhưng bị cáo Lệ N1 không họp đánh giá, xét thầu mà chỉ ký tên vào báo cáo do Kim N3 gửi đến.
Sau khi thanh toán tiền các gói thầu, ông L1 đề xuất chi tiền hoa hồng và được ông Phan Quốc V2 duyệt mức chi cho bị cáo Lệ N1 là 05% số tiền đã thanh toán, vì là người quan hệ mượn, nhận hàng mua sinh phẩm, hóa chất với Công ty C.
3. Đối với bị cáo Huỳnh Văn T:
Ngày 08/7/2021, Sở Y tế tỉnh Đ có quyết định thành lập Tổ mua sắm sinh phẩm, vật tư, trang thiết bị y tế phục vụ công tác phòng chống dịch Covid-19, trong đó bị cáo T là Tổ phó. Tổ mua sắm có trách nhiệm phối hợp với Tiểu ban giúp việc của Ban chỉ đạo phòng chống dịch Covid-19 Tỉnh tham mưu cho Giám đốc Sở Y tế tổ chức thực hiện việc mua sắm sinh phẩm, vật tư, trang thiết bị y tế phục vụ công tác phòng chống dịch Covid-19 theo quy định.
Liên quan đến 06 gói thầu nói trên, với vai trò là Trưởng phòng Kế hoạch Tài chính thuộc Sở Y tế tỉnh Đ và Tổ phó Tổ mua sắm, bị cáo T có trách nhiệm cùng với cán bộ chuyên môn của Phòng và thành viên của Tổ mua sắm xem xét, kiểm tra văn bản xin chủ trương mua sắm và kế hoạch lựa chọn nhà thầu của các đơn vị theo từng giai đoạn, thời điểm; tham mưu, đề xuất, trình Giám đốc Sở Y tế xem xét ký duyệt và trình UBND Tỉnh phê duyệt.
Trước thời điểm thực hiện các gói thầu, qua sự giới thiệu của bị cáo Lệ N1, ông Trần Tiến L1 (Nhân viên Công ty C) đã liên hệ, trao đổi với bị cáo T về việc lựa chọn Công ty C là đơn vị trúng thầu cung cấp sinh phẩm, hóa chất xét nghiệm Covid-19 PCR cho các gói thầu tại tỉnh Đồng Tháp.
Khi thực hiện việc kiểm tra, xem xét văn bản xin chủ trương mua sắm và kế hoạch lựa chọn nhà thầu của các đơn vị, bị cáo T biết rõ các gói thầu xảy ra việc mượn hàng trước khi ký hợp đồng nhưng vẫn tham mưu, đề xuất Giám đốc Sở Y tế ký văn bản đề nghị UBND Tỉnh phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu. Trong đó:
- + Có 01 gói thầu do BV Đ5 làm Chủ đầu tư, bị cáo T là người trực tiếp soạn thảo 03 văn bản mượn hàng, trình Giám đốc Sở Y tế ký duyệt rồi gửi cho Công ty C để mượn sinh phẩm, hóa chất và trực tiếp liên hệ với ông L1 để trao đổi việc mượn hàng.
- + 05/06 gói thầu còn lại, tuy không trực tiếp làm văn bản mượn hàng nhưng bị cáo T là người trao đổi, hướng dẫn bị cáo H thực hiện việc mượn hàng của Công ty C. Có khó khăn trong việc mượn hàng, bị cáo H và bị cáo Lệ N1 đều trao đổi với bị cáo T để được hỗ trợ, thực hiện.
Trong giao nhận sinh phẩm, hóa chất theo các gói thầu, ông L1 đã liên hệ bị cáo T để được hỗ trợ nhanh chóng trong quá trình vận chuyển. Khi các gói thầu chậm thanh toán tiền, ông L1 liên hệ Thêm để được hỗ trợ nhanh chóng thanh toán, T đã điện thoại đôn đốc, đề nghị cán bộ liên quan tại BV Đ5 nhanh chóng hoàn thiện thủ tục thanh toán tiền cho Công ty C.
Ngoài ra, 03 gói thầu do BV Đ5 làm Chủ đầu tư có 02 gói thầu BV Đ5 không làm văn bản gửi Sở Y tế xin chủ trương mua sắm mà do Sở Y tế trực tiếp làm văn bản trình UBND Tỉnh phê duyệt, bị cáo T là người tham mưu và soạn thảo văn bản trình Giám đốc Sở Y tế ký duyệt.
Sau khi thanh toán tiền các gói thầu, ông L1 đề xuất chi tiền hoa hồng và được ông Phan Quốc V2 quyết định mức chi cho bị cáo T là 02% số tiền đã thanh toán, vì là người có vai trò tích cực tác động trong việc Công ty C được cung cấp sinh phẩm, hóa chất cho tỉnh Đồng Tháp cũng như hỗ trợ việc giao nhận, thanh toán tiền.
* Trong quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ các tài sản là vật chứng như sau: 01 (một) điện thoại di động của bị cáo Nguyễn Thị Lệ N1; 01 (một) điện thoại di động của bị cáo Trần Văn H; 01 (một) máy tính xách tay của bà Nguyễn Thị Thúy O; 01 (một) CPU thu tại Phòng làm việc của bị cáo Nguyễn Thị Lệ N1; 01 (một) CPU thu tại Phòng làm việc của bị cáo Trần Văn H.
Tại cáo trạng số 31/CT-VKSĐT-P1 ngày 21 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã truy tố các bị cáo Trần Văn H, Nguyễn Thị Lệ N1 và Huỳnh Văn T về tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” theo quy định tại khoản 3 Điều 222 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trần Văn H, Nguyễn Thị Lệ N1 và Huỳnh Văn T cùng phạm tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”.
- Về hình phạt chính:
- + Áp dụng khoản 3 Điều 222; các điểm s, t, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Trần Văn H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 đến 05 năm.
- + Áp dụng khoản 3 Điều 222; các điểm s, t, v, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Lệ N1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 đến 04 năm.
- + Áp dụng khoản 3 Điều 222; các điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 đến 03 năm.
- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với 03 bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Ngày 12/01/2024 Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án Phan Quốc V2 - Tổng Giám đốc Công ty C và các đồng phạm đã tuyên xử: Buộc bị cáo Phan Quốc V2 bồi thường cho CDC Đồng Tháp 18.583.392.096 đồng, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đ4 60.713.850.824 đồng (Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2024/HS-ST ngày 12/01/2024) nên không đề cập giải quyết trong vụ án này.
- Về vật chứng: đề nghị Tòa tuyên như phần nội dung quyết định bản cáo trạng đã nêu.
Luật sư Huỳnh Thị Quỳnh H2 bào chữa cho bị cáo Trần Văn H phát biểu quan điểm thống nhất với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản của tội danh cũng như các tình tiết giảm nhẹ và việc đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo H, không có ý kiến gì thêm.
Luật sư Lại Phan Xuân Đ1 bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Lê N4 phát biểu quan điểm thống nhất với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản của tội danh, những tình tiết giảm nhẹ mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã áp dụng cho bị cáo N4. Bên cạnh việc thống nhất với tội danh và những tình tiết giảm nhẹ thì kính mong Hội đồng xét xử xem xét những tình tiết sau đây:
- Thứ nhất, bị cáo N4 không có trao đổi với Trần Tiến L1 về việc lựa chọn Công ty C được trúng thầu và không có nhận bất kỳ lợi ích vật chất từ Công ty C.
- Thứ hai, không có việc bị cáo N4 cho biết bị cáo T là người có thể quyết định lựa chọn Công ty C cung cấp hóa chất, sinh phẩm và thỏa thuận với bị cáo L1 về việc bị cáo Ngọc lo công việc của CDC Đồng Tháp, bị cáo L1 sẽ liên hệ, trao đổi với bị cáo T.
- Thứ ba, việc soạn thảo công văn mượn hàng là do tình hình diễn biến dịch bệnh lan nhanh nên bị cáo Lệ N1 thực hiện soạn thảo văn bản mượn hàng và trình lãnh đạo phê duyệt.
- Thứ tư, trong ba gói thầu mà Đ5 làm chủ đầu tư thì bị cáo N1 là thành viên tổ chuyên gia nhưng trong tình hình dịch bệnh phức tạp nên không tham gia xét thầu và trong tổ chuyên gia còn nhiều thành viên khác nên bị cáo Lệ N1 vắng không tham gia cũng không ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chuyên gia.
Do đó, bên cạnh các tình tiết giảm nhẹ là bị cáo N1 thành khẩn khai báo; tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án; có thành tích xuất sắc trong công tác, trong quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự bị cáo đã mang thai, hiện tại bị cáo đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi; đồng thời đại diện của BV Đ5 và Đ5 cũng xin giảm nhẹ cho bị cáo N1. Các tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại điểm s, t, v, n khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Kính mong Hội đồng xét xử áp dụng Điều 17, Điều 54, Điều 58, Điều 29 Bộ luật hình sự để miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo N1.
Luật sư Hồ Thị Xuân H3 bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Lệ N1 phát biểu quan điểm thống nhất với luận cứ của luật sư Xuân Đ1. Luật sư không thống nhất với việc bản cáo trạng và kiểm sát viên cho rằng việc tặng cho máy xét nghiệm PCR là điều kiện đầu tiên để các bị cáo nhận được lợi ích từ Công ty C.
Về việc mượn hàng, luật sư cho rằng bị cáo N1 chỉ là làm theo trách nhiệm trong tình hình khẩn trương của dịch bệnh lúc đó, phục vụ cho việc phòng chống dịch và giảm thiểu thiệt hại về tính mạng và sức khỏe của người dân nên mới mượn hàng trước, bị cáo N1 cũng chỉ thực hiện theo sự chỉ đạo, không có sự hứa hẹn của Công ty C về lợi ích đối với bị cáo N1.
Về vấn đề huê hồng, theo lời khai của Phan Quốc V2 và bị cáo L1 thì không có việc Công ty C chi huê hồng cho bất kì ai ở tỉnh Đồng Tháp. Kiểm sát viên cần xem xét lại cáo trạng và đề xuất lại vấn đề suy đoán không có lợi cho bị cáo N1. Cáo trạng và kiểm sát viên không chứng minh được việc hưởng lợi và sẽ được hưởng lợi của bị cáo N1 trong việc mượn hàng. Việc sai sót trong đấu thầu là do xuất phát từ tình hình dịch bệnh và bị cáo N1 không biết về việc đấu thầu rút gọn cũng như việc đấu thầu này không có tiền lệ.
Việc cho hưởng án treo đối với bị cáo N1 là chưa phù hợp đối với tình hình chung trong việc xét xử đối với các bị cáo khác trên cả nước cụ thể là bản án của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội.
Sở y tế tỉnh Đ và công đoàn Sở y tế tỉnh Đ có văn bản đề nghị xét xử nhân văn cho các bị cáo trong vụ việc này và đại diện của các nguyên đơn dân sự cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Do đó, kính mong Hội đồng xét xử áp dụng Điều 17, Điều 54, Điều 58, Điều 29 Bộ luật hình sự để miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo N1.
Luật sư Đỗ Thành S bào chữa cho bị cáo Huỳnh Văn T phát biểu quan điểm thống nhất với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều khoản của tội danh áp dụng đối với bị cáo T. Đồng thời, vị luật sư cũng phân tích về điều kiện, nguyên nhân phạm tội, cho rằng trong tình hình dịch bệnh chưa có tiền lệ, bị cáo thực hiện theo sự chỉ đạo của cấp trên và do tình hình dịch cấp thiết, bị cáo T không biết việc làm của mình là vi phạm, ý thức của bị cáo là làm thế nào để có sinh phẩm để phục vụ cho dịch bệnh và hạn chế mức thấp nhất thiệt hại về tính mạng và sức khỏe của người dân.
Về việc vi phạm về đấu thầu, bị cáo T làm theo trách nhiệm của bản thân mà không có mục đích vụ lợi, thực hiện theo chủ trương nên mượn hàng trước, bị cáo không tự đề xuất việc mượn hàng, bị cáo thực hiện việc tham mưu, không trực tiếp làm hồ sơ mua sắm các gói thầu. Tất cả đều xuất phát từ tình hình dịch bệnh cấp thiết.
Trong thời gian phòng chống dịch, bị cáo là lực lượng tuyến đầu góp phần hạn chế thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của người dân; đại diện của Đ5 và BV Đ5 xin giảm nhẹ hình phạt và không yêu cầu bị cáo về phần dân sự đây là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt và phạm tội lần đầu, ngày 10/01/2022 Bệnh viện Đ4 có thư cảm ơn về việc bị cáo và gia đình tài trợ cho Bệnh viện Đ4 10 tấn oxy. Do bị cáo T có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội trong hoàn cảnh dịch bệnh chưa có tiền lệ, không có mục đích vụ lợi và là đồng phạm thứ yếu, căn cứ Điều 29 Bộ luật hình sự xin miễn trách nhiệm hình sự để bị cáo tiếp tục tham gia ngành y.
Luật sư Cao Minh T2 bào chữa cho bị cáo Huỳnh Văn T phát biểu quan điểm: Về hành vi của bị cáo T theo như Cáo trạng đã nêu là phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên toà bị cáo cũng thừa nhận những hành vi của mình đã thực hiện các công việc để cho 2 đơn vị BV Đ5 và Đ5 mượn trước sinh vật phẩm y tế của Công ty C rồi sau đó hợp thức các thủ tục đấu thầu rút gọn để thanh toán cho Công ty C số tiền mua hàng sai quy định. Tuy nhiên hành vi trên của bị cáo cũng cần được xem xét trên thực tế về mục đích, hoàn cảnh khách quan, về ý thức chủ quan và vai trò của bị cáo khi thực hiện để qua đó đánh giá phân loại xử lý đối với bị cáo T đúng với tính chất mức độ vi phạm và nguyên nhân, điều kiện hoàn cảnh thực tế của xã hội tại thời điểm xảy ra sự việc để có quan điểm xử lý nhân văn, nhân đạo phù hợp chủ trương chung của Nhà nước trong việc xử lý các vụ án liên quan đến Công ty C. Hành vi của bị cáo T chỉ nhằm mục đích hoàn thành nhiệm vụ của một công chức trong cơ quan chuyên môn và không có sự mong muốn vụ lợi cho bản thân mình. Về mặt khách quan nhìn chung trong ba bị cáo, bị cáo T và bị cáo N1 là người trực tiếp liên hệ và tiến hành các công việc để mượn hàng trước của Công ty C nhưng đều có sự chỉ đạo của lãnh đạo Ngành Y tế và các cấp lãnh đạo chứ không thể do các bị cáo tự làm công việc có tính chất quan trọng và có giá trị rất lớn như vậy.
Xét về mặt ý thức chủ quan của bị cáo T khi thực hiện hành vi của mình lúc đó hoàn toàn phụ thuộc vào sự điều hành chung của Ban chỉ đạo phòng chống dịch.
Ngoài ra với diễn biến phức tạp và tính chất đặc biệt nguy hiểm của dịch bệnh Covid bị cáo T lúc đó chỉ với tinh thần trách nhiệm và phải làm theo mệnh lệnh cấp trên chứ không ý thức được việc làm đó là vi phạm pháp luật.
Với những phân tích về mặt khách quan, chủ quan như đã viện dẫn ở phần trên nên trường hợp vi phạm của bị cáo T thuộc nhóm thứ yếu và được miễn trách nhiệm hình sự. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các chế định của Bộ luật hình sự, chấp nhận cho bị cáo T được miễn trách nhiệm hình sự theo như phần bào chữa của Luật sư S đã trình bày.
Các bị cáo Trần Văn H, Nguyễn Thị Lệ N1 và Huỳnh Văn T không có ý kiến bào chữa bổ sung cũng không tranh luận, thống nhất với quan điểm của luật sư bào chữa cho các bị cáo. Lời nói sau cùng, các bị cáo Trần Văn H, Huỳnh Văn T đều xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Riêng bị cáo Nguyễn Thị Lệ N1 cho rằng hành vi của bị cáo là vô ý, bản thân bị cáo làm theo chỉ đạo của cấp trên để hoàn thành nhiệm vụ. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét miễn hình phạt cho bị cáo.
Người đại diện của các nguyên đơn dân sự không tranh luận.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Từ khi khởi tố vụ án cho đến tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tố tụng: Đối với những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy người này đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Trong quá trình điều tra đã có lời khai rõ ràng và sự vắng mặt của người này không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[3] Xét nội dung vụ án: Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Trần Văn H, Nguyễn Thị Lệ N1 và Huỳnh Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Các bị cáo đều khẳng định hành vi được mô tả trong bản cáo trạng số 31/CT-VKSĐT-P1 ngày 21 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là đúng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có căn cứ xác định:
Với tư cách là Giám đốc Đ5 và đại diện đơn vị Chủ đầu tư, bị cáo Trần Văn H đã thực hiện không đúng quy định về đấu thầu trong chỉ định thầu rút gọn 06 gói thầu do BV Đ5 và Đ5 làm Chủ đầu tư, như: Trao đổi, thống nhất với bị cáo T việc mượn Test xét nghiệm (mượn hàng) của Công ty C trước khi BV Đ5 ký hợp đồng mua bán; chỉ đạo, ký duyệt các văn bản mượn hàng do bị cáo Lệ N1 soạn thảo; biết rõ các gói thầu do Đ5 làm Chủ đầu tư có sai phạm xảy ra nhưng vẫn chỉ đạo cán bộ cấp dưới lập hồ sơ, ký duyệt hồ sơ gói thầu và chứng từ thanh toán tiền cho Công ty C,...
Còn bị cáo Nguyễn Thị Lệ N1, với vai trò là Phó Trưởng khoa xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, thăm dò chức năng thuộc Đ5; Thành viên Tổ Chuyên gia đấu thầu, bị cáo đã thực hiện không đúng quy định về đấu thầu trong chỉ định thầu rút gọn 06 gói thầu do BV Đ5 và Đ5 làm Chủ đầu tư, như: Trao đổi với nhân viên Công ty C (ông Trần Tiến L1) về việc lựa chọn Công ty C được trúng thầu, được ông L1 hứa hẹn sẽ “hậu tạ” “cám ơn”; soạn thảo các văn bản mượn hàng và liên hệ với ông L1 để thực hiện việc mượn, nhận hàng theo chỉ đạo của bị cáo H; không họp xét, đánh giá hồ sơ năng lực các gói thầu,...
Đối với Huỳnh Văn T, với vai trò là Trưởng phòng Kế hoạch Tài chính của Sở Y và Tổ phó Tổ mua sắm, bị cáo đã thực hiện không đúng quy định về đấu thầu trong chỉ định thầu rút gọn 06 gói thầu do BV Đ5 và Đ5 làm Chủ đầu tư, như: Liên hệ, trao đổi với nhân viên Công ty C (ông Trần Tiến L1) về việc lựa chọn Công ty C được trúng thầu; biết rõ các gói thầu có sai phạm xảy ra (mượn hàng trước) nhưng vẫn tham mưu, đề xuất người có thẩm quyền phê duyệt, ký các văn bản mua sắm; trực tiếp soạn thảo văn bản mượn hàng và liên hệ, trao đổi việc mượn hàng với nhân viên Công ty C (ông L1); trao đổi, hướng dẫn bị cáo H thực hiện việc mượn hàng của Công ty C; tác động các đơn vị nhanh chóng hoàn thiện thủ tục thanh toán tiền mua Kit test cho Công ty C,...
Hành vi nêu trên của các bị cáo là không đảm bảo công bằng, minh bạch trong hoạt động đấu thầu, tạo lợi thế cho Công ty C tham gia và trúng thầu, đây là một trong những hành vi bị cấm theo quy định tại khoản 6 Điều 89 Luật Đấu thầu, đã gây thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước số tiền 79.297.242.920 đồng. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã truy tố các bị cáo Trần Văn H, Nguyễn Thị Lệ N1 và Huỳnh Văn T là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Trần Văn H, Nguyễn Thị Lệ N1 và Huỳnh Văn T đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 3 Điều 222 Bộ luật Hình sự.
Tại Điều 222 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây, gây thiệt hại từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
- Can thiệp trái pháp luật vào hoạt động đấu thầu;
- Thông thầu;
- Gian lận trong đấu thầu;
- Cản trở hoạt động đấu thầu;
- Vi phạm quy định của pháp luật về bảo đảm công bằng, minh bạch trong hoạt động đấu thầu;
- Tổ chức lựa chọn nhà thầu khi nguồn vốn cho gói thầu chưa được xác định dẫn đến nợ đọng vốn của nhà thầu;
- Chuyển nhượng thầu trái phép.
2. Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 12 năm:
- Vì vụ lợi;
- Có tổ chức;
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
- Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;
- Gây thiệt hại từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.
3. Phạm tội gây thiệt hại 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”;
[4] Các bị cáo là người có thể chất phát triển bình thường, có đầy đủ năng lực hành vi, đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; các bị cáo đều nhận thức được hành vi, việc làm của mình là không đúng quy định về đấu thầu, vi phạm quy định về đấu thầu là vi phạm pháp luật, sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện; chứng tỏ hành vi của các bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.
[5] Trong vụ án này, các bị cáo Trần Văn H, Nguyễn Thị Lệ N1 và Huỳnh Văn T đều là đồng phạm giúp sức cho Phan Quốc V2 - Tổng Giám đốc Công ty C thực hiện hành vi trái pháp luật về đấu thầu, gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước 79.297.242.920 đồng, vì các bị cáo biết rõ việc mượn hàng sử dụng trước, sau đó hợp thức hóa thủ tục đấu và thanh quyết toán theo giá của Công ty C đưa ra là trái với quy định của pháp luật về đấu thầu nhưng vẫn thực hiện. Trong đó: Bị cáo H là người chỉ đạo cán bộ cấp dưới liên hệ, phối hợp với nhân viên Công ty C (ông L1) mượn Test xét nghiệm sử dụng trước, sau đó hợp thức thủ tục, hồ sơ đấu thầu và thanh toán tiền theo đơn giá mà Công ty C đưa ra. Bị cáo N1 là người thực hiện các hành vi vi phạm quy định về đấu thầu theo chỉ đạo của bị cáo H, trực tiếp soạn thảo các công văn mượn Test xét nghiệm và liên hệ với nhân viên Công ty C (ông L1) thực hiện việc giao, nhận hàng. Ngoài ra, bị cáo còn là người giới thiệu bị cáo T với ông L1 để 02 bên kết nối với nhau trong việc mua bán Test xét nghiệm. Bị cáo T là người tích cực tác động trong việc Công ty C được cung cấp Test xét nghiệm cho Bệnh viện đa khoa và Đ5 cũng như hỗ trợ việc giao nhận hàng và thanh toán tiền cho Công ty C. Các bị cáo thực hiện tội phạm mang tính đồng phạm, đã tiếp nhận ý chí và thực hiện những hành vi cụ thể, mỗi hành vi là một mắc xích trong mối liên kết tổng thể, trực tiếp hoặc gián tiếp dẫn đến hậu quả thiệt hại. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với vai trò, vị trí, tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra.
[6] Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, không những xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực đấu thầu mà còn ảnh hưởng đến hoạt động đúng đắn và uy tín của cơ quan Nhà nước trong hoạt động đấu thầu, gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng cho tài sản của Nhà nước. Do đó, đối với các bị cáo cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có điều kiện cải tạo giáo dục các bị cáo, nhằm phục vụ tình hình chính trị ở địa phương, giữ gìn kỷ cương pháp luật Nhà Nước đồng thời cũng để răn đe và phòng ngừa chung.
[7] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đã trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia thực hiện 05 gói thầu mua Test xét nghiệm của Công ty C trái quy định của pháp luật, mỗi hợp đồng đều gây thiệt hại cho Nhà nước trên 100 triệu đồng nên cả 03 bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Các bị cáo đều tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án, đều có thành tích xuất sắc trong công tác. Riêng bị cáo Nguyễn Thị Lệ N1 trong quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự bị cáo đã mang thai. Hiện bị cáo là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, đơn chiếc, cha ruột bị bệnh, con còn nhỏ. Bị cáo T được Bệnh viện Đ4 có thư cảm ơn về việc bị cáo và gia đình tài trợ cho Bệnh viện Đ4 10 tấn oxy.
Các bị cáo đều là đồng phạm giúp sức cho Phan Quốc V2 - Tổng Giám đốc Công ty C thực hiện hành vi trái pháp luật về đấu thầu, gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước nhưng hậu quả đã được khắc phục xong. Bên cạnh đó, các bị cáo là lực lượng tuyến đầu, trực tiếp tham gia và có những đóng góp nhất định vào kết quả công tác phòng chống dịch Covid-19 tại tỉnh Đồng Tháp, góp phần hạn chế thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của người dân. Đại diện nguyên đơn dân sự xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s, t, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo H; tại các điểm s, t, v, n khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê N4 và tại các điểm s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T. Do đó, cũng cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần về hình phạt.
Các bị cáo đều có nhân thân tốt, có địa chỉ rõ ràng và với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, xét thấy không cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo thường trú giám sát, giáo dục cũng đủ để cho các bị cáo rèn luyện, sửa chữa để trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật. Do đó, cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho cả 03 bị cáo được hưởng án treo.
