Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁP MƯỜI

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 23/2024/HS-ST

Ngày: 22 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Tinh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1- Ông Nguyễn Văn Tuấn.

2- Bà Nguyễn Thị Hồng Nguyên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Tấn Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Tuấn Kiệt – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án huyện T, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 23/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2025 của Tòa án huyện T, đối với các bị cáo:

1- Họ và tên: Trần Đăng K, sinh ngày 26/3/2005; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Đồng Tháp; Nơi thường trú: Khóm C, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Trần Văn Đ, sinh năm 1982 (còn sống) và bà Phùng Thị Cẩm L, sinh năm 1988 (còn sống); Vợ tên Hồ Thị Trúc L1, sinh năm 2004; có 01 người con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

2- Họ và tên: Phan Văn N, sinh ngày 10/4/2002; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Đồng Tháp; Nơi thường trú: Khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Chỗ ở hiện nay: Ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; con ông Phan Văn H (đã chết); Con bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1979 (còn sống); Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Có 01 tiền án, ngày 04/5/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm 06 tháng tù về Tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 13/7/2022, chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không; Tạm giữ: Không; Bắt tạm giam ngày 06/01/2024; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T và bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3- Họ và tên: Nguyễn Thị Cẩm T1, sinh ngày 06/8/1997; Nơi sinh: Đồng Tháp; Giới tính: Nữ; Nơi thường trú: Ấp C, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Nguyễn Văn L2, sinh năm 1976 (còn sống) và bà Phan Thị Ngọc L3, sinh năm 1972 (còn sống); Chồng tên Trần Tấn T2, sinh năm 1992 (đã ly hôn); có 02 người con lớn sinh năm 2013 và nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  1. Nguyễn Hoàng Đ1, sinh năm 1975. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Nguyễn Văn N1, sinh năm 1985. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Thế B, sinh năm 1990. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  2. Nguyễn Thị Thu V, sinh năm 1990. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Khóm A, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng:

  1. Phạm Văn K1, sinh năm 1967. (vắng mặt)
  2. Phạm Văn B1, sinh năm 1976. (vắng mặt)
  3. Phạm Văn T3, sinh năm 1972. (vắng mặt)
  4. Phạm Thanh P, sinh năm 1958. (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Các bị cáo Trần Đăng K, Phan Văn N và Nguyễn Thị Cẩm T1 là bạn của nhau. Do không có tiền tiêu xài, bị cáo K đã rủ rê các bị cáo N và T1 nhiều lần cùng nhau đi cắt trộm mít trái của người khác trên địa bàn huyện T, tỉnh Đồng Tháp và huyện T, tỉnh Long An bán lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân. Cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào khoảng 09 giờ ngày 13/10/2023, trong lúc đang ở nhà tại Khóm C, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, K điện thoại cho N rủ đi trộm mít thì N đồng ý. Sau đó, K điều khiển xe mô tô đi đến các địa bàn lân cận để tìm vườn có mít trái đã lớn để tối đến cùng N đi trộm và đã tìm gặp vườn mít của ông Nguyễn Văn N1 ở gần cầu K thuộc ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, N điều khiển xe mô tô VISION màu trắng, biển số 62E1-289.43 chở T1 cùng đến nhà K. Lúc này, K tiếp tục rủ N và T1 đi đến vườn mít của ông Ngô t thì N và T1 đều đồng ý. N chuẩn bị mang theo một con dao dài lưỡi dài 20cm, cán dao màu đen dài 12cm dùng để cắt mít. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 14/10/2023, N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave RS màu đỏ, biển số 59D2-963.73 có gắn sẵn hai giỏ xách của K chở T1 đi đến vườn mít của ông Ngô t1, K điều khiển xe mô tô biển số 62E1-289.43 của T1 đến sau.

Khi đến vườn mít, T1 đứng ngoài xe cảnh giới, N vào vườn tìm mít để cắt trộm. Lúc này, K điều khiển xe đến gặp T1, sau đó nói nhà có việc nên điều khiển xe về nhà trước. Đến khoảng 01 giờ 30 phút cùng ngày, N cắt được 23 trái mít, có tổng trọng lượng là 176kg, trị giá 2.436.000 đồng (Theo Kết luận định giá tài sản số 62/KL-HDĐG ngày 22/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, tỉnh Long An). N đem mít trộm được ra xe rồi cùng T1 bỏ mít vào 02 giỏ xách, xong N điều khiển xe chở T1 đem mít về nhà T1 ở ấp C, xã Đ, huyện T cất giấu rồi cả hai quay lại nhà của K. Khi gặp K, N có nói cho K biết đã trộm được 23 trái mít, giấu ở nhà T1 rồi cả ba ngủ lại tại nhà K.

Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, K điều khiển xe mô tô biển số 62E1-289.43 chở T1 về nhà của T1. K thuê xe ba gác của người không rõ họ tên, địa chỉ chở mít trộm được đến vựa mít “Bằng” của anh Nguyễn Thế B và chị Nguyễn Thị Thu V ở Khóm A, thị trấn M, huyện T bán được số tiền 2.436.000 đồng, nhưng anh B trả cho K tròn 2.500.000 đồng. Số tiền này, K trả tiền thuê xe chở mít 200.000 đồng, chia cho N 300.000 đồng, K và T1 mỗi người 1.000.000 đồng.

Vụ thứ hai: Với thủ đoạn nêu trên, khoảng 00 giờ ngày 15/10/2023, K điều khiển xe mô tô biển số 62E1-289.43 chở T1, N điều khiển xe mô tô biển số 59D2-963.73 từ nhà K ở Khóm C, thị trấn M, huyện T đi đến vườn mít của ông Nguyễn Hoàng Đ1 ở cặp đường lộ nông thôn thuộc ấp B, xã Đ, huyện T để cắt trộm mít. Khi đến nơi, Tiên rọi đèn để Khoa cắt trộm được 21 trái mít các loại có tổng trọng lượng 137,3 kg trị giá 2.277.900 đồng (Theo Kết luận định giá tài sản số 43/KL-HĐĐG ngày 20/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T). Trong lúc T1 và K đang tiếp tục cắt trộm mít thì bị ông Đ1 phát hiện truy bắt. K bơi sang bên kia sông bỏ trốn, N điều khiển xe mô tô biển số 62E1-289.43 bỏ chạy về nhà, riêng T1 bị ông Đ1 bắt giữ cùng vật chứng là xe mô tô biển số 59D2-963.73 cùng những trái mít Khoa đã cắt trộm.

Đến sáng ngày 16/10/2023, N đầu thú. Tại cơ quan điều tra, K, N, T1 thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Ngoài ra, quá trình điều tra K khai nhận trước đó, vào các ngày 08, 10 và 12/10/2023 đã cùng N và T1 thực hiện 03 lần trộm mít. Trong đó, ngày 08/10/2023, trộm trên địa bàn xã Đ, huyện T nhưng không nhớ vị trí, đem về bán cho anh B được số tiền 1.182.000 đồng; ngày 10/10/2023, trộm tại vườn nhà ông Đ1 đem về bán cho anh B được số tiền 1.585.000 đồng, anh B cho thêm 50.000 đồng, tổng cộng được 1.635.000 đồng; ngày 12/10/2023, trộm tại địa bàn xã Đ nhưng không nhớ được vị trí, đem về bán cho anh B được số tiền 334.500 đồng (giá trị tài sản được xác định Theo Kết luận định giá tài sản số 43/KL-HĐĐG ngày 20/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T). Đối với các lần trộm vào ngày 08 và 12/10/2023, Cơ quan điều tra đã có thông báo truy tìm nhưng đến nay chưa xác định được ai là bị hại trong các lần trộm này.

Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ:

- Thu giữ lúc bắt quả tang: 21 trái mít (cân thực tế có tổng trọng lượng là 137,3kg), hiện đã xử lý trao trả cho ông Đ1; 01 con dao thái có tổng chiều dài 32cm, lưỡi dao dài 20cm, cán dao màu đen dài 12cm; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda WaveRS màu đỏ đen, biển số 59D2-963.73, bên trong cốp xe thu giữ 01 ví da màu đen bên trong có 425.000 đồng và một thẻ căn cước công dân tên Phạm Văn N2 (hiện đã trao trả lại cho N2 số tiền 425.000 đồng và căn cước công dân); thu giữ trên người của Nguyễn Thị Cẩm T1 số tiền 300.000 đồng và 01 hóa đơn mua bán mít ngày 14/10/2023 của vựa mít “BẰNG” địa chỉ khóm A, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (Hiện đã trả cho T1 số tiền 300.000 đồng).

- Bị cáo T1 giao nộp: 01 xe mô tô VISION màu trắng, biển số 62E1-289.43, 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đỏ, nứt màn hình (hiện đã trả lại cho T1 điện thoại Samsung).

- Thu giữ của bị cáo K: 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đỏ, nứt màn hình. Hiện đã trả điện thoại lại cho K do không liên quan đến việc phạm tội.

- 04 hóa đơn mua bán mít của vựa mít Bằng các ngày 08, 10, 12 và 14/10/2023 và 01 đĩa DVD có 04 đoạn video được camera tại vựa mít “Bằng” ghi lại hình ảnh bị cáo K và T1 đến bán mít vào các ngày nêu trên do anh B giao nộp.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong cho các bị hại N1 và Đ1 giá trị tài sản theo kết luận định giá, bị hại đã nhận tiền và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Bản Cáo trạng số 24/CT-VKSTM ngày 26/4/2024 của Viện kiểm sát huyện T đã truy tố các bị cáo Trần Đăng K, Phan Văn N và Nguyễn Thị Cẩm T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Vị đại diện Viện kiểm sát huyện T thực hiện quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, đã đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết tội đối với các bị cáo. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, căn cứ nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về tội danh:

Căn cứ Điều 173 của Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trần Đăng K, Phan Văn N và Nguyễn Thị Cẩm T1 cùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Trần Đăng K từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Phan Văn N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T1 từ 09 tháng đến 01 năm tù.

+ Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên như phần đề nghị của Bản cáo trạng.

+ Về trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong.

- Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, các bị cáo không tranh luận gì. Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đã nhận thức được hành vi của các bị cáo là sai trái và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, để các bị cáo sớm về với gia đình, làm một con người tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét thấy, tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản Cáo trạng, cụ thể: Lợi dụng lúc đêm khuya, vườn mít của các bị hại không người trông giữ, các bị cáo K, N, T1 vào các ngày 08, 10, 12, 14 và 15/10/2023 đã thực hiện 05 lần cắt trộm mít trái, cụ thể:

- Ngày 10 và 15/10/2023 trộm của bị hại Nguyễn Hoàng Đ1 tại ấp B, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp với giá trị tài sản trộm được lần lượt là 1.585.000 đồng và 2.277.900 đồng;

- Ngày 14/10/2023 trộm của bị hại Nguyễn Văn N1 ở ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An với giá trị tài sản trộm được là 2.436.000 đồng;

- Các ngày 08 và 12/10/2023 trộm tại địa bàn xã Đ, huyện T, nhưng không xác định được chủ sở hữu với giá trị tài sản trộm được lần lượt là 1.182.000 đồng và 334.500 đồng.

Bị cáo N, do có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nên bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với 05 lần trộm nêu trên, với tổng giá trị tài sản là 7.815.400 đồng.

Đối với các bị cáo Trần Đăng K và Nguyễn Thị Cẩm T1, do chưa có tiền án, tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản nên bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với 02 lần trộm có giá trị trên 2.000.000 đồng là vụ trộm ngày 14 và 15/10/2023 của bị hại Nguyễn Văn N1 và Nguyễn Hoàng Đ1, tổng giá trị tài sản truy cứu trách nhiệm hình sự là 4.713.900 đồng.

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Bản Kết luận định giá tài sản, lời khai của các bị hại, người làm chứng, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án.

Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận hành vi phạm tội của các bị cáo Trần Đăng K, Phan Văn N và Nguyễn Thị Cẩm T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, như sau:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”

[3] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo:

Bản thân các bị cáo đều đã trưởng thành, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Đặt biệt là bị cáo N, bản thân bị cáo đã có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, hơn hai bị cáo còn lại, bị cáo là người biết rõ nhất hậu quả của việc trộm cắp tài sản là như thế nào và pháp luật quy định ra sao. Đáng lý ra, khi bị cáo K rủ bị cáo và bị cáo T1 đi tìm mít trái để trộm thì bị cáo phải biết khuyên ngăn, ngăn cản hoặc không tham gia, nhưng ngược lại xuất phát từ việc các bị cáo chay lười lao động, muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà không phải bỏ công sức lao động như bao người khác nên các bị cáo đã cùng nhau lén lúc trộm mít trái của các bị hại nên phạm tội. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và tội phạm đã hoàn thành. Vụ án này là vụ án có đồng phạm nhưng thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có tổ chức, phân công vai trò cụ thể cho từng bị cáo. Trong vụ án này, bị cáo K giữ vai trò chính là người rủ rê và trực tiếp thực hiện tội phạm, bị cáo N và T1 là đồng phạm cùng tham gia thực hiện hành vi trộm cắp với bị cáo K. Do đó, cần có một mức hình phạt cho tương xứng với từng hành vi của các bị cáo.

[4] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, thể hiện thái độ xem thường pháp luật của các bị cáo. Do đó, việc đưa các bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là cần thiết, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để bị cáo có điều kiện học tập, cải tạo trở thành công dân tốt và sống có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời, nhằm góp phần phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

[5] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét tình tiết “các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Riêng, bị cáo N ra đầu thú nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo K tại phiên tòa bị cáo có khai là ông ngoại của bị cáo là người có công cách mạng nhưng công gì thì bị cáo không biết (bị cáo chỉ nghe nói) và bị cáo cũng không nộp được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Riêng, bị cáo N còn có thêm tình tiết tăng năng là phạm tội thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, cần phạt tiền bổ sung các bị cáo mới đủ sức răng đe nên Hội đồng xét xử quyết định phạt tiền bổ sung đối với bị cáo K là 10.000.000 đồng, bị cáo Nghĩa là 5.000.000 đồng, bị cáo T1 là 5.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận tiền bồi thường nên không yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

[9] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên xử:

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 con dao thái có tổng chiều dài 32cm, lưỡi dao dài 20cm, càn dao màu đen dài 12cm; 01 xe mô tô nhãn hiệu, 01 xe mô tô Honda WaveRS màu đỏ đen, biển số 59D2-963.73 của bị cáo K, 01 xe mô tô VISION màu trắng, biển số 62E1-289.43 của bị cáo T1. Đây là các phương tiện và công cụ mà các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

- Tịch thu lưu hồ sơ vụ án 04 hóa đơn mua bán mít của vựa mít Bằng các ngày 08, 10, 12 và 14/10/2023 và 01 đĩa DVD có 04 đoạn video được camera tại vựa mít “Bằng” ghi lại hình ảnh bị can K và T1 đến bán mít.

- Biện pháp tư pháp: Buộc các bị cáo K, T1, N liên đới nộp lại số tiền 1.516.500 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

[10] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Đối với chị Nguyễn Thị Thu V và anh Nguyễn Thế B, tại thời điểm mua mít, không biết do các bị cáo K, N, T1 phạm tội mà có nên không xem xét xử lý là phù hợp.

[12] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát huyện T về tội danh, khung hình phạt của tội danh, mức hình phạt và các nội dung khác. Hội đồng xét xử xét thấy là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Căn cứ Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Đăng K, Phan Văn N và Nguyễn Thị Cẩm T1 cùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Trần Đăng K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Phan Văn N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 06/01/2024.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T1 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

3. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Phạt bị cáo Trần Đăng K số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), bị cáo Phan Văn N số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), bị cáo Nguyễn Thị Cẩm T1 số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.

4. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 con dao thái có tổng chiều dài 32cm, lưỡi dao dài 20cm, càn dao màu đen dài 12cm; 01 xe mô tô nhãn hiệu, 01 xe mô tô Honda WaveRS màu đỏ đen, biển số 59D2-963.73, 01 xe mô tô VISION màu trắng, biển số 62E1-289.43.

(Hiện các vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười đang tạm quản lý)

- Tịch thu lưu hồ sơ vụ án 04 hóa đơn mua bán mít của vựa mít Bằng các ngày 08, 10, 12 và 14/10/2023 và 01 đĩa DVD có 04 đoạn video được camera tại vựa mít “Bằng” ghi lại hình ảnh bị cáo K và T1 đến bán mít.

- Biện pháp tư pháp: Buộc các bị cáo K, T1, N liên đới nộp lại số tiền 1.516.500 đồng (một triệu năm trăm mười sáu nghìn năm trăm đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.

5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Trần Đăng K, Phan Văn N, Nguyễn Thị Cẩm T1: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án Tỉnh;
  • - VKS Tỉnh + Huyện;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - Công an Huyện;
  • - Chi cục THADS Huyện;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HSVA & VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Tinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 23/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger