|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2025/DS-ST
Ngày: 19 - 02 - 2025
V/v: Tranh chấp hợp đồng dân sự - tiền hụi.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Ngoan
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Thơi
- Bà Trần Thị Út
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Võ Huỳnh Anh Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 120/2024/TLST-DS ngày 14 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự - tiền hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hồng X, sinh năm 1954 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp G, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang
- Bị đơn:
- Bà Đồng Thị Tào H, sinh năm 1979 (vắng mặt).
- Ông Phạm Thành V (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp G, xã V, huyện L, Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Hồng X (gọi tắt là bà X) trình bày:
Bà Nguyễn Hồng X có tham gia các dây hụi do bà Đồng Thị Tào H và ông Phạm Thành V làm chủ, bà X tham gia các dây hụi như sau:
Dây thứ nhất: Hụi tháng, loại hụi 1.000.000 đồng/tháng, mở ngày 10/4/2021 âl, hụi có 45 phần, bà X tham gia 01 phần, đóng được 37 lần hụi sống với số tiền 21.530.000 đồng, đến lần khui hụi thứ 38 thì bà H, ông V tuyên bố úp hụi.
Dây hụi thứ 2: Hụi tháng, loại hụi 500.000 đồng/tháng, mở ngày 30/8/2022 âl, hụi có 49 phần, bà X tham gia 01 phần, đóng được 21 lần hụi sống với số tiền 6.000.000 đồng đến lần khui hụi thứ 22 thì bà H, ông V tuyên bố úp hụi.
Dây hụi thứ 3: Hụi mùa loại hụi 5.000.000 đồng/03 tháng, mở ngày 25/02/2023 âl, hụi có 16 phần, bà X tham gia 01 phần, đóng được 5 lần hụi sống với số tiền 12.500.000 đồng, đến lần khui hụi thứ 6 thì bà H1, ông V tuyên bố úp hụi.
Ngoài ra, bà X còn nợ lại bà H và ông V 01 phần hụi chết số tiền bà X nợ là 6.000.000 đồng
Sau khi úp hụi bà H, ông V và bà X có tổng kết hụi với nhau, tổng số tiền bà H, ông V còn nợ của bà X là 40.030.000 đồng, bà X đồng ý khấu trừ lại số tiền hụi chết mà bà X còn nợ bà H là 6.000.000 đồng.
Nên nay bà X khởi kiện yêu cầu bà H, ông V có nghĩa vụ trả số tiền hụi còn nợ là 34.030.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Quá trình giải quyết vụ án, tại biên bản ghi lời khai bị đơn Đồng Thị Tào H (gọi tắt là bà H) trình bày:
Bà H thừa nhận bà X có tham gia chơi hụi do bà làm chủ hụi. Sau khi úp hụi, bà H và bà X có kết toán hụi với nhau, bà H xác định còn nợ bà X số tiền hụi tổng cộng là 34.030.000 đồng. Nay, bà H đồng ý trả số tiền hụi còn nợ là 34.030.000đồng cho bà X.
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, bị đơn ông Phạm Thành V đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần để ghi lời khai cũng như tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng ông V vắng mặt nhiều lần không có lý do nên không ghi nhận được ý kiến của ông V về yêu cầu khởi kiện của bà X và không thể tiến hành tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đối với bị đơn ông Phạm Thành V.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Hồng X yêu cầu bà Đồng Thị Tào H và ông Phạm Thành V có nghĩa vụ trả số tiền hụi còn nợ là 34.030.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang trình bày quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, các đương sự đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Hồng X. Buộc bị đơn Đồng Thị Tào H và ông Phạm Thành V có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Nguyễn Hồng X số tiền hụi còn nợ là 34.030.000 đồng, nguyên đơn không yêu cầu tính lãi nên không xem xét.
Về án phí, bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá và nhận định về những chứng cứ, những tình tiết của vụ án:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.2]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Nguyễn Hồng X khởi kiện vợ chồng bà Đồng Thị Tào H và ông Phạm Thành V để yêu cầu trả số tiền hụi còn nợ. Căn cứ theo quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng dân sự - tiền hụi”. Bị đơn bà Đồng Thị Tào H và ông Phạm Thành V có nơi cư trú tại ấp G, xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Đối với bị đơn bà Đồng Thị Tào H và ông Phạm Thành V đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên tòa xét xử, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn nhưng vẫn đảm bảo quyền và nghĩa vụ hợp pháp cho đương sự theo quy định pháp luật.
[2]. Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1]. Tại biên bản ghi lời khai ngày 05/11/2024 bà H thừa nhận bà X có tham gia chơi hụi do bà H làm chủ và khi bà H tuyên bố úp hụi thì bà H còn nợ lại bà X số tiền sau khi trừ cấn các khoản là 34.030.000 đồng, việc bà H thừa nhận có nợ tiền hụi bà X là tình tiết không phải chứng minh bằng chứng cứ theo quy định theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Đối với ông Phạm Thành V, trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã triệu tập nhiều lần nhưng ông V không có ý kiến gì về việc số tiền hụi còn nợ của bà X. Căn cứ Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Do đó, Toà án căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ cũng như lời thừa nhận của bà H làm cơ sở để Toà án xem xét giải quyết.
[2.2]. Xét giao dịch tham gia hụi giữa bà X và vợ chồng bà H, ông V là do sự tự nguyện thỏa thuận giữa hai bên, do quá trình tham gia hụi, bà H, ông V tuyên bố úp hụi nhưng chưa thanh toán tiền lại cho các hụi viên, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của họ, nên bà X yêu cầu vợ chồng bà H, ông V phải có nghĩa vụ trả cho bà N số tiền hụi còn nợ là 34.030.000 đồng là phù họp theo quy định tại Điều 463 và Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015 nên được hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.3]. Từ những nhận định trên, xét lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị đơn bà Đồng Thị Tào H và ông Phạm Thành V phải có nghĩa vụ nộp 5% án phí có giá ngạch trên tổng số tiền phải thực hiện nghĩa vụ là 34.030.000 đồng x 5% = 1.701.500 đồng (một triệu bảy trăm lẻ một nghìn năm trăm đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 468 và Điều 471 Bộ luật dân sự 2015;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hồng X đối với bị đơn bà Đồng Thị Tào H và ông Phạm Thành V về tranh chấp tiền hụi.
- Buộc bị đơn bà Đồng Thị Tào H và ông Phạm Thành V cùng có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Hồng X số tiền hụi còn nợ 34.030.000 đồng (ba mươi bốn triệu không trăm lẻ ba nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đồng Thị Tào H và ông Phạm Thành V phải nộp án phí với số tiền là 1.701.500 đồng (một triệu bảy trăm lẻ một nghìn năm trăm đồng).
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19/02/2025). Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, tống đạt theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thuý Ngoan |
Bản án số 23/2025/DS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự - tiền hụi
- Số bản án: 23/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự - tiền hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà X yêu cầu bà H trả tiền
