|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - TP HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 10/4/2025
V/v tranh chấp Hôn nhân & gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Viết Côi và bà Nguyễn Thị Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ứng Hoà, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên toà: ông Nguyễn Văn Huy, Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 57/2025/TLST- HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2025 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T - sinh năm 1971
Nơi ĐKHKTT: Thôn D, xã T, huyện Ứ, TP .
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Y - sinh năm 1976
Nơi ĐKHKTT: Thôn D, xã T, huyện Ứ, TP .
( Anh T và chị Y có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn ly hôn và trong quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Văn T là nguyên đơn trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị Y là người cùng quê, qua một thời gian tìm hiểu thì được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán ngày 25/8/1995 âm lịch. Sau đó, vợ chồng không thực hiện đăng ký kết hôn tại UBND xã H (nay là xã T), huyện Ứ hay bất kể cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Về sống chung với nhau được một thời gian thì liên tục xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không thể tìm thấy tiếng nói chung. Cả hai cũng đã cố gắng thay đổi bản thân, cố gắng chung sống vì muốn các con có một gia đình trọn vẹn. Hai vợ chồng đã sống ly thân một thời gian và không ai quan tâm đến ai. Nay anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt, ly thân quá lâu nên anh xin ly hôn chị Y; xong vì anh chị không có đăng ký kết hôn nên anh đề nghị Tòa giải quyết không công nhận anh và chị Y là vợ chồng. Về con chung có 02 con chung là Nguyễn Thị H – sinh ngày 16/7/1996 và Nguyễn Văn L – sinh ngày 22/11/1998; do hai con đã thành niên nên anh không đề nghị Toà giải quyết. Về tài sản, công nợ chung: anh không đề nghị Tòa giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị Y là bị đơn có trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn T tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán năm 1995. Sau đó, vợ chồng về chung sống mà không thực hiện đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Về sống chung với nhau được một thời gian thì liên tục xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không thể tìm thấy tiếng nói chung không thể hàn gắn được. Chị đề nghị Tòa giải quyết không công nhận anh T và chị là vợ chồng. Về con chung có 02 con chung là Nguyễn Thị H – sinh ngày 16/7/1996 và Nguyễn Văn L – sinh ngày 22/11/1998; do hai con đã thành niên nên chị không đề nghị Toà giải quyết. Về tài sản, công nợ chung: chị không đề nghị Tòa giải quyết.
Tại phiên tòa, anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị Y có mặt và vẫn giữ nguyên quan điểm, không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ nào khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa có quan điểm: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định về tố tụng dân sự như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, tạo điều kiện cho họ được trình bày quan điểm, tiến hành hòa giải theo đúng quy định. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: đề nghị Tòa giải quyết xử không công nhận anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị Y là vợ chồng. Về con chung: không giải quyết. Về tài sản, công nợ chung: không giải quyết. Anh T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đợc thẩm tra tại phiên Toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của các đơng sự, H1 đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh Nguyễn Văn T đã làm đơn ly hôn theo mẫu và đã đóng dự phí ly hôn theo đúng quy định của pháp luật. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình, Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa tiến hành thụ lý, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị Y tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán năm 1995 nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng liên tục xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng lẫn nhau và ly thân. Đến nay, anh T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên đề nghị Tòa không công nhận anh và chị Y là vợ chồng. Về phía chị Y đồng ý với quan điểm của anh T. Qua biên bản xác minh tại chính quyền địa phương cung cấp: qua tra cứu sổ lưu đăng ký kết hôn tại UBND xã T không thể hiện anh T và chị Y đăng ký kết hôn nhưng hai anh chị chung sống với nhau từ năm 1995 và có 02 con chung.
Xét thấy, anh T và chị Y có tổ chức cưới hỏi theo phong tục nhưng không thực hiện đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên căn cứ vào khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và tại mục 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội về việc thi hành luật Hôn nhân và gia đình thì pháp luật không công nhận anh T và chị Y là vợ chồng.
[3] Về con chung: Anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị Y đều xác nhận có 02 con là Nguyễn Thị H – sinh ngày 16/7/1996 và Nguyễn Văn L – sinh ngày 22/11/1998; do hai con đã thành niên nên anh không đề nghị Toà giải quyết. Anh T và chị Y đều xác nhận các con đã thành niên nên không đề nghị Toà giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
[4] Về tài sản, công nợ chung và các vấn đề khác: Anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị Y đều không yêu cầu đề nghị Toà giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không giải quyết.
[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn T phải nộp toàn bộ án phí ly hôn; các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; mục 3 Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội;
Căn cứ Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị Y.
- Về con chung: Anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị Y đều xác nhận có 02 con chung là Nguyễn Thị H – sinh ngày 16/7/1996 và Nguyễn Văn L – sinh ngày 22/11/1998; các con đã thành niên nên không đề nghị Toà giải quyết.
- Về tài sản, công nợ chung và các vấn đề khác: Anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị Y đều không yêu cầu đề nghị Toà giải quyết.
- Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dã nộp theo biên lai số 0012191 ngày 13 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Bích Hằng |
Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 23/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA
