TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2025/HSST Ngày: 26/11/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐỒNG NAI
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Khuyên
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Thái Thị Thuỷ Tiên
- Bà Phạm Ngọc Nhung
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Tấn Khải - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2025, tại Tòa án nhân dân khu vực 5 - Đồng Nai, xét xử sơ thẩm trực tiếp công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2025/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST - HS ngày 13 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Ma Văn L, sinh năm 1991 tại Đồng Nai. Tên gọi khác: không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ I, ấp F, xã S, tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở hiện nay: tổ A, ấp A, xã S, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: làm rẫy; Chức vụ: không; Trình độ văn hoá (học vấn):12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ma H, sinh năm 1952 (còn sống) và bà Huỳnh Thị N, sinh năm 1953 (còn sống); Bị cáo là con thứ 7 trong gia đình; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không có.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/7/2025 và tạm giam từ ngày 31/7/2025 tại Phân trại tạm giam khu vực C - Trại tạm giam số 01 - Công an tỉnh Đ cho đến nay.
(bị cáo có mặt tại phiên tòa)
* Người làm chứng: Ông Ma H, sinh năm 1952 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ A, Ấp A, xã S, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Ma Văn L là đối tượng nghiện ma tuý, đang thực hiện biện pháp cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình và cộng đồng theo Quyết định số 04/QĐ-UBND ngày 12/4/2025 của Ủy ban nhân dân xã S. Trong thời gian chấp hành Quyết định cai nghiện tự nguyện tại gia đình và cộng đồng, L phải tuân thủ các quy định trong việc cai nghiện ma túy tự nguyện theo Quyết định nhưng L đã không thực hiện theo đúng quy định.
Để có ma túy sử dụng tiếp, khoảng 21 giờ ngày 21/07/2025, L đến khu vực ngã tư B, thuộc ấp G, xã S, tỉnh Đồng Nai gặp đối tượng tên B (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 1.000.000 đồng ma túy. Sau khi mua được ma túy, L đem về phòng ngủ tại nhà ấp A, xã S, tỉnh Đồng Nai lấy một phần ma túy sử dụng. Đến khoảng 9 giờ ngày 22/7/2025, L tiếp tục lấy thêm một phần ma túy để sử dụng, số ma túy còn lại L cất giấu dưới chân giường phòng ngủ. Đến khoảng 10 giờ 20 phút cùng ngày, Công an xã S kiểm tra hành chính nơi ở của L phát hiện, thu giữ 01 bịch nylon màu trắng, được hàn kín, đã bị cắt một góc, bên trong có chứa chất bột màu trắng là ma túy.
Tại Kết luận giám định số 1220/KL-KTHS ngày 28/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu chất bột màu trắng được gửi đến giám định là ma túy, loại Heroin, có khối lượng 0,7535 gam.
Tại Kết luận giám định số 1258/KL-KTHS ngày 30/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu nước tiểu của Ma Văn L được niêm phong gửi đến giám định có tìm thấy chất ma tuý loại Heroin (Heroine) và sản phẩm chuyển hoá của H1 (Heroine) trong nước tiểu.
Về việc thu giữ, xử lý vật chứng thu giữ: 0,6080 gam Heroin được niêm phong trong một phong bì ký hiệu số 1220/KL-KTHS có hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh Đ (Mẫu vật sau giám định) hiện đang tạm giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Đồng Nai.
Cáo trạng số 04/CT- VKS.KV5 ngày 30 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Đồng Nai truy tố bị cáo Ma Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo L và đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ma Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025). Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo L mức án từ 03 năm đến 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và xử phạt bị cáo L mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội theo quy định của pháp luật.
Về các biện pháp tư pháp:đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,6080gam Heroin mẫu vật còn lại sau giám định.
* Đối với đối tượng tên B có hành vi bán trái phép chất ma túy cho bị cáo L hiện không xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục điều tra, xử lý sau.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đồng ý với kết quả giám định chất ma túy của Phòng K Công an tỉnh Đ. Bị cáo không tranh luận và cũng không bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Bị cáo nói lời sau cùng nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo sớm về hòa nhập với xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an xã S, tỉnh Đồng Nai lập ngày 22/7/2025 thu giữ 01 bịch ni lông màu trắng được hàn kín, bên trong có chứa chất bột màu trắng. Qua giám định là ma túy có khối lượng 0,7535 gam loại Heroin. Heroin là tên gọi khoa học của các loại chất được gọi chung là ma túy quy định tại Nghị định 73/2018 ngày 15/5/2018. Bị cáo L là đối tượng đang thực hiện biện pháp cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình và cộng đồng theo Quyết định số 04/QĐ-UBND ngày 12/4/2025 của Ủy ban nhân dân xã S nhưng trong thời gian chấp hành Quyết định cai nghiện tự nguyện bị cáo có hành vi cất giữ và sử dụng trái phép chất ma túy. Việc bị cáo có hành vi cất giữ và sử dụng ma túy đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Ma Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
[3] Bị cáo là người có đủ năng lực để nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khoẻ con người và sự phát triển lành mạnh của nòi giống, việc sử dụng ma tuý là nguyên nhân gián tiếp làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, bị cáo cũng biết rõ pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng vẫn cố tình thực hiện nhằm sử dụng thỏa mãn cơn nghiện cho bản thân. Vì vậy, nhằm để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội, Hội đồng xét xử xem xét và áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo để thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo:
- [4.1] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- [4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025) để giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có thu nhập ổn định.Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025).
[6] Đối với đối tượng tên B có hành vi bán trái phép chất ma túy cho bị cáo L hiện không xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp.
[7] Về biện pháp tư pháp: 0,6080gam Heroin được niêm phong trong một phong bì ký hiệu số 1220/KL-KTHS có hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh Đ (Mẫu vật sau giám định) là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc đánh giá tính chất mức độ, hành vi phạm tội và hình phạt đề nghị xử phạt bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025): Tuyên bố bị cáo Ma Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Ma Văn L: 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Ma Văn L chấp hành hình phạt chung là 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 7 năm 2025.
2. Về biện pháp tư pháp:
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm năm 2015(sửa đổi, bổ sung năm 2025); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy 0,6080gam Heroin, mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong một phong bì ký hiệu số 1220/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh Đ (Hiện đang tạm giữ tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 5 – Đồng Nai theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/10/2025).
3. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Ma Văn L phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Khuyên |
Bản án số 23/2025/HSST ngày 26/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐỒNG NAI về vụ án hình sự (tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 23/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự (Tàng trữ và Sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ma Văn L phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
