TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2024/HNGĐ-ST
Ngày 22-4-2024
V/v Tranh chấp hôn nhân gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Thành.
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Vũ Thị Nga.
- Bà Hoàng Thị Len.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Sáng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 37/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1988
Đăng ký HKTT: Tổ I, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
* Bị đơn: Anh Lê Văn K, sinh năm 1989
Đăng ký HKTT: Tổ I, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
Địa chỉ hiện nay: Kagawaken, M, dokicyou, higashi 7cyou me 496Sanribuhaitru 200 go Japan.
(Chị B, anh K có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại Đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 14/3/2024, Bản tự khai, Đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 19/3/2024; Nguyên đơn - chị Nguyễn Thị B trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Văn K kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình ngày 07/02/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc, đến năm 2019 anh K đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Từ đó đến nay hai vợ chồng chị thường xuyên không liên lạc, hỏi han, quan tâm gì đến nhau dẫn đến mâu thuẫn, cãi vã, ảnh hưởng đến tình cảm vợ chồng khiến cho mục đích xây dựng hôn nhân không đạt được. Chị và anh K đã nhiều lần liên lạc, trao đổi để giải quyết mâu thuẫn vợ chồng nhưng không có kết quả. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Văn K.
- Về quan hệ con chung: Chị và anh Lê Văn K có 02 con chung là cháu Lê Nguyễn Vân A, sinh ngày 26/3/2012 và cháu Lê Nguyễn Kiều A1, sinh ngày 05/01/2015, hiện nay hai con chung đang ở với chị. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giao hai con chung cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng, anh K có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con là 7.500.000 đồng/con/tháng, hai con là 15.000.000 đồng/2 con/tháng đến khi con chung đủ 18 tuổi.
- Về quan hệ tài sản: Chị và anh K không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị B có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt chị.
* Tại bản tự khai; Đơn đề nghị về việc giải quyết, xét xử vắng mặt đề ngày 20/3/2024; Bị đơn - anh Lê Văn K trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian, điều kiện kết hôn cũng như thời gian, nguyên nhân mâu thuẫn anh K khai phù hợp với lời khai như của chị B đã trình bày. Nay chị B xin ly hôn anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đồng ý ly hôn.
- Về quan hệ con chung: Anh và chị Nguyễn Thị B có 02 con chung là cháu Lê Nguyễn Vân A, sinh ngày 26/3/2012 và cháu Lê Nguyễn Kiều A1, sinh ngày 05/01/2015, hiện nay con Vân A và Kiều A1 đang ở với chị B. Ly hôn anh đồng ý giao hai con chung cho chị B trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, anh đồng ý cấp dưỡng nuôi con là 7.500.000 đồng/con/tháng, hai con là 15.000.000 đồng/2 con/tháng đến khi con chung đủ 18 tuổi.
- Về quan hệ tài sản: Anh và chị B không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do anh đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản nên anh không thể về Việt Nam tham gia tố tụng tại Toà án, anh có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Việc giao nộp tài liệu, chứng cứ và nhận các văn bản của Tòa án, anh ủy quyền cho chị Nguyễn Thị B.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình kết luận quá trình thực hiện tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, đương sự đảm bảo đúng pháp luật và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị B được ly hôn anh Lê Văn K. Về quan hệ con chung: Giao con chung là cháu Lê Nguyễn Vân A, sinh ngày 26/3/2012 và cháu Lê Nguyễn Kiều A1, sinh ngày 05/01/2015 cho chị Nguyễn Thị B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, anh Lê Văn K cấp dưỡng nuôi con chung 7.500.000 đồng/con/tháng, hai con là 15.000.000 đồng/tháng. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Về án phí: Chị Nguyễn Thị B phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và anh Lê Văn K phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
* Về tố tụng: Bị đơn anh Lê Văn K ở nước ngoài (Nhật Bản), căn cứ vào khoản 3 Điều 35, Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình. Chị B, anh K có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hợp lệ, áp dụng khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị B, anh K.
* Về nội dung:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị B và anh Lê Văn K được xác lập trên có sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 07/02/2012 tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình được xác định là hôn nhân hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký kết hôn. Lời khai của chị B và anh K đều thể hiện mâu thuẫn giữa chị B và anh K là có thật, đã kéo dài nhiều năm, tình cảm vợ chồng không còn, chị B xin ly hôn, anh K đồng ý. Xét thấy cuộc sống hôn nhân giữa chị B và anh K không có hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị B và anh K ly hôn là phù hợp.
[2] Về con chung: Chị B yêu cầu giao con chung là cháu Lê Nguyễn Vân A, sinh ngày 26/3/2012 và cháu Lê Nguyễn Kiều A1, sinh ngày 05/01/2015 cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng và yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con 7.500.000 đồng/con/tháng, hai con là 15.000.000 đồng/2 con/tháng. Xét thấy hiện nay chị B đang là người trực tiếp nuôi dưỡng con Vân A và Kiều A1, việc con chung ở với chị B đảm bảo các điều kiện sinh hoạt, học tập và phát triển bình thường; bản thân anh K cũng thể hiện quan điểm nhất trí tin tưởng giao hai con chung cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng và nhất trí cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị B là 7.500.000 đồng/con/tháng, hai con là 15.000.000 đồng/2 con/tháng; cháu Vân A và cháu Kiều A1 có nguyện vọng ở với chị B. Vì vậy cần chấp nhận sự thống nhất của các đương sự và nguyện vọng của con chung, giao cho chị B có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vân A và cháu Kiều A1, anh K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị B là 7.500.000 đồng/con/tháng, hai con là 15.000.000 đồng/2 con/tháng là phù hợp quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị B và anh Lê Văn K không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy không đặt ra giải quyết.
[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị B phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và anh Lê Văn K phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân:
Xử cho chị Nguyễn Thị B được ly hôn anh Lê Văn K.
2. Về con chung:
Giao cho chị Nguyễn Thị B trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Lê Nguyễn Vân A, sinh ngày 26/3/2012 và cháu Lê Nguyễn Kiều A1, sinh ngày 05/01/2015. Anh Lê Văn K có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Nguyễn Thị B 7.500.000 đồng/con/tháng, hai con là 15.000.000 đồng/2 con/tháng, tính từ tháng 4/2024 đến khi con chung tròn 18 tuổi. Chị B, anh K có quyền và nghĩa vụ chăm sóc con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
3. Về tài sản chung và nợ chung:
Không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí:
Chị Nguyễn Thị B phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chuyển số tiền 300.000 đồng chị B nộp tạm ứng án phí theo Biên lai số 0000126 ngày 19 tháng 3 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí. Anh Lê Văn K phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị Nguyễn Thị B, anh Lê Văn K. Chị B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, anh K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Ngọc Thành |
Bản án số 23/2024/HNGĐ-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 23/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cho ly hôn
