|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST. Ngày: 01-4-2025. “Về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Tân.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Quang Thanh và bà Bùi Thị Luyến.
- Thư ký phiên tòa: bà Biện Thị Uyển Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận
tham gia phiên tòa: ông Hoàng Thái Thoại - Kiêm sát viên.
Ngày 01 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 24/2025/TLST–HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2015/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 27/2025/QÐST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Ánh L, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Xóm E, Thôn D, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận; vắng mặt, đã có đơn xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Lê Văn M, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Xóm E, Thôn D, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận; vắng mặt.
Cháu Lê Thị Như Q, sinh ngày 01/2/2014 và Lê Đăng K, sinh ngày 06/02/2016; Nơi cư trú: Xóm E, Thôn D, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận, là con chung của chị Lê Thị Ánh L và anh Lê Văn M; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1]. Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai ngày 26/02/2025, biên bản hòa giải ngày 26/02/2025, nguyên đơn chị Lê Thị Ánh L trình bày yêu cầu và căn cứ khởi kiện như sau:
Chị L và anh anh Lê Văn M tự nguyện kết hôn và có đăng ký tại UBND xã Đ vào ngày 27/8/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau xảy ra mâu thuẫn, không có tiếng nói chung trong cuộc sống, anh M thường xuyên uống rượu, chị L khuyên nhiều lần nhưng không thay đổi, vợ chồng cải nhau rồi không nói chuyện với nhau trong thời gian dài, ít quan tâm chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau; sự việc cứ lặp đi lặp lại nhiều lần; có lần anh M uống rượu về rồi chửi mắng xúc phạm chị L. Hơn một năm nay giữa chị L và anh M không nói chuyện với nhau, không còn quan tâm, chia sẽ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống. Từ những mâu thuẫn này, chị L nhận thấy không thể tiếp tục chung sống, nên yêu cầu được ly hôn với anh M.
Về con chung: chị L và anh M có hai người con chung tên Lê Thị Như Q, sinh ngày 01/2/2014 và Lê Đăng K, sinh ngày 06/02/2016. Cả hai con chung đang sống cùng với cha mẹ. Hàng ngày, chị L là người trực tiếp lo lắng sinh hoạt, ăn mặc, học hành, chăm lo sức khỏe cho các con. Còn anh M thì đi làm xây dựng công trình ở xa, không thường xuyên ở nhà, chỉ khi rãnh mới về nhà hoặc tới mùa vụ thu hoạch điều mới ở nhà. Để đảm bảo cuộc sống của các con được ổn định, có người chăm lo sinh hoạt ăn uống, học hành thì khi ly hôn, chị L yêu cầu được quyền nuôi cả hai con chung cho đến khi thành niên. Nếu được giao trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung thì chị L tự nguyện không yêu cầu anh M cấp dưỡng. Hiện tại chị L có nghề nghiệp, thu nhập, nơi ở và có điều kiện tốt để nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: chị L không yêu cầu giải quyết.
[2]. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lê Văn M trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ánh L như sau:
Anh M và Lê Thị Ánh L tự nguyện kết hôn và có đăng ký tại UBND xã Đ vào ngày 27/8/2012. Về các mâu thuẫn mà chị L trình bày thì anh M thừa nhận; hơn 1 năm nay vợ chồng rất ít nói chuyện, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, cứ mỗi lần anh M đi làm công trình xa về thì chị L đóng cửa phòng ở bên trong, không nói chuyện gì với anh M và cũng không thể nào nói chuyện được với chị L; nguyên nhân dẫn đến việc này là trước đó anh M thường uống rượu, khi được chị L khuyên can thì anh M không nghe mà tiếp tục uống rượu; sau mỗi lần về nhà, chị L không tiếp xúc nói chuyện thì anh M cũng không có chuyện gì để nói. Nay anh M xác định vẫn còn tình cảm nên không đồng ý ly hôn.
Về con chung: anh M và chị L có hai người con chung tên Lê Thị Như Q, sinh ngày 01/2/2014 và Lê Đăng K, sinh ngày 06/02/2016. Anh M không đồng ý giao hai con cho chị L chăm sóc, nuôi dưỡng, bởi vì anh M cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi hai người con. Trường hợp Tòa án chấp nhận giao hai con chung cho anh M trực tiếp nuôi dưỡng thì anh M không yêu cầu chị L cấp dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
[3]. Tại biên bản ghi nhận ý kiến lập ngày 26/02/2025, cháu Lê Thị Như Q, sinh ngày 01/2/2014 và Lê Đăng K, sinh ngày 06/02/2016, là con chung của chị Lê Thị Ánh L và anh Lê Văn M đều trình bày nguyện vọng mong muốn được sống cùng với chị L.
[4]. Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh:
- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, thư ký đã tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Ý kiến đề nghị việc giải quyết vụ án: Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ánh L; xử cho chị L được ly hôn với anh Lê Văn M; giao cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 người con chung tên Lê Thị Như Q, sinh ngày 01/2/2014 và Lê Đăng K, sinh ngày 06/02/2016 cho đến khi thành niên; anh M được quyền thăm nom, chăm sóc con không ai được ngăn cản; về án phí: buộc chị L phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm; khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Thị Ánh L vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Lê Văn M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[1.2]. Nguyên đơn chị Lê Thị Ánh L khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Lê Văn M. Quá trình giải quyết vụ án, anh M không chấp nhận ly hôn với chị L. Ngoài yêu cầu ly hôn, chị L yêu cầu giải quyết việc trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Do đó Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp; các đương sự đều có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Bình Thuận, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Đối với yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Ánh L đối với anh Lê Văn M:
Chị L và anh M tự nguyện chung sống, xây dựng gia đình từ năm 2012, có đăng ký và được UBND xã Đ cấp giấy chứng nhận kết hôn số 54/2012 ngày 27/8/2012, nên hôn nhân giữa chị L và anh M là hợp pháp. Hiện nay chị Linh cảm T vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng, không thể tiếp tục chung sống nên đã làm đơn ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án, chị L và anh M đều thừa nhận trong thời gian chung sống, giữa vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn trong đời sống hàng ngày, anh M thường xuyên uống rượu, gây gỗ xúc phạm đến chị L, không quan tâm tới gia đình, khi được chị L khuyên can thì anh M không thay đổi, nên từ đó vợ chồng rất ít nói chuyện, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, đây là những nguyên nhân dẫn đến vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, xúc phạm nhau. Do đó, có căn cứ xác định hôn nhân giữa chị L và anh M đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, vì vậy, việc ly hôn theo yêu cầu của chị L đối với anh M là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và hướng dẫn tại khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
[2.2]. Đối với việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung:
Chị L và anh M thống nhất xác định về con chung có hai người tên là cháu Lê Thị Như Q, sinh ngày 01/2/2014 và Lê Đăng K, sinh ngày 06/02/2016. Chị L và anh M đều có yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng hai người con chung cho đến khi thành niên, không thỏa thuận được với nhau về việc nuôi con và có tranh chấp.
Hội đồng xét xử xem xét về nguyện vọng của con trên 7 tuổi và điều kiện nuôi con của các đương sự, thấy rằng: nguyện vọng của cháu Q và cháu K đều mong muốn được sống với mẹ, được mẹ yêu thương, quan tâm, chăm sóc, lo ăn uống, học hành, ngoài ra còn được gia đình bên ngoại quan tâm, chăm lo sinh hoạt hàng ngày. Về điều kiện, khả năng của chị L hiện nay đang làm công nhân may, đi làm giờ hành chính và về nhà lúc 5 giờ, thu nhập hàng tháng khoảng 7 triệu đồng, có nơi ở là căn nhà xây cấp 4 diện tích 6m x 11m tại Thôn D, xã Đ, huyện T. Anh M công việc không thường xuyên ổn định tại địa phương mà phụ thuộc vào mùa vụ, làm công trình phải đi xa nhà. Do đó đánh giá “quyền lợi về mọi mặt của con” quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, để bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con, cần giao hai người con chung tên Lê Thị Như Q, sinh ngày 01/2/2014 và Lê Đăng K, sinh ngày 06/02/2016 cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi thành niên. Anh M có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con, không ai được ngăn cản, là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 và hướng dẫn tại Điều 6 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
[2.3]. Về cấp dưỡng: chị L trực tiếp nuôi con nhưng tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng cho con nên không xét đến.
[2.4]. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
[3]. Về án phí: Nguyên đơn chị Lê Thị Ánh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 điều 147, khoản 3 Điều 144 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[4]. Về ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận: Ý kiến đề nghị giải quyết vụ án của của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147, khoản 3 Điều 144, các Điều 227, 228, 238, 273, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Ánh L:
Về việc ly hôn: chị Lê Thị Ánh L được ly hôn với anh Lê Văn M.
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn:
- Giao cho chị Lê Thị Ánh L có quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 (hai) người con chung tên Lê Thị Như Q, sinh ngày 01/2/2014 và Lê Đăng K, sinh ngày 06/02/2016 cho đến khi thành niên. Anh Lê Văn M có quyền, nghĩa vụ trong việc thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.
- Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
Về cấp dưỡng cho con: chị L tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét. Vì lợi ích của các con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định việc cấp dưỡng nuôi con bằng vụ án khác theo quy định.
[2]. Về án phí: Nguyên đơn chị Lê Thị Ánh L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001506 ngày 04/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; sau khi khấu trừ, chị L đã nộp đủ tiền án phí.
[3]. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, các đương sự đều được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tân |
Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 23/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bản án ly hôn tranh chấp nuôi con