[8] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo bị cáo Trần Văn H, Nguyễn Thị Lệ N1 và Huỳnh Văn T.
[9] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều khoản của tội danh cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức hình phạt đối với các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
Xét lời bào chữa của các vị luật sư bào chữa cho các bị cáo về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận. Đối với phần trình bày khác của các luật sư nêu ra để bào chữa cho các bị cáo như ở phần trên là một trong những cơ sở để Hội đồng xét xử đánh giá khi quyết định hình phạt.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Vì số tiền thu lợi bất chính, trách nhiệm bồi thường thiệt hại và trách nhiệm dân sự của Công ty C thuộc các vụ án “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại các địa phương (trong đó có tỉnh Đồng Tháp) được giải quyết trong vụ án do Cơ quan CSĐT Bộ C1 thụ lý. Hơn nữa, ngày 12/01/2024 TAND Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án Phan Quốc V2 - Tổng Giám đốc Công ty C và các đồng phạm đã tuyên xử: Buộc bị cáo Phan Quốc V2 bồi thường cho CDC Đồng Tháp 18.583.392.096 đồng, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đ4 60.713.850.824 đồng theo Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2024/HS-ST ngày 12/01/2024, nên không đề cập giải quyết trong vụ án này.
[11] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) điện thoại di động của bị can Nguyễn Thị Lệ N1, được niêm phong trong phong bì màu trắng, có đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Đ và có các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Thị Lệ N1, Nguyễn Minh T10 (Đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong); 01 (một) điện thoại di động của bị can Trần Văn H, được niêm phong trong phong bì màu trắng, có đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Đ và có các chữ ký ghi họ tên Trần Văn H, Nguyễn Minh T10 (Đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong); 01 (một) máy tính xách tay, 01 (một) chuột, 01 (một) cục sạc của Nguyễn Thị Thúy O, máy tính xách tay được dán giấy niềm phong, có đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Đ và có các chữ ký ghi họ tên Nguyễn T11, Nguyễn Minh T10 (Đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong) là các phương tiện dùng vào việc phạm tội. Xét thấy cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với 01 (một) CPU thu tại Phòng làm việc của bị can Nguyễn Thị Lệ N1, được dán giấy niêm phong có đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Đ và có chữ ký của Bùi Văn N5, Nguyễn Thị Lệ N1, Đặng Thị Bích P2 (Đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong); 01 (một) CPU thu tại Phòng làm việc của bị can Trần Văn H, được dán giấy niêm phong, có đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Đ và có các chữ ký ghi họ tên Trần Văn H, Bùi Văn N5 (Đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong) không có lỗi trong việc để cho các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Xét thấy cần trả lại cho Đ5.
[12] Về án phí: Các bị cáo Trần Văn H, Nguyễn Thị Lệ N1 và Huỳnh Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
[13] Đối với những người có liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Hoàng V - Phó Giám đốc phụ trách BV Đ5: Là đại diện Chủ đầu tư 03 gói thầu của BVĐK Đ, là người ký hồ sơ thầu, hợp đồng mua bán và chứng từ thanh toán tiền cho Công ty C.
- Bà Nguyễn Thị Thúy O - Trưởng khoa Dược BVĐK Đồng Tháp: Là Tổ phó Tổ Chuyên gia của 03 gói thầu do BV Đ5 làm Chủ đầu tư, có nhiệm vụ giúp việc, tham mưu cho Tổ trưởng đánh giá hồ sơ thầu; phụ trách liên hệ Nhà thầu; phân công thành viên trong Tổ thực hiện nhiệm vụ; phối hợp với Phòng Tài chính Kế toán làm thủ tục, hồ sơ thanh toán.
- Bà Huỳnh Minh T3 - Kế toán trưởng, Trưởng phòng Tài chính Kế toán BVĐK Đồng Tháp: Là người kiểm tra, ký duyệt chứng từ, thủ tục thanh toán tiền 03 gói thầu do BV Đ5 làm Chủ đầu tư cho Công ty C. Vì hồ sơ được cung cấp, kiểm tra đầy đủ nên thực hiện thủ tục thanh toán, khi làm thủ tục không biết việc mượn hàng trước khi ký hợp đồng, không được hưởng lợi gì từ Công ty C, do đó không truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Bà Đặng Kim N3 - Trưởng khoa Dược CDC Đồng Tháp:
- + Đối với 03 gói thầu do Đ5 làm Chủ đầu tư: Là người phụ trách thực hiện hồ sơ chỉ định thầu rút gọn và Tổ phó Tổ Thẩm định của 03 gói thầu, đã có những sai phạm như: Không liên hệ với các Doanh nghiệp thu thập Bảng báo giá mà chỉ liên hệ với ông Trần Tiến L1 để yêu cầu cung cấp 03 Bảng báo giá, trong đó báo giá của Công ty C có giá thấp nhất so với báo giá của 02 Doanh nghiệp còn lại; không tham gia họp thẩm định xét thầu; Tổ Chuyên gia và Tổ Thẩm định không họp xét, thẩm định hồ sơ thầu mà chỉ làm báo cáo gửi các thành viên trong 02 Tổ ký tên, làm thủ tục cho Công ty C trúng thầu; lập phiếu xuất - nhập kho không đúng quy trình khi thanh quyết toán cho Công ty C.
- + Đối với 03 gói thầu do BV Đ5 làm Chủ đầu tư: Được CDC Đồng Tháp phân công làm thành viên Tổ chuyên gia, có nhiệm vụ thu thập các Bảng báo giá nhưng bà Kim N3 chỉ liên hệ với Công ty C hoặc Phòng Kế hoạch Tài chính Sở Y tế để nhận các Bảng báo giá.
- Bà Nguyễn Thái V1 - Kế toán trưởng, Trưởng phòng Tài chính Kế toán CDC Đồng Tháp: Là người kiểm tra, ký duyệt chứng từ, thủ tục thanh toán tiền 03 gói thầu do Đ5 làm Chủ đầu tư cho Công ty C. Vì hồ sơ được cung cấp, kiểm tra đầy đủ nên thực hiện thủ tục thanh toán, không biết việc mượn hàng trước khi ký hợp đồng, không hưởng lợi hoặc hoa hồng gì từ Công ty C. Do đó, không xem xét trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
- Ông Nguyễn Lâm Thái T5, nguyên Giám đốc Sở Y: Là người ký duyệt văn bản mượn hàng 01/03 gói thầu do BV Đ5 làm Chủ đầu tư và ký các văn bản có liên quan đến 06 gói thầu thuộc thẩm quyền của Sở Y do bị cáo Huỳnh Văn T soạn thảo, tham mưu, đề xuất.
- Đối với các cá nhân của Công ty C, gồm: Phan Quốc V2, Hồ Thị Thanh T7, Vũ Đình H7, Trần Tiến L1, Trần Thị H8, Đinh Thị H9, Phan Tôn Noel T6: Do đã bị xem xét, xử lý trong vụ án do Cơ quan CSĐT (C03) Bộ C1 thụ lý nên không xem xét xử lý trong vụ án này.
Trong thực hiện nhiệm vụ có một số sai phạm như: Khi được bà Thúy O xin ý kiến, báo cáo những việc không phù hợp như: Chủ đầu tư (BV Đ5) không phải là đơn vị xin chủ trương mua sắm mà do Sở Y tế tỉnh Đ thực hiện, văn bản xin chủ trương thể hiện nội dung hàng hóa mua sắm do Công ty C sản xuất sẽ làm ảnh hưởng đến việc lựa chọn nhà thầu chỉ định nhưng ông V vẫn chỉ đạo làm hồ sơ chỉ định thầu rút gọn 03 gói thầu. BV Đ5 không có nhu cầu nhưng vẫn làm hồ sơ chỉ định thầu rút gọn để mua sắm hóa chất cho Đ5 sử dụng, là Chủ đầu tư nhưng BVĐK Đồng Tháp không quản lý được số lượng hàng hóa CDC Đồng Tháp đã giao nhận. Biết gói thầu thứ 03 có mượn hàng của Công ty C trước khi ký hợp đồng nhưng vẫn ký duyệt hồ sơ thầu. Khi thanh toán tiền cho Công ty C, phát hiện có việc mượn hàng trước khi ký hợp đồng, ông V liên hệ thì được bị cáo T đồng ý cho thanh toán nên ông V thực hiện.
Tuy có sai phạm nhưng BV Đ5 làm Chủ đầu tư 03 gói thầu theo chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh (BV Đ5 là đơn vị mua còn CDC Đồng Tháp là đơn vị sử dụng Test xét nghiệm), ông V thực hiện theo chỉ đạo của cấp trên, không liên hệ với Công ty C, không biết việc mượn hàng trước khi thực hiện gói thầu thứ 01 và thứ 02, không được hưởng lợi gì, đảm nhận nhiều nhiệm vụ trong quá trình phòng chống dịch bệnh Covid-19 và tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong quá trình điều tra vụ án nên không truy cứu trách nhiệm hình sự là phù hợp.
Trong thực hiện nhiệm vụ có một số sai phạm như: 02/03 gói thầu bà O chỉ phân công Đặng Kim N3 tìm báo giá hoặc nhận báo giá từ Phòng Kế hoạch Tài chính của Sở Y; BV Đ5 làm Chủ đầu tư nhưng cả 03 gói thầu đều do Sở Y xin chủ trương mua sắm, văn bản xin chủ trương mua sắm của Sở Y tế thể hiện rõ mặt hàng mua sắm do Công ty C sản xuất, việc này làm ảnh hưởng đến lựa chọn nhà thầu chỉ định nhưng vẫn lập hồ sơ chỉ định thầu; gói thầu thứ 03 biết có việc mượn hàng trước khi ký hợp đồng nhưng vẫn phối hợp làm thủ tục, hồ sơ thanh toán theo chỉ đạo của ông V; ký khống Phiếu xuất - nhập hàng cả 03 gói thầu để thanh toán tiền cho Công ty C. Ngày 01/6/2022, bà Thúy O đã chết nên không xem xét xử lý là phù hợp.
Sai phạm của ông V và bà T3 tuy không bị xử lý hình sự, nhưng cần phải xử lý nghiêm về kỷ luật Đảng và Chính quyền nên Cơ quan điều tra đã có văn bản kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý theo quy định của Đảng và Nhà nước là có căn cứ.
Tuy có sai phạm nhưng bà Kim N3 thực hiện theo sự chỉ đạo, phân công của cấp trên, là người phụ thuộc, không được hưởng lợi gì và tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong quá trình điều tra vụ án nên không truy cứu trách nhiệm hình sự là phù hợp.
Việc ông T5 ký các văn bản trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, lan rộng nhanh; yêu cầu phòng chống dịch hết sức cấp bách, phải đảm bảo sinh phẩm, vật tư y tế phục vụ công tác phòng chống dịch bệnh (theo chỉ đạo của Ban Chỉ đạo phòng chống dịch Covid-19 Tỉnh), các văn bản do cấp dưới tham mưu, đề xuất; ông T5 không liên hệ với Công ty C, không được hưởng lợi gì. Bên cạnh đó, ông T5 đã bị Ủy ban Kiểm tra Trung ương xử lý kỷ luật về Đảng với hình thức “Cảnh cáo” nên không tiếp tục xem xét trách nhiệm của ông T5 trong vụ án này là phù hợp.
[14] Bị cáo, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn H, Nguyễn Thị Lệ N1 và Huỳnh Văn T cùng phạm tội “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng”.
Áp dụng khoản 3 Điều 222; Điều 17; các điểm s, t, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 54; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Văn H 02 (hai) năm tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 năm tính từ ngày tuyên án (ngày 22/5/2024).
Giao bị cáo Trần Văn H cho Ủy ban nhân dân Phường D1, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân Phường D1, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp đang trong thời gian thử thách mà bị cáo Trần Văn H phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Trường hợp bị cáo Trần Văn H thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Áp dụng khoản 3 Điều 222; Điều 17; các điểm s, t, v, n khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 54; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Lê N4 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 năm tính từ ngày tuyên án (ngày 22/5/2024).
Giao bị cáo Nguyễn Thị Lệ N1 cho Ủy ban nhân dân Phường C2, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân Phường C2, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp đang trong thời gian thử thách mà bị cáo Nguyễn Thị Lệ N1 phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Thị Lệ N1 thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Áp dụng khoản 3 Điều 222; Điều 17; các điểm s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 54; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T 01 (một) năm tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 năm tính từ ngày tuyên án (ngày 22/5/2024).
Giao bị cáo Huỳnh Văn T cho Ủy ban nhân dân Phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân Phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp đang trong thời gian thử thách mà bị cáo Huỳnh Văn T phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Trường hợp bị cáo Huỳnh Văn T thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Do số tiền thu lợi bất chính, trách nhiệm bồi thường thiệt hại và trách nhiệm dân sự của Công ty C thuộc các vụ án “Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại các địa phương (trong đó có tỉnh Đồng Tháp) được giải quyết trong vụ án do Cơ quan CSĐT Bộ C1 thụ lý. Hơn nữa, ngày 12/01/2024 TAND Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án Phan Quốc V2 - Tổng Giám đốc Công ty C và các đồng phạm đã tuyên xử: Buộc bị cáo Phan Quốc V2 bồi thường cho CDC Đồng Tháp 18.583.392.096 đồng, Bệnh viện đa khoa tỉnh Đ4 60.713.850.824 đồng theo Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2024/HS-ST ngày 12/01/2024, nên không đề cập giải quyết trong vụ án này.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2; khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động của bị can Nguyễn Thị Lệ N1, được niêm phong trong phong bì màu trắng, có đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Đ và có các chữ ký ghi họ tên Nguyễn Thị Lệ N1, Nguyễn Minh T10 (Đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong); 01 (một) điện thoại di động của bị can Trần Văn H, được niêm phong trong phong bì màu trắng, có đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Đ và có các chữ ký ghi họ tên Trần Văn H, Nguyễn Minh T10 (Đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong); 01 (một) máy tính xách tay, 01 (một) chuột, 01 (một) cục sạc của Nguyễn Thị Thúy O, máy tính xách tay được dán giấy niềm phong, có đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Đ và có các chữ ký ghi họ tên Nguyễn T11, Nguyễn Minh T10 (Đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong).
Trả lại cho Đ5 (một) CPU thu tại Phòng làm việc của bị can Nguyễn Thị Lệ N1, được dán giấy niêm phong có đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Đ và có chữ ký của Bùi Văn N5, Nguyễn Thị Lệ N1, Đặng Thị Bích P2 (Đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong); 01 (một) CPU thu tại Phòng làm việc của bị can Trần Văn H, được dán giấy niêm phong, có đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Đ và có các chữ ký ghi họ tên Trần Văn H, Bùi Văn N5 (Đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong).
(Các vật chứng nêu trên hiện Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp đang quản lý).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Trần Văn H, Nguyễn Thị Lệ N1 và Huỳnh Văn T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án văn hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Khắc Thịnh |
Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng
- Số bản án: 23/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng
