Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯNG HÀ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/HS-ST

Ngày 19-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Đăng Tuấn, Bí thư Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh xã Hoà Bình, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
  2. Ông Nguyễn Ngọc Hoàng, Công chức xây dựng, giao thông xã Minh Hoà, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Hoài Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

* Họ và tên: Nguyễn Minh Q, sinh ngày 17 tháng 01 năm 2006, tại huyện H, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: không; bố đẻ: Không xác định; mẹ đẻ: Bà Nguyễn Thị H; gia đình có 5 anh em, bị cáo là con thứ nhất; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30-9-2024. (có mặt)

* Bị hại: Cháu Khúc Ngọc H1, sinh ngày 09-7-2007; người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Khúc Ngọc L, sinh năm 1966 và bà Bùi Thị Ánh T, sinh năm 1974 (là bố mẹ đẻ của cháu Khúc Ngọc H1); đều cư trú tại địa chỉ: Tổ dân phố B, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (cháu H1, ông L, bà T đều vắng mặt)

* Người làm chứng:

  • Bà Bùi Thị Ánh T, sinh năm 1974 và ông Khúc Ngọc L, sinh năm 1966; đều cư trú tại: Tổ dân phố B, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (vắng mặt)
  • Cháu Khúc Ngọc A, sinh ngày 09-7-2007; người đại diện của cháu Ngọc A: Ông Khúc Ngọc L, sinh năm 1966 và bà Bùi Thị Ánh T, sinh năm 1974 (là bố mẹ đẻ của cháu Khúc Ngọc A); đều cư trú tại: Tổ dân phố B, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (vắng mặt)
  • Cháu Bùi Ngọc Á, sinh ngày 01-9-2007; người đại diện của cháu Á: Ông Bùi Xuân Q1, sinh năm 1978; đều cư trú tại: Tổ dân phố B, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (vắng mặt)
  • Cháu Nguyễn Hà Bích L1, sinh ngày 04-01-2007; nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (vắng mặt)
  • Cháu Nguyễn Tri Quỳnh A1, sinh ngày 06-12-2007; nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên và người đại diện của cháu Quỳnh A1.(vắng mặt)
  • Cháu Phí Ngọc Mai T1, sinh ngày 02-7-2007, nơi cư trú: Tổ dân phố F, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên và người đại diện của cháu T1. (vắng mặt)
  • Cháu Phùng Thị K, sinh ngày 04-10-2007; người đại diện của cháu K: Anh Phùng Quang L2, sinh năm 1992; đều cư trú tại: Tổ dân phố D, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. (vắng mặt)
  • Cháu Ngô Phong L3, sinh ngày 07-5-2007; nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên và người đại diện của cháu L3. (vắng mặt)

* Đại diện Đoàn T3 Trường THPT L5, thanh phố P, tỉnh Thái Nguyên: Bà Phạm Thị Anh N, chức vụ: Bí thư Đoàn (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bị cáo Nguyễn Minh Q và Khúc Ngọc H1 quen nhau ngày 11 tháng 02 năm 2024 qua trò chơi online Liên Quân Mobile. Sau đó bị cáo và H1 sử dụng mạng xã hội Z và Facebook để nói chuyện với nhau, được khoảng một tuần thì phát sinh quan hệ yêu đương, tự nguyện trao đổi thông tin đăng nhập tài khoản facebook (tên đăng nhập, mật khẩu) của nhau (tài khoản của H1 là “N”, tài khoản của Q là “Ng Minh Q2”). Trong quá trình yêu nhau, bị cáo và Khúc Ngọc H1 thường xuyên nhắn tin, gọi điện hình ảnh (video) cho nhau khi đang tắm, khỏa thân, nhiều lần H1 tự dùng điện thoại để quay, chụp lại hình ảnh khỏa thân, lộ bộ phận sinh dục của mình rồi gửi cho Q2 qua tài khoản Facebook và Z. Q2 đã lưu lại các video, hình ảnh này của H1 trên điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh dương của Q2. Sau một thời gian yêu nhau, Q2 phát hiện H1 vẫn liên lạc, nói chuyện với một số bạn trai cũ nên nảy sinh ghen tuông dẫn đến mâu thuẫn, cãi chửi nhau. Q2 đã tự đổi thông tin đăng nhập tài khoản Facebook “Ngọc Haa” của H1 để chỉ mình Q2 sử dụng.

Ngày 26/8/2024, tại nhà ở của mình ở thôn A, xã T, huyện H, Q2 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, đăng nhập vào tài khoản Facebook, M “N” gửi các video hình ảnh H1 khỏa thân, lộ bộ phận sinh dục cho cháu Khúc Ngọc A, là chị sinh đôi với H1 02 video hình ảnh; gửi cho các cháu Bùi Ngọc Á, cháu Nguyễn Hà Bích L1, cháu Phí Ngọc Mai T1, cháu Nguyễn Tri Quỳnh A1 và cháu Phùng Ngọc K1 đều là bạn của H1 03 đến 08 video hình ảnh.

Ngày 28/8/2024, cũng tại nhà ở của mình ở thôn A, xã T, huyện H, Q2 đã sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax đăng nhập vào tài khoản Zalo tên “Ng Minh Q2” gửi các video hình ảnh H1 khỏa thân, lộ bộ phận sinh dục cho cháu Khúc Ngọc A là chị gái sinh đôi của H1 05 video hình ảnh, cháu Bùi Ngọc Á là chị em họ của H1 03 video hình ảnh và bà Bùi Thị Ánh T là mẹ đẻ của H1 03 đến 04 video hình ảnh.

Khi biết sự việc, H1 đã yêu cầu Q2 thu hồi, xóa các bài đăng trên đi nhưng Q2 không thực hiện nên H1 cảm thấy nhục nhã, không dám đi ra ngoài gặp mọi người mà phải nghỉ học ở nhà. H1 đã làm đơn tố giác hành vi của Q2 gửi cơ quan Công an đề nghị giải quyết.

Bản kết luận giám định số 1745/KL-KTHS ngày 09/12/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 08 tệp video lưu trong USB gửi giám định. Hình ảnh, diễn biến trong các tệp video gửi giám định được trích xuất, mô tả trong Phụ lục kèm theo kết luận.

Bản cáo trạng số 22/CT-VKSHH ngày 12-02-2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Nguyễn Minh Q về tội “Làm nhục người khác” theo quy định tại điểm a, e khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Nguyễn Minh Q và gia đình đã chủ động tìm gặp, đến xin lỗi bị hại và gia đình bị hại, xin tự nguyện bồi thường tổn thất tinh thần cho bị hại. Ông Khúc Ngọc L là bố đẻ của cháu H1 đã nhận tiền và cho lại bị cáo, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản nào tiền nào khác, đồng thời đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Minh Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bản thân rất ân hận về hậu quả hành vi phạm tội đã gây ra, gửi lời xin lỗi bị hại và đại diện của bị hại, xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Q phạm tội “Làm nhục người khác”. Áp dụng điểm a, e khoản 2 Điều 155, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo 09 tháng đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng đến 02 năm tính từ ngày tuyên án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại. Đại diện của bị hại đã nhận, không yêu cầu bồi thường thêm khoản tiền nào khác nên không đặt ra giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh dương; có số seri: C1QJDG9C7N, số IMEI 1: 35265446279085, số IMEI 2: 35263446369613, máy lắp sim có số ICCID: 89840480009050098428, đã qua sử dụng, mặt kính phía sau bị vỡ tại góc trên bên trái.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt đối với bị cáo, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người đại diện của bị hại không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, những người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về căn cứ buộc tội đối với bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Đơn trình báo và biên bản ghi lời khai bị hại: cháu Khúc Ngọc H1; Bản kết luận giám định số 1745/KL-KTHS ngày 09/12/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T; các biên bản giao nhận, kiểm tra điện thoại Iphone 13 Promax, màu xanh dương và điện thoại OPPO Reno2F của Nguyễn Minh Q do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Thái Nguyên lập hồi 08 giờ và 10 giờ cùng ngày 17/9/2024; các biên bản kiểm tra điện thoại Iphone 13 Promax, màu xanh dương và điện thoại OPPO Reno2F của Nguyễn Minh Q do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H lập hồi 18 giờ và 18 giờ 40 phút cùng ngày 17/9/2024; các biên bản kiểm tra điện thoại của Khúc Ngọc H1, Khúc Ngọc A, Bùi Ngọc Á, Nguyễn Hà Bích L1, Bùi Thị Ánh T, Nguyễn Văn Q3, Ngô Thị Mai L4, Phí Ngọc Mai T1, Ngô Phong L3, Dương Văn T2, Nguyễn Tri Quỳnh A1, Phùng Thị K do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H lập các ngày 30/8/2024, 18/9/2024, 21/9/2024, 15/01/2025 và ngày 16/01/2025); các biên bản ghi lời khai của cháu Khúc Ngọc A, cháu Bùi Ngọc Á, bà Bùi Thị Ánh T, ông Khúc Ngọc L, cháu Nguyễn Hà Bích L1, cháu Nguyễn Tri Quỳnh A1, cháu Phí Ngọc Mai T1, cháu Ngô Phong L3, cháu Ngô Thị Mai L4, cháu Nguyễn Văn Q3, cháu Dương Văn T2, cháu Phùng Thị K, cháu Dương Văn T2, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 15 giờ 57 phút ngày 26/8/2024 và 14 giờ 21 phút ngày 28/8/2024, tại nhà ở của mình tại thôn A, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình, bị cáo Nguyễn Minh Q đã có hành vi sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh dương của mình đăng nhập tài khoản mạng xã hội Facebook, M tên “Ngọc H2” và tài khoản mạng xã hội Zalo tên “Ng Minh Q2” gửi các video hình ảnh cháu Khúc Ngọc H1 khỏa thân, lộ bộ phận sinh dục đến tài khoản mạng xã hội của mẹ đẻ, chị gái cháu H1 và một số người khác là bạn cháu H1, nhằm mục đích xúc phạm danh dự, nhân phẩm cháu H1, làm cháu H1 thấy xấu hổ, nhục nhã, không dám đi ra ngoài. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Minh Q đã phạm vào tội “Làm nhục người khác” quy định tại điểm a, e khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự.

Điều 155. Tội làm nhục người khác

“1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

  • Phạm tội 02 lần trở lên;
  • Đối với 02 người trở lên;
  • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
  • Đối với người đang thi hành công vụ;
  • Đối với người dậy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;
  • Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
  • Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%

...

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà truy tố bị cáo Nguyễn Minh Q về tội “Làm nhục người khác” theo quy định tại điểm a, e khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của khác được pháp luật bảo vệ, ngoài ra còn xâm phạm đến thuần phong mĩ tục, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam cần được bảo vệ, gìn giữ.

[5] Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân tốt. Trong giai đoạn điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, đại diện của bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra, khi xem xét áp dụng hình phạt cũng cần lưu ý đến các yếu tố khác liên quan đến hành vi phạm tội như: Bị cáo phạm tội khi mới hơn 18 tuổi, tuổi đời còn rất trẻ nên hành động bồng bột, thiếu suy nghĩ, chưa nhận thức hết mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Bản thân bị cáo không có bố, mẹ có gia đình riêng và nhiều con riêng, bị cáo ở với bà ngoại nên sự giám sát, giáo dục, quan tâm của gia đình, người thân đối với bị cáo bị hạn chế so với bạn bè cùng lứa tuổi. Bị cáo gửi các video hình ảnh nhạy cảm của bị hại đều là gửi cho người thân bạn bè của bị hại, sau khi gửi hầu như bị cáo đã chủ động thu hồi tin nhắn, điều đó thể hiện việc bị cáo không mong muốn phát tán các video, hình ảnh tràn lan trên cộng đồng mạng xã hội.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi cuộc sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo cũng có tác dụng phòng ngừa, giáo dục. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục để bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời góp phần phòng ngừa chung.

[6] Về bồi thường thiệt hại: Quá trình điều tra, bị cáo và gia đình đã chủ động, tự nguyện bồi thường số tiền 5 triệu đồng để khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại về tổn thất tinh thần cho bị hại. Gia đình bị hại đã nhận và cho lại bị cáo, cũng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản nào khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết về vấn đề bồi thường thiệt hại.

[7] Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh dương; số seri: C1QJDG9C7N, số IMEI 1: 35265446279085, số IMEI 2: 35263446369613, lắp sim có số ICCID: 89840480009050098428, đã qua sử dụng, mặt kính phía sau bị vỡ tại góc trên bên trái thu giữ của bị cáo, là điện thoại bị cáo sử dụng để đăng nhập tài khoản mạng xã hội Facebook, M tên “Ngọc H2” và tài khoản mạng xã hội Zalo tên "Ng Minh Q2” gửi các video hình ảnh cháu H1 khỏa thân, lộ bộ phận sinh dục đến tài khoản mạng xã hội của mẹ đẻ, chị gái cháu H1 và một số người bạn cháu H1, là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung Quỹ nhà nước. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno2F, màu trắng, số seri: DQTODIEANBFMMVHQ, số IMEI 1: 869563045356653, IMEI 2: 869563045356646, là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị cáo là có căn cứ, cần chấp nhận.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh Q phạm tội “Làm nhục người khác”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a, e khoản 2 Điều 155; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Q 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Minh Q cho UBND xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung Quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh dương; có số seri: C1QJDG9C7N, số IMEI 1: 35265446279085, số IMEI 2: 35263446369613, máy lắp sim có số ICCID: 89840480009050098428, đã qua sử dụng, mặt kính phía sau bị vỡ tại góc trên bên trái thu giữ của bị cáo.

    (Vật chứng hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13-02-2025.)

  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Minh Q phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Minh Q có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự sơ thẩm - tội làm nhục người khác

  • Số bản án: 23/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm - Tội Làm nhục người khác
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Minh Q có hành vi sử dụng điện thoại di động đăng nhập mạng xã hội gửi các video của cháu Khúc Ngọc H khoả thân, lộ bộ phận sinh dục đến tài khoản mạng xã hội của bạn bè, người thân cháu H nhằm mục đích xúc phạm danh dự, nhân phẩm cháu H, làm cháu H thấy xấu hổ, nhục nhã, không dám đi ra ngoài
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger