Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST

Ngày 15 tháng 4 năm 2025

V/v tranh chấp về chia tài sản

chung sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương.

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Phương và ông Lê Phương Tùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Tấn, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố

Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang

tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Vân, Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 372/2024/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp về chia tài sản chung sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 464/2024/QĐXXST-HN ngày 20/12/2024 giữa:

- Nguyên đơn: Bà Phan Tú B, sinh năm 1978, địa chỉ: Quốc lộ A, tổ B, khóm H, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Quốc K, sinh năm 1983, nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang (có mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng Y, sinh năm 1977, địa chỉ: số B, tổ B, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (có mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Phạm Thị Bích T, sinh năm 1965, nơi cư trú: Khóm V, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa đại diện nguyên đơn trình bày:

Bà B và ông Y đã thuận tình ly hôn theo quyết định Công nhận thuận tình ly hôn số 122/2011/QÐST-HNGĐ ngày 20/10/2011 của Tòa án Châu Đốc. Theo

quyết định, bà B được nuôi dạy con chung Nguyễn Lâm K1, sinh ngày 15/01/2002, tài sản chung các bên tự thỏa thuận.

Tài sản chung của vợ chồng gồm:

  • Thửa đất số 296, diện tích 75,6m² tọa lạc phường C, thành phố C (gọi tắt số 1);
  • Thửa đất số 295, diện tích 75,6m² tọa lạc phường C, thành phố C (Gọi tắt số 2);
  • Thửa đất số 237, diện tích 122,4 m² tọa lạc phường V, thành phố C (Gọi tắt số 3).

Sau khi ly hôn vợ chồng thỏa thuận như sau: Ông Y T1 cho bà B thửa đất số 3; Bà Bảo tặng cho ông Y thửa đất số 2, các bên đã sang tên chuyển quyền xong. Còn lạithửa đất 1 diện tích 75,6m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 653694 do Ủy ban nhân dân thị xã C cấp ngày 11/3/2013 cho ông Nguyễn Hoàng Y, bà Phan Tú B tọa lạc phường C, thành phố C chưa chia. Trên đất hiện có căn nhà cấp 4 kết cấu nền gạch, vách gạch bê tông cốt thép, nhà trần mái tôn có 01 vách chung và 01 vách riêng do ông Y đang quản lý, sử dụng.

Bà B và ông Y thỏa thuận sau này con đủ 18 tuổi vợ chồng sẽ tặng cho con chung Nguyễn Lâm K1 sinh 15/01/2002. Do ông Y không tặng cho con nên bà B yêu cầu Tòa án chia đôi giá trị tài sản chung của vợ chồng.

Tài sản được mua trong thời kỳ hôn nhân tuy nhiên do thủ tục giấy tờ nên đến năm 2012 mới lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Khi nhận chuyển nhượng với giá 550.000.000 đồng; đã xây dựng thành 01 nhà trệt cấp 4, bê tông cốt thép kiên cố hoàn chỉnh, nhà mái tol cao, trên phần máy che có lắp hệ thống hút nóng bằng inox. Vách một phần sử dụng chung với vách tường nhà ông Y – bà B có sẵn, bên trong phần sau cùng là phòng kín lắp ráp kín để máy lạnh nhằm giữ cho hạt giống nảy mầm, phần còn lại ra tới cửa sắt nhà dùng trang bị tủ kính trưng bày hạt giống thành phẩm, bàn làm việc và để tất cả các thùng phân bón lá, phần nền được lát gạch hoàn toàn và có hàng rào kéo liền qua nhà có lầu chung của ông Y – bà B (hàng rào là song sắt vuông được sơn tĩnh điện trắng). Căn nhà trước khi ly hôn là để kinh doanh, các bên thống nhất giữ y sau này con đủ 18 tuổi sẽ cho con. Do đó không có sửa chữa lớn, ông Y có sửa chữa nhỏ hay không thì bà B không biết. Bà không có chứng cứ chứng minh về việc xây dựng trước đây.

Bị đơn ông Y trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa:

Thống nhất về việc bà B và ông Y đã ly hôn theo Quyết định của Tòa án Châu Đốc; thống nhất vợ chồng có 03 thửa đất. Tuy nhiên đã thống nhất tài thỏa thuận chia xong vào thời điểm ly hôn nhưng chưa sang tên. Ông Y không đồng ý chia đôi giá trị tài sản theo yêu cầu của bà B. Bởi vì sau khi ly hôn năm 2011 thì bà B hàn gắn tình cảm nên vợ chồng sống chung mà không có đăng ký kết hôn lại. Đến năm 2015 vợ chồng tiếp tục mâu thuẫn nên thỏa thuận chia đôi tài

sản. Thời điểm thỏa thuận, thửa đất 237, diện tích 122,4 m² tọa lạc V có giá trị tương đương 850 triệu đồng. Thửa đất 295, 296 liền nhau tọa lạc phường C B có giá trị tương đương 1,7 tỷ đồng. Do đó ông phải thế chấp 02 thửa đất 295, 296 tại Ngân hàng và ông bù tiền vào cho đủ số tiền 850 triệu đồng để đưa cho bà B. Ông trả nợ đến năm 2020 mới hết nợ. Sau đó bà B không sang tên lại cho ông. Ông không có chứng cứ chứng minh về lời khai của mình. Hiện nay ông đang quản lý và sử dụng thửa đất số 296, diện tích 75,6m² tọa lạc phường C, thành phố C.

Ông thống nhất về việc tài sản mua trong thời kỳ hôn nhân nhưng thủ tục giấy tờ chưa xong đến năm 2012 mới lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Bà B trình bày khi mua thỏa thuận 550.000.000 đồng là chưa đúng. Khi đó thửa đất 295 là nhà để ở, thửa 296 là kho chứa hạt giống, sau này mới sửa chữa vào năm 2017 có hiện trạng như bà B trình bày, giá trị sửa chữa khoảng 400 triệu đồng. Hợp đồng chuyển nhượng có giá 190 triệu đồng. Ông Y không có chứng cứ chứng minh đã sửa chữa.

Về việc bà B cho rằng vợ chồng thống nhất con đủ 18 tuổi sẽ tặng cho con là ông đề nghị vào thời điểm chưa phân chia tài sản nhưng bà B không đồng ý và chia tài sản chung. Do đó đã chia xong; ông cũng đã thực hiện trả nợ xong. Hiện Giấy chứng nhận tại thửa 296 ông đang giữ.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ tại các cơ quan chuyên môn cụ thể:

  • Trích lục hồ sơ cấp giấy đối với thửa đất tranh chấp 296, diện tích 75,6m² tọa lạc phường C, thành phố C;
  • Trích lục hồ sơ vay tại Ngân hàng S – Chi nhánh A - phòng G; đã thế chấp thửa đất 295, 296 vay số tiền 630.000.000 đồng ngày 21/8/2015; giá trị tài sản đảm bảo theo phụ lục hợp đồng thế chấp 1.067.000.000 đồng.
  • Xác minh tại Phòng C tỉnh An Giang về việc bà B, ông Y T1 cho Quyền sử dụng đất (Thửa đất số 295, diện tích 75,6m² tọa lạc phường C B, thành phố C và Thửa đất số 237, diện tích 122,4 m² tọa lạc phường V, thành phố C);
  • Đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ đất tranh chấp thửa đất 296; tọa lạc phường C B;
  • Định giá tài sản nhà 191.228.115 đồng, đất 1.614.513.000 đồng, tổng giá trị nhà đất 1.805.741.115 đồng.

Tòa án tiến hành hòa giải giữa các đương sự nhưng không thành.

Tòa án mở phiên tòa ngày 19/02/2025, đại diện nguyên đơn yêu cầu để lại tài sản tranh chấp cho con chung của bà B, ông Y; bị đơn ông Y, đại diện bị đơn thống nhất tặng cho con tài sản tranh chấp là thửa đất 296. Các đương sự yêu cầu Tòa án tạm ngừng phiên tòa để tự hòa giải, nhưng không hòa giải được.

Tại phiên tòa,

- Đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; thống nhất giá trị tài sản tranh chấp 1.805.741.115 đồng. Nguyên đơn xem xét công sức đóng góp cũng như sửa chữa nhà của ông Y nên chỉ nhận 1/3 giá trị tài sản là nhà và chia đôi giá trị đất tương đương số tiền 850 triệu đồng. Yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét công nhận 850 triệu đồng cho nguyên đơn. Tự nguyện chịu chi phí tố tụng.

Tuy nhiên nếu bị đơn hoàn tiền ngay cho nguyên đơn thì nguyên đơn chỉ nhận 750 triệu đồng.

- Bị đơn thống nhất giá trị tài sản tranh chấp theo chứng thư thẩm định giá là 1.805.741.115 đồng; không đồng ý chia theo yêu cầu của nguyên đơn, mà tự nguyện chia cho nguyên đơn số tiền 600 triệu đồng.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán xác định thẩm quyền; thụ lý quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự; thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ đúng theo quy định. Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng quy định.

Về giải quyết vụ án: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa thấy rằng, bà B và ông Y trước đây là vợ chồng, đã thuận tình ly hôn quyết định của Tòa án. Trong thời kỳ hôn nhân, bà B và ông Y có tạo lập tài sản chung là căn nhà gắn liền với quyền sử dụng đất số CH09218 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay thành phố) C cấp ngày 11/3/2013 cho bà B - bà Y. Nay bà B khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung. Ông Y cho rằng ông đã hoàn tiền cho bà B giá trị tài sản tranh chấp là 850.000.000 đồng, bà B không thừa nhận. Ngoài lời khai của ông Y không còn căn cứ khác nên không có cơ sở xem xét. Do đó, tài sản tranh chấp (nhà, đất) được xem là tài sản chung của vợ chồng. Bà B khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn là có căn cứ.

Đối với việc ông Y cho rằng năm 2017 ông tự bỏ chi phí xây mới lại toàn bộ căn nhà như hiện trạng. Tuy nhiên, bà B không thừa nhận ông Y X mới lại căn nhà hoàn toàn như hiện trạng, chỉ thừa nhận trong quá trình sử dụng ông Y có tu bổ, sửa chữa nhỏ. Qua xem xét thẩm định tại chỗ ngày 04/11/2024 thể hiện hiện trạng vẫn như cũ không thay đổi và tại thời điểm thẩm định đại diện theo ủy quyền của ông Y có ý kiến thống nhất hiện trạng không thay đổi. Đồng thời, kết quả xác minh ngày 17/3/2025 tại khóm C, phường C, thành phố C thể hiện: Thời điểm năm 2017 không biết các đương sự có sửa chữa lại căn nhà số B, tổ B, khóm C, phường C, thành phố C hay không. Do đó, bà B yêu cầu được nhận 1/3 giá trị căn nhà, ½ giá trị đất theo kết luận định giá của Công ty cổ phần T2 khoảng 871 triệu đồng, nhưng bà đồng ý nhận 850 triệu đồng và đồng ý giao nhà – đất cho ông Y toàn quyền quản lý, sử dụng là phù hợp, có lợi cho bị đơn ông Y, nên cần ghi nhận.

Từ phân tích trên, căn cứ các Điều 33, 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà B về chia tài sản chung sau khi ly hôn: Xác định nhà gắn liền quyền sử dụng đất số CH09218 do Ủy ban nhân dân thị xã (nay thành phố) C cấp ngày 11/3/2013 cho bà B - ông Y là tài sản chung vợ chồng; ông Y được nhận hiện vật là nhà – đất; ông Y có nghĩa vụ hoàn trả cho bà B 850.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

- Về thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn. Tài sản là bất động sản tọa lạc thành phố C. Xét, đây là tranh chấp về chia tài sản sau khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

  1. Bà B, ông Y đã ly hôn theo Quyết định Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 122 ngày 20/10/2011 của Tòa án Châu Đốc.
  2. Các tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đã được hai bên thỏa thuận phân chia cho nhau, hiện còn tồn tại tài sản nhà đất thuộc thửa đất 296, diện tích 75,6m² tọa lạc phường C B, thành phố C (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 653694 do Ủy ban nhân dân thị xã C cấp ngày 11/3/2013 cho ông Nguyễn Hoàng Y, bà Phan Tú B) chưa chia. Trên đất hiện có căn nhà cấp 4 kết cấu nền gạch, vách gạch bê tông cốt thép, nhà trần mái tôn có 01 vách chung và 01 vách riêng do ông Y trực tiếp quản lý sử dụng từ năm 2015 đến nay. Tài sản này được bà B, ông Y thừa nhận là tài sản chung của vợ chồng nhận chuyển nhượng trong thời kỳ hôn nhân nên được xem là tài sản chung của vợ chồng theo Điều 33 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
  3. Ông Y cho rằng đã thỏa thuận chia xong nhưng chưa sang tên; bà B không thừa nhận; ngoài lời khai thì ông Y không còn chứng cứ khác nên Hội đồng xét xử căn cứ tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án để xem xét đây là tài sản chung của vợ chồng chưa chia. Do đó nguyên đơn yêu cầu chia tài sản sau khi ly hôn là có cơ sở chấp nhận.
  4. Xem xét công sức đóng góp giữ gìn, bảo quản tài sản; giao quyền sử dụng đất và nghĩa vụ thanh toán:

- Xem xét công sức đóng góp giữ gìn, bảo quản tài sản:

Ông Y cho rằng từ khi bà B đi nước ngoài khoảng năm 2015 đến nay ông Y là người quản lý, sử dụng, giữ gìn và sửa chữa căn nhà như kết cấu hiện nay. Mặt khác, theo Hợp đồng chuyển nhượng ngày 21/12/2012 thể hiện giá chuyển nhượng 190.000.000 đồng. Theo đơn khởi kiện ngày 29/9/2023 nguyên đơn yêu cầu chia tài sản có giá là 400.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đồng ý với các yêu cầu nguyên đơn đưa ra cụ thể chia đôi giá trị tài sản 400.000.000 đồng hoặc cùng để lại tài sản cho con nhưng sau đó nguyên đơn không đồng ý mà chỉ yêu cầu chia giá trị tài sản tranh chấp.

Ông Y cho rằng tài sản thế chấp Ngân hàng vào năm 2015 để bù tiền cho bà B để chia tài sản chung. Trong thời gian từ năm 2015 ông trả dần đến năm 2020 thì trả xong. Theo bảng kê của Ngân hàng thể hiện ông Y là người trả tiền vay cho Ngân hàng.

Do đó có đủ cơ sở xác định, ông Y là người giữ gìn tài sản từ thời điểm 2015 đến nay, nên cần xem xét công sức đóng góp giữ gìn, bảo quản vào tài sản chung của ông Y là 70% giá trị tài sản nhà, đất tương đương 1.264.018.781 đồng; bà B được nhận 30% giá trị tài sản tương đương số tiền 541.722.334 đồng. Ông Y tự nguyện chia cho bà B số tiền 600.000.000 đồng. Xét sự tự nguyện của ông Y có lợi cho bà B nên chấp nhận.

- Xem xét giao quyền sử dụng đất và nghĩa vụ thanh toán:

Bà B có yêu cầu nhận giá trị tài sản, giao ông Y nhận hiện vật, thấy rằng: Nhà đất hiện nay do ông Y đang quản lý, sử dụng dùng để làm kho chứa hạt giống để kinh doanh nên tiếp tục giao cho ông Y quản lý sử dụng là phù hợp. Do ông Y nhận hiện vật nên có nghĩa vụ thanh toán cho bà B số tiền mà ông Y tự nguyện là 600.000.000 đồng.

[4] Về chi phí tố tụng: Đại diện nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và đã thực hiện xong nên HĐXX không xem xét nghĩa vụ hoàn trả.

[5] Về án phí hôn nhân sơ thẩm và quyền kháng cáo:

- Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Bà B phải chịu án phí 5% giá trị tài sản được nhận 600.000.000 đồng tương đương số tiền 28.000.000 đồng.

Ông Y phải chịu án phí 5% giá trị tài sản được nhận số tiền 1.264.018.781 đồng (1.805.741.115 đồng - 600.000.000 đồng) tương đương số tiền 49.920.563 đồng (làm tròn 49.920.000 đồng).

- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 33 và Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Các Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Tú B.
  2. Xác định căn nhà cấp 4 có kết cấu nền gạch, vách gạch bê tông cốt thép, nhà trần mái tôn có 01 vách chung và 01 vách riêng gắn liền với đất có diện tích 75,6m² thuộc thửa số 296, tờ bản đồ số 45 tọa lạc phường C B, thành phố C, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 653694 Ủy ban nhân dân thị xã C cấp ngày 11/3/2013 mang tên Nguyễn Hoàng Y, bà Phan Tú B là tài sản chung của vợ chồng.

    Ông Nguyễn Hoàng Y được quyền sử dụng căn nhà cấp 4 có kết cấu nền gạch, vách gạch bê tông cốt thép, nhà trần mái tôn có 01 vách chung và 01 vách riêng gắn liền với đất có diện tích 75,6m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 653694 Ủy ban nhân dân thị xã C cấp ngày 11/3/2013 mang tên Nguyễn Hoàng Y, bà Phan Tú B.

    Ông Nguyễn Hoàng Y có nghĩa vụ thanh toán cho bà Phan Tú B số tiền 600.000.000 đồng.

  3. Ông Nguyễn Hoàng Y có nghĩa vụ đến Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để đăng ký chuyển quyền sử dụng đất đối với phần đất được giao quyền sử dụng.
  4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:
  5. Bà B phải chịu án phí số tiền 28.000.000 đồng, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 10.000.000 đồng theo biên lai thu số 0003003 ngày 07/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc. Bà B phải nộp thêm số tiền 18.000.000 đồng.

    Ông Y phải chịu án phí số tiền 49.920.000 đồng.

  6. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án nguyên đơn, đại diện nguyên đơn, bị đơn, đại diện bị đơn có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát TPCĐ (2);
  • - Tòa án tỉnh An Giang (1);
  • - Thi hành án DS TPCĐ (1);
  • - Lưu hồ sơ (1),
  • - Lưu văn phòng (1).

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp về chia tài sản chung sau khi ly hôn

  • Số bản án: 23/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản chung sau khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia tài sản chung sau khi ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger