Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẨM KHÊ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: ...../2025/HSST

Ngày 27/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ - TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Hải

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt Tú và ông Hà Mạnh Linh

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đinh Kiều Anh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê tham gia phiên toà: Ông Phạm Thật - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê xét xử sơ thẩm trực tiếp công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025, đối với:

Bị cáo: Nguyễn Đình H. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

Sinh ngày 16 tháng 11 năm 1994 tại C, Phú Thọ.

Nơi cư trú: khu L, xã N (xã V cũ), huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12

Con ông Nguyễn Đình T và bà Phùng Thị C. Có vợ là Hoàng Thị Hồng L và 02 con.

Tiền án: Không. Tiền sự: Không

Nhân thân: Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính về an ninh trật tự số 44/QĐ-XPHC ngày 15/6/2015 của công an huyện C, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Đình H bị xử phạt 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) về hành vi: Mua số đề. Bị cáo chưa nộp phạt nhưng đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính nên được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 30/10/2024, áp dụng biện pháp tạm giam ngày 07/11/2024. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam – Công an tỉnh P. Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Anh Đoàn Đức T1, sinh năm 1997. Trú tại: Khu L, xã Đ. huyện Y, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.

+ Chị Hoàng Thị Đ, sinh năm 2002. Trú tại: Khu L, xã Đ. huyện Y, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 15 phút ngày 30/10/2024, tại đoạn đường dân sinh thuộc khu L, xã N (xã V cũ), huyện C, tỉnh Phú Thọ, Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh P phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Đình H, sinh năm: 1994, Nơi cư trú: khu L, xã N (xã V cũ), huyện C đang có hành vi tàng trữ 05 gói giấy bạc bên trong cả 05 gói đều có chứa chất rắn dạng bột cục màu trắng, bản thân H khai nhận đây là ma túy, loại Heroine, mục đích H tàng trữ để bán cho người khác.

Vật chứng thu giữ: 05 gói giấy bạc bên trong cả 05 gói đều có chứa chất rắn dạng bột cục màu trắng do Nguyễn Đình H giao nộp; Tạm giữ của H: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart đã qua sử dụng, vỏ màu xanh, số Imei 3545811112082137 trong lắp 01 thẻ sim số thuê bao 0389434012; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng vỏ màu tím số Imei 867226055380235 trong lắp 01 thẻ sim số thuê bao 0866857789.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Đình H tại khu L, xã N (xã V cũ), huyện C. Quá trình khám xét thu giữ: 01 thẻ CCCD mang tên Nguyễn Đình H; 01 chiếc cân điện tử màu đen đã cũ, mặt phía trước có chữ Pocket scale; 01 túi nilon màu trắng có khuy bấm bên trong chứa 05 gói giấy bạc, bên trong cả 05 gói có chứa chất rắn dạng bột cục màu trắng, H khai nhận đây là ma túy loại Heroine; 01 túi nilon màu trắng có khuy bấm bên trong túi chứa 02 viên nén hình trụ màu hồng, H khai nhận đây là ma túy loại Methamphetamine. H khai nhận tàng trữ số ma túy trên mục đích để bán cho người khác.

Ngày 30/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P có Quyết định trưng cầu giám định số 3208/QĐ-CSMT(Đ3) tại Phòng K Công an tỉnh P số vật chứng thu giữ của Nguyễn Đình H.

Ngày 31/10/2024, Phòng K Công an tỉnh P có bản Kết luận giám định số 1496/KL-KTHS kết luận:

- Chất rắn dạng bột, cục màu trắng chứa bên trong 05 gói giấy bạc niêm phong trong bì giấy ghi bì niêm phong vật chứng thu giữ khi bắt người phạm tội quả tang gửi đến giám định là ma túy; có tổng khối lượng là 0,635 gam loại Heroine (H).

Chất rắn dạng bột, cục màu trắng chứa bên trong 05 gói giấy bạc niêm phong trong bì giấy ghi bì niêm phong vật chứng thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở là ma túy; có tổng khối lượng là: 2,104 gam loại Heroine (H).

02 (hai) viên nén hình tròn màu hồng có tổng khối lượng 0,198 gam; là ma túy loại Methamphetamine.

* Heroine (H3), có tên khoa học là D được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ: Danh mục IA, số thứ tự 9, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.

* M là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.

H1 lại đối tượng sau giám định: Bì ghi vật chứng thu giữ khi bắt người phạm tội quả tang, trả lại: 0,534 gam chất bột, cục màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; bì ghi Vật chứng thu giữ khi khám xét khẩn cấp, trả lại 1,943 gam chất bột, cục màu trắng và 0,096 gam viên nén hình tròn màu hồng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định. Tất cả được niêm phong dán kín trong 01 túi niêm phong, bên ngoài túi niêm phong có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh P, và các chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán.

Quá trình điều tra đã xác định được như sau:

Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 30/10/2024, H đem theo 05 gói ma túy Heroin đi bộ từ nhà thuộc khu L, xã N (xã V cũ), huyện C. Khi đi đến đoạn đường liên khu thuộc khu L, xã N (xã V cũ), huyện C thì thì bị phát hiện bắt quả tang. Quá trình làm việc Nguyễn Đình H khai nhận việc tàng trữ trái phép chất ma tuý, loại heroine để bán cho người có nhu cầu mua.

Ngoài ra, tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đình H còn tự khai nhận 02 lần bán trái phép ma túy, loại Heroine cho Đoàn Đức T1, sinh năm 1997; Nơi cư trú: khu L, xã Đ, huyện Y, tỉnh Phú Thọ, cụ thể:

- Lần 1: Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 27/10/2024, T1 dùng Zalo tên “Đức Trọng” nhắn cho Z của H tên “Nguyễn Đình H” được đăng ký bằng số điện thoại 0866.857.xxx với nội dung hỏi mua 500.000 đồng tiền ma túy H2, H đồng ý. H nhắn tin số tài khoản ngân hàng Q “Q” 3990123789999 của H cho T1. T1 dùng ứng dụng chuyển tiền của ngân hàng Q có số tài khoản 02911979999 được đăng ký bằng tên của T1 để chuyển tiền cho H. H lấy số ma túy cất ở trong nhà ra, lấy áng khoảng 1 ít ma túy Heroin không xác định được khối lượng cho vào giấy bạc, H dùng giấy ăn quấn ở bên ngoài gói giấy bạc và đúc toàn bộ vào 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng. Sau đó H đi ra ngoài đường cách cổng nhà khoảng 100m thuộc Khu L, xã V nay là xã N, huyện C, H để vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong đựng ma túy ở rề đường bên phải so với hướng đi về dốc Gò Chùa của khu L. H nhắn tin qua Z cho T1 chỉ địa điểm để ma túy cho T1 đến lấy. Số tiền 500.000 đồng H bán ma túy cho T1, H đã tiêu sài cá nhân hết.

- Lần 2: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 29/10/2024, T1 tiếp tục dùng Zalo trên nhắn tin qua Z cho H hỏi mua 500.000 đồng ma túy H2, H đồng ý. H gửi số tài khoản của ngân hàng Q 9495668999999 của H cho T1, T1 dùng ứng dụng chuyển tiền ngân hàng V có số tài khoản 103867575129 được đăng ký bằng tên của T1 để chuyển số tiền 500.000đ mua ma túy cho H. Địa điểm, diễn biến về hành vi mua bán ma tuý, H thực hiện như lần 1. Số tiền 500.000 đồng bán ma túy cho T1, H đã tiêu sài cá nhân hết.

Ngày 30/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P triệu tập T1 đến để làm việc. Tại cơ quan điều tra, T1 khai nhận hành vi mua ma túy của mình như H đã khai. Ngày 20/12/2024, Đoàn Đức T1 tự nguyện giao nộp chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng Gold, có số IMEI: 352839115530326, bên trong lắp sim số 0387373354, đây là chiếc điện thoại T1 sử dụng để nhắn tin qua Z hỏi mua và chuyển tiền thanh toán mua ma túy của H ngày 27/10/2024 và 29/10/2024. Quá trình điều tra xác định, chiếc điện thoại này của chị Hoàng Thị Đ, sinh năm: 2002 là vợ T1, hiện đang sinh sống cùng T1 ở khu L, xã Đ, huyện Y, tỉnh Phú Thọ, do trước đó điện thoại T1 bị hỏng, T1 có mượn điện thoại của chị Đ để sử dụng. Việc T1 sử dụng điện thoại trên để liên lạc cho H mua ma túy, chị Đ không biết và T1 cũng không nói cho chị Đ biết. Đối với số ma túy T1 đã mua của H, khi mua bán, không thỏa thuận gì với nhau về khối lượng mà chỉ thỏa thuận về số tiền, sau khi mua được ma túy, T1 sử dụng một mình hết do đó Cơ quan CSĐT Công an huyện C không xác định được khối lượng.

Về nguồn gốc số ma tuý, H khai: Ngày 20/10/2024, tại Khu công nghiệp Y thuộc huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, H mua của một người đàn ông không rõ tên, tuổi địa chỉ 2.000.000đồng được 01 (một) gói ma túy Heroin, người đàn ông này cho H thêm 02 viên ma túy có đặc điểm là viên nén hình trụ, màu hồng. Ngày 29/10/2024 H có lấy một ít ma túy Heroin có lẫn một ít ma túy Methamphetamine để sử dụng một mình bằng cách đốt hít vào cơ thể tại nhà. H 2 lần lấy ra bán cho T1, số ma tuý còn lại H chia làm 10 gói nhỏ để bán kiếm lời thì bị thu giữ như đã nêu trên.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các lời khai của người liên quan, các biên bản hỏi cung, vật chứng thu giữ và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 11/CT - VKSCK ngày 20 tháng 02 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê đã truy tố Nguyễn Đình H về tội "Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy”.

Đề nghị áp dụng:

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình H từ 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 07 (Bảy) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/10/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) túi niêm phong có mã số PS3-2137021, mặt trước túi có ghi “Công an tỉnh P, phòng K số 1496/KLKTHS”, mặt sau bì có 03 chữ ký và 05 dấu hình tròn của Phòng K. Bên trong là đối tượng hoàn lại sau giám định: Bì ghi vật chứng thu giữ khi bắt người phạm tội quả tang, trả lại: 0,534 gam chất bột, cục màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; bì ghi Vật chứng thu giữ khi khám xét khẩn cấp, trả lại 1,943 gam chất bột, cục màu trắng và 0,096 gam viên nén hình tròn màu hồng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; 01 thẻ sim số thuê bao 0866857789 và 01 chiếc cân điện tử màu đen đã cũ, mặt phía trước có chữ Pocket scale thu giữ của Nguyễn Đình H.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng vỏ màu tím số Imei 867226055380235 thu giữ của Nguyễn Đình H.

Trả lại cho bị cáo H: 01 thẻ CCCD mang tên Nguyễn Đình H và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart đã qua sử dụng, vỏ màu xanh, số Imei 3545811112082137 trong lắp 01 thẻ sim số thuê bao 0389434012 thu giữ của H nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê ngày 20/02/2025).

Truy thu của Nguyễn Đình H số tiền 1.000.000đ là tiền H bán ma túy cho T1 ngày 27 và ngày 29/10/2024 để nộp ngân sách nhà nước.

Xác nhận cơ quan CSĐT Công an huyện C đã trả lại cho chị Hoàng Thị Đ 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng Gold đã cũ, có số IMEI: 352839115530326, bên trong lắp sim số 0387373354. (Theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 07/01/2025).

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a Khoản 1, điều 23 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Đình H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo biết hành vi phạm tội của bị cáo là sai, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có điều kiện cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên của bị cáo và người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:

Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định và hợp pháp.

[2] Về những chứng cứ xác định các bị cáo có tội:

Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung Cáo trạng truy tố đối với bị cáo là đúng, không oan sai. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng vụ án và các tài liệu khác lưu trong hồ sơ. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Vào hồi 11 giờ 15 phút ngày 30/10/2024, tại đoạn đường liên khu thuộc khu L, xã N (xã V cũ), huyện C, Nguyễn Đình H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,635 gam ma túy Heroin nhằm mục đích bán trái phép cho ai có nhu cầu mua. Cùng ngày, tại nhà của Nguyễn Đình H ở khu L, xã N (xã V cũ), huyện C, tỉnh Phú Thọ, H có hành vi tàng trữ trái phép 2,104 gam ma túy Heroin và 0,198 gam ma túy Methamphetamine nhằm mục đích để bán kiếm lời. Ngoài ra, Nguyễn Đình H còn 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Đoàn Đức T1 vào ngày 27 và ngày 29/10/2024, mỗi lần H bán cho T1 01 gói Heroine với giá 500.000 đồng/ 1 gói. Các lần thỏa thuận mua bán ma tuý giữa H và T1 đều chỉ thoả thuận về số tiền, loại ma tuý mua bán và không thoả thuận, thống nhất gì về khối lượng ma tuý mua bán nên không xác định được khối lượng ma túy. Nguyễn Đình H phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhiều lần với khối lượng ma túy thu giữ đã xác định được là 2,739 gam Heroine và 0,198 gam Methamphetamine.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát trình bày luận tội, bị cáo không tranh luận. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Đình H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy” như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Tội phạm và hình phạt đối với bị cáo được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy quy định:

“...”

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

...”

b) Phạm tội 02 lần trở lên; ...”

[3] Về tính chất hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, là nguyên nhân gây ra các tội phạm nguy hiểm cho xã hội. Vì lẽ trên cần phải được xét xử nghiêm minh nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Đình H có nhân thân xấu, năm 2014 bị Công an huyện C xử phạt hành chính về hành vi: Mua số đề, đã được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính; Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra bị cáo H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo tự thú, khai báo hành vi bán ma tuý trái phép cho Đoàn Đức T1 vào các ngày 27 và ngày 29/10/2024 trước khi hành vi phạm tội bị phát hiện nên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Từ những phân tích, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, hành vi mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 điều 251 Bộ luật hình sự là phạt tiền đối với bị cáo thấy rằng: Nguyễn Đình H sống cùng bố mẹ đẻ, làm lao động tự do, không có tài sản riêng, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Đối với Đoàn Đức T1 là người nghiện chất ma túy, đã 02 lần mua ma túy Heroine của bị cáo H các ngày 27 và 29/10/2024 và đã sử dụng cho bản thân hết. T1 chưa bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị kết án các tội về ma túy. Ngày 18/01/2025 Công an huyện C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T1 là đúng quy định pháp luật.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo H ngày 29/10/2024, Công an huyện C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là đúng quy định pháp luật.

Đối với chị Hoàng Thị Đ có cho Đoàn Đức T1 mượn chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng Gold đã cũ, bên trong lắp sim số 0387373354. Trong các ngày 27 và ngày 29/10/2024 T1 sử dụng điện thoại và sim này để liên lạc mua ma túy của bị cáo H. Quá trình điều tra xác định chị Đ không biết và không liên quan đến hành vi mua ma túy của T1, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là đúng quy định pháp luật.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy Heroine cho H tại Khu công nghiệp Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh vào ngày 20/10/2024, do không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý trong vụ án này là đúng quy định pháp luật.

[8] Về xử lý vật chứng:

- Đối với ma tuý hoàn lại sau giám định: Bì ghi vật chứng thu giữ khi bắt người phạm tội quả tang, trả lại: 0,534 gam chất bột, cục màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; bì ghi Vật chứng thu giữ khi khám xét khẩn cấp, trả lại 1,943 gam chất bột, cục màu trắng và 0,096 gam viên nén hình tròn màu hồng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định cần tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng vỏ màu tím số Imei 867226055380235 bên trong lắp sim số 0866857789 thu giữ của Nguyễn Đình H, đây là điện thoại và sim H sử dụng để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu điện thoại sung để quỹ nhà nước và tịch thu sim để tiêu huỷ.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, vỏ màu xanh, số Imei 3545811112082137, bên trong lắp 01 thẻ sim số thuê bao 0389434012. Đây là tài sản của H không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Đối với 01 thẻ căn cước công dân (CCCD) mang tên Nguyễn Đình H và 01 chiếc cân điện tử màu đen đã cũ, mặt phía trước có chữ Pocket scale thu giữ của H, đây là giấy tờ cá nhân và tài sản của bị cáo H, không liên quan đến hành vi phạm tội. Tại phiên toà, bị cáo xin trả lại CCCD, chiếc cân điện tử bị cáo không xin nhận lại nên cần trả lại CCCD cho bị cáo H và tịch thu tiêu huỷ chiếc cân điện tử do không còn giá trị sử dụng.

(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê ngày 20/02/2025).

- Đối với số tiền bị cáo H bán ma túy cho T1 các ngày 27 và ngày 29/10/2024 chưa tịch thu được cần truy thu để nộp ngân sách nhà nước theo quy định.

- Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng Gold đã cũ, có số IMEI: 352839115530326, bên trong lắp sim số 0387373354 thu giữ của Đoàn Đức T1. Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại này là tài sản riêng của chị Hoàng Thị Đ - sinh năm 2002, trú tại khu L, xã Đ, huyện Y, tỉnh Phú Thọ cho Trọng mượn để sử dụng liên lạc hàng ngày. Việc T1 sử dụng điện thoại và sim để mua ma túy của H, chị Đ không biết nên ngày 07/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra Quyết định xử lý đồ vật, tài sản, trả lại điện thoại cho chị Đ là đúng quy định pháp luật, cần xác nhận.

[10] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề xuất về hình phạt đối với bị cáo và việc xử lý vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên cần được chấp nhận.

[11] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo H phải chịu án phí theo quy định.

Bị cáo, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình H 7 (Bẩy) năm 6 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 30/10/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

2.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) túi niêm phong có mã số PS3-2137021, mặt trước túi có ghi “Công an tỉnh P, phòng K số 1496/KLKTHS”, mặt sau bì có 03 chữ ký và 05 dấu hình tròn của Phòng K. Bên trong là đối tượng hoàn lại sau giám định: Bì ghi vật chứng thu giữ khi bắt người phạm tội quả tang, trả lại: 0,534 gam chất bột, cục màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; bì ghi Vật chứng thu giữ khi khám xét khẩn cấp, trả lại 1,943 gam chất bột, cục màu trắng và 0,096 gam viên nén hình tròn màu hồng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; 01 thẻ sim số thuê bao 0866857789 và 01 chiếc cân điện tử màu đen đã cũ, mặt phía trước có chữ Pocket scale thu giữ của Nguyễn Đình H.

2.2. Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng vỏ màu tím số Imei 867226055380235 thu giữ của Nguyễn Đình H.

2.3. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đình H: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart đã qua sử dụng, vỏ màu xanh, số Imei 3545811112082137 trong lắp 01 thẻ sim số thuê bao 0389434012 thu giữ của H nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án; trả lại cho Nguyễn Đình H: 01 thẻ CCCD mang tên Nguyễn Đình H;

(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê ngày 20/02/2025).

2.4. Truy thu của Nguyễn Đình H số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.

2.5. Xác nhận cơ quan CSĐT Công an huyện C đã trả lại cho chị Hoàng Thị Đ 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng Gold đã cũ, có số IMEI: 352839115530326, bên trong lắp sim số 0387373354. (Theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 07/01/2025).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a Khoản 1, điều 23 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Đình H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Cẩm Khê;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh;
  • - CQCSĐT CA tỉnh Phú Thọ;
  • - THADS huyện Cẩm Khê;
  • - THAHS công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, lưu VP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số ...../2025/HSST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ - TỈNH PHÚ THỌ về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: ...../2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ - TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger