Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 31/2025/HS-ST

Ngày 25 tháng 3 năm 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Trần Văn Đức

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Trương Thị Bích Tuyền – Bí thư Đoàn thanh niên Công sản Hồ Chí Minh, xã Vĩnh Châu, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang;
  • Ông Nguyễn Thanh sơn – Bí thư Đoàn thanh niên niên Công sản Hồ Chí Minh, phường Núi Sam, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lý Chí Nam, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm - Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc và điểm cầu thành phần – Phân trại tạm giam khu vực C, Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2025/HSST ngày 13 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh H, sinh năm 1980; nơi sinh: thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: Tổ 14, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bé T, sinh năm 1963 và bà Bùi Thị Cẩm X, sinh năm 1970; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ nhất; vợ là Bùi Thị Hồng N, sinh năm 1984 (đã ly hôn), con có 01 người, sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/11/2024 cho đến nay, tại phân trại tạm giam khu vực C, tỉnh An Giang (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn S, sinh năm 1975; nơi cư trú: Tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người làm chứng: Phạm Văn Điền E, sinh năm 1987 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 22/11/2024, Công an phường N, thành phố C kiểm tra hộ khẩu nhà của Nguyễn Thanh H tại số H, tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang. Qua kiểm tra phát hiện tại phòng khách trước nhà của H có một chai thủy tinh trong suốt, gắn ống hút nhựa màu trắng và ống thuỷ tinh (dụng cụ sử dụng ma túy) và trong phòng ngủ của H có 01 bọc nylon trong suốt, hàn kín, chứa tinh thể màu trắng (nghi ma túy) nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang H cùng tang vật.

Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Thanh H sử dụng trái phép chất ma túy từ khoảng tháng 6 năm 2024. Nguồn gốc ma túy H nhờ Nguyễn Văn S, sinh năm 1975, cư trú khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang. Từ khi sử dụng ma túy đến khi bị bắt, H nhờ S đi mua ma túy khoảng 05 - 06 lần, mỗi lần 01 bọc ma túy đá, giá 200.000 đồng, còn việc S mua ma túy của ai thì H không biết. Khoảng 15 giờ ngày 21/11/2024, H đang ở nhà thì gặp S điều khiển xe mô tô đi ngang nên H nhờ S mua giúp 01 bọc ma túy đá với giá 200.000 đồng, S đồng ý. Khoảng 30 phút sau, S đi đến đưa cho H 01 bọc nylon chứa ma túy đá, hàn kín, nhận ma túy xong, H cất giấu trên vách trong phòng ngủ để sử dụng. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 22/11/2024, H đang ở nhà thì lực lượng Công an đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Ngày 29/11/2024, Nguyễn Thanh H bị khởi tố, điều tra.

Căn cứ Kết luận giám định số 1645/KL-KTHS ngày 27/11/2024 của Phòng K - Công an tỉnh A, kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,3107 gam.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C; bị cáo H khai nhận phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.

Cáo trạng số 32/CT-VKSCĐ ngày 12/3/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố Nguyễn Thanh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS).

Tại phiên tòa,

Bị cáo H vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H từ 01 (một) năm đến 02 (hai) năm tù; Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng đối với bị cáo H.

Về biện pháp tư pháp: áp dụng các Điều 46; 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định và các dụng cụ sử dụng ma túy.

Đề nghị Hội đồng xét xử quyết định về án phí hình sự sơ thẩm; quy định nghĩa vụ, trách nhiệm thi hành án; quy định quyền kháng cáo của bị cáo theo luật định.

Đối với việc Nguyễn Thanh H khai nhờ Nguyễn Văn S mua ma túy giúp, S không thừa nhận. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.

Bị cáo không có tranh luận và bào chữa, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng,

  1. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trên địa bàn thành phố C tội phạm thực hiện thuộc trường hợp có khung hình phạt dưới 15 năm tù theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
  2. Trong giai đoạn điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
  3. Đối với việc vắng mặt những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa. Xét thấy, trong quá trình điều tra vụ án, đã thu thập được lời khai của những người này và chủ tọa phiên tòa đã công bố các lời khai của những người vắng mặt nên việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử đối với vụ án.

Về nội dung,

[4] Hành vi phạm tội:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi tội phạm gây ra, Kết luận giám định cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận khoảng 08 giờ 30 phút ngày 22/11/2024 tại số H, tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, bị cáo Nguyễn Thanh H đã bị bắt quả tang vì có hành vi cất giấu ma túy gồm loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,3107 gam. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh H đã thỏa mãn dấu hiệu tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm thuộc loại tội phạm nghiêm trọng.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự tại địa phương, ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo H có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích cất giấu để sử dụng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội; thuộc thành phần nhân dân lao động. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, tội phạm về ma tuý có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh trật tự tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Do đó, việc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội là cần thiết, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo.

[6] Hình phạt bổ sung:

Do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Xử lý vật chứng:

  • Ma túy là vật chứng đã thu giữ trong vụ án là vật cấm lưu hành do Nhà nước độc quyền quản lý, hiện không còn giá trị sử dụng, xét tịch thu tiêu hủy;
  • Đối với các dụng cụ sử dụng ma túy (một chai thủy tinh trong suốt, gắn ống hút nhựa màu trắng và ống thuỷ tinh) không còn giá trị sử dụng, xét tịch thu tiêu hủy;

[8] Những vấn đề khác:

Đối với việc Nguyễn Thanh H khai nhờ Nguyễn Văn S mua ma túy giúp, S không thừa nhận. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.

[9] Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy";

Xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Thanh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 22/11/2024.

Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01(một) phong bì niêm phong ghi số 1645/KL-KLHS ngày 27/11/2024, có đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh An Giang cùng các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H1 và Vũ Quốc H2; 01 (một) ly thủy tinh trong suốt, một đầu gắn đoạn ống hút nhựa màu trắng, một đầu nắm đậy màu cam, được gắn phiểu thuỷ tinh (dụng cụ sử dụng ma tuý).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/3/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).

Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Nguyễn Thanh H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang (1);
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh AG (1)
  • - Viện kiểm sát nhân dân TPCĐ (1);
  • - Sở Tư pháp, tỉnh An Giang (1);
  • - Phân trại tạm giam khu vực Châu Đốc (2);
  • - Phòng hồ sơ (1);
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TPCĐ (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú (1);
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 31/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger