Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN KIẾN AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST

Ngày 23-5-2025

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

khi ly hôn.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Hải Hà.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Công Biên

Bà Hoàng Thị Chính

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Lương Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 23/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Tổ H, phường B, quận K, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • - Bị đơn: Anh Phạm Quang T, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Tổ H, phường B, quận K, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Quang T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 19 tháng 5 năm 2014 tại Ủy ban nhân dân phường T (nay là phường B), quận K, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại tổ dân phố H, phường T (nay là phường B), quận K, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau về tính cách, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng mâu thuẫn về kinh tế dẫn đến thường xuyên xảy ra cãi vã nhau. Mâu thuẫn đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng không thành mà ngày càng trầm trọng. Hiện tại, chị và anh Phạm Quang T đã sống ly thân, mỗi người một nơi, không ai còn quan tâm và trách nhiệm với nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng không thể đoàn tụ nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Quang T.

- Về con chung: Chị và anh Phạm Quang T có hai con chung là Phạm Thị Vân A, sinh ngày 20 tháng 3 năm 2014 và Phạm Quang H, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2017. Ly hôn chị đề nghị Toà án giao hai con chung Phạm Thị Vân A và Phạm Quang H cho anh Phạm Quang T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Phạm Quang T số tiền 2.500.000 đồng/01 con/01 tháng. Tổng số tiền chị cấp dưỡng nuôi hai con cho anh T là 5.000.000 đồng/02 con/01 tháng.

- Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 25 tháng 4 năm 2025, bị đơn là anh Phạm Quang T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Quang T xác định lời khai của chị Nguyễn Thị N về điều kiện, thời gian kết hôn là đúng. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng về quan điểm sống, tính cách không hoà hợp. Hiện tại anh và chị Nguyễn Thị N đã sống ly thân. Nay chị Nguyễn Thị N có đơn xin ly hôn, anh không đồng ý vì vẫn còn tình cảm với chị N, mâu thuẫn của vợ chồng anh chưa trầm trọng, có thể khắc phục đoàn tụ được.

- Về con chung: Anh và chị Nguyễn Thị N có hai con chung tên là Phạm Thị Vân A, sinh ngày 20 tháng 3 năm 2014 và Phạm Quang H, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2017. Nếu phải ly hôn, anh đề nghị Toà án giao hai con chung cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chung, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ khi tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải theo các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Phạm Quang T.

Về con chung: Giao hai con chung là Phạm Thị Vân A, sinh ngày 20 tháng 3 năm 2014 và Phạm Quang H, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2017 cho anh Phạm Quang T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị N cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Phạm Quang T số tiền 2.500.000 đồng/01 con/01 tháng. Tổng số tiền chị N cấp dưỡng nuôi hai con cho anh T là 5.000.000 đồng/02 con/01 tháng.

Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng dân sự:

[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm thụ lý vụ án, bị đơn là anh Phạm Quang T cư trú tại tổ dân phố H, phường B, quận K, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.

[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N và bị đơn anh Phạm Quang T vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

[3]. Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị N và anh Phạm Quang T được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 19 tháng 5 năm 2014 tại Ủy ban nhân dân phường T (nay là phường B), quận K, thành phố Hải Phòng nên xác định là hôn nhân hợp pháp theo khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4]. Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, bị đơn và các tài liệu khác do Tòa án thu thập được thể hiện: Quá trình chung sống, vợ chồng chị Nguyễn Thị N và anh Phạm Quang T hoà thuận, hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh chị bất đồng về quan điểm sống, tính cách không hòa hợp và mâu thuẫn về kinh tế dẫn đến vợ chồng thường hay xảy ra va chạm. Mặc dù mâu thuẫn của anh chị đã được gia đình hai bên hoà giải nhưng không đạt kết quả. Hiện tại anh chị đã sống ly thân, không còn quan tâm và trách nhiệm với nhau. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh T đã thực sự trầm trọng, không thể khắc phục đoàn tụ được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị N xin ly hôn với anh Phạm Quang T.

[5]. Về con chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Phạm Quang T có hai con chung tên là Phạm Thị Vân A, sinh ngày 20 tháng 3 năm 2014 và Phạm Quang H, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2017. Ly hôn, chị N và anh T đều có quan điểm đề nghị Toà án giao hai con chung cho anh Phạm Quang T trực tiếp nuôi dưỡng; các con chung đều có nguyện vọng được ở với bố khi bố mẹ ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con chung cho ai nuôi cần phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con và xem xét nguyện vọng của con chưa thành niên. Vì vậy, để đảm bảo sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục, ổn định tâm lý và tình cảm của con chung nên cần giao hai con chung là cháu Phạm Thị Vân A và Phạm Quang H cho anh Phạm Quang T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện thực tế và phù hợp với quy định tại các điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[6] Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết, chị N tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Phạm Quang T số tiền 2.500.000 đồng/01con/01 tháng. Tổng số tiền cấp dưỡng nuôi hai con cho anh T là 5.000.000 đồng/02 con/01 tháng. Xét thấy, việc tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung của chị N là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên cần chấp nhận yêu cầu này.

[7]. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Phạm Quang T không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[8]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 6, Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của HĐTP Toà án nhân dân tối cao về Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Phạm Quang T.
  2. Về con chung: Giao hai con chung Phạm Thị Vân A, sinh ngày 20 tháng 3 năm 2014 và Phạm Quang H, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2017 cho anh Phạm Quang T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  3. Về tiền cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị N có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi hai con chung cho anh Phạm Quang T số tiền 2.500.000 đồng/01con/01tháng. Tổng số tiền chị N cấp dưỡng nuôi hai con cho anh T là 5.000.000 đồng/02 con/01 tháng. Thời hạn cấp dưỡng nuôi con chung tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

  4. Về tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.
  5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm. Chị N đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số [...] ngày 24 tháng 3 năm 2025 (Mã giao dịch/Mã tham chiếu: G22.99.7-250324929968; tên tài khoản cơ quan thu: Kho bạc Nhà nước K, thành phố Hải Phòng; tên cơ quan thu/Đơn vị nhận tiền: Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An). Chị Nguyễn Thị N còn phải nộp tiếp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
  6. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị N và anh Phạm Quang T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - VKSND quận Kiến An;
  • - Chi cục THADS quận Kiến An;
  • - UBND phường Tràng Minh
  • (nay là phường Bắc Hà);
  • (ĐKKH số 30 đk ngày 19/5/2014);
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Hải Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 23/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị N xin ly hôn anh Phạm Quang T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger