TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2025/HNGĐ – ST.
Ngày: 18-3-2025.
V/v: Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NÓT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mộng Tuyền.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thúy Kiên.
- Bà Thái Ánh Trinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Gia Hân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Chi – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 185/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Diệu M - sinh năm 2002. Địa chỉ cư trú: khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Phạm Hữu L - sinh năm 2001. Địa chỉ cư trú: khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Bị đơn đang chấp hành biện pháp cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy thành phố Cần Thơ nay là Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Hậu Giang (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 14/3/2024 và trong quá trình thu thập chứng cứ nguyên đơn bà Trần Thị Diệu M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Phạm Hữu L tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Cần Thơ vào ngày 29/02/2024. Thời gian đầu vợ chồng chung sống cũng đầm ấm, hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông L có hành vi bạo lực trong suốt quá trình mang thai và sinh con dẫn đến tình trạng mâu thuẩn ngày càng trầm trọng, không hàn gắn được. Nay bà xác định không còn tình cảm và không thể tiếp tục chung sống với ông L nên bà yêu cầu Tòa án chấp nhận cho bà được ly hôn với ông L để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Bà và ông L chung sống có 01 con chung tên Phạm Trần Hoàng Y, sinh ngày 31/01/2024 hiện do ông L đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn bà tự nguyện dành quyền nuôi dưỡng con chung cho ông L. Về cấp dưỡng nuôi con bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và về nợ chung: Không.
Do bà phải đi làm ăn xa, điều kiện đi lại khó khăn nên bà yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải và được xét xử vắng mặt. Ngoài ra, không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 02/3/2025 bị đơn ông Phạm Hữu L trình bày:
Ông và bà M tự nguyện tiến đến hôn nhân vào cuối năm 2022, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Thời gian đầu vợ chồng chung sống cũng đầm ấm, hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung làm cho cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Sau khi sinh con được khoảng một tháng thì bà M tự ý bỏ nhà đi để lại con cho tôi nuôi dưỡng, vợ chồng chính thức ly thân khoảng hơn một năm nay không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do hiện nay tình cảm của ông đối với bà M cũng không còn nên ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà M.
Về con chung: Quá trình chung sống ông và bà M có 01 con chung tên Phạm Trần Hoàng Y, sinh ngày 31/01/2024 hiện do ông đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn ông đồng ý nhận quyền nuôi dưỡng con chung cho đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi), không yêu cầu bà M phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông thống nhất với ý kiến của bà M vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung. Đồng thời, do hiện nay ông đang chấp hành biện pháp cai nghiện để tạo điều kiện thuận lợi cho ông được chữa bệnh sớm tái hòa nhập cộng đồng nên ông yêu cầu Tòa án cho ông được vắng mặt tại các phiên hòa giải, đối chất và xét xử của Tòa. Ngoài ra, ông không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
Quá trình giải quyết vụ án bà M có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải còn ông L có đơn yêu cầu được vắng mặt tại phiên hòa giải nên vụ án được đưa ra xét xử công khai.
Đại diện viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký và việc chấp hành pháp luật của đương sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử vụ án là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời phát biểu ý kiến và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án như sau:
- Về hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Trần Thị Diệu M và ông Phạm Hữu L.
- Về con chung: Giao con chung Phạm Trần Hoàng Y, sinh ngày 31/01/2024 cho ông L tiếp tục được quyền nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi), bà M không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: không đề cập giải quyết.
- Về án phí: Bà Trần Thị Diệu M phải nộp theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Xét quá trình thu thập chứng cứ, nguyên đơn bà Trần Thị Diệu M và bị đơn ông Phạm Hữu L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự là phù hợp.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết tranh chấp: Bà Trần Thị Diệu M yêu cầu ly hôn với ông Phạm Hữu L. Do đó, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Phạm Hữu L có địa chỉ cư trú tại khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Do đó, vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà M và ông L tiến đến hôn nhân vào năm 2022 trên cơ sở hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống giữa ông bà phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân ông bà thống nhất cho rằng do vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xảy ra cãi vã dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và ông L cũng xác định ông bà đã sống ly thân khoản hơn 01 năm nay. Từ khi sống ly thân giữa ông, bà cũng không có giải pháp gì để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay bà M xác định không còn tình cảm với ông L nên bà yêu cầu Tòa án cho bà được vắng mặt tại phiên hòa giải và chấp nhận cho bà được ly hôn với ông L. Về phía ông L trong quá trình giải quyết vụ án cũng cũng xác định không còn tình cảm với bà M đồng thời có đơn yêu cầu được vắng mặt tại các phiên hòa giải, đối chất và yêu cầu được xét xử vắng mặt. Từ đó cho thấy ông L đã không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân với bà M1 ông cũng không có thiện chí hoà giải để hàn gắn tình cảm với bà L1. Nhận thấy, mâu thuẫn giữa ông bà đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân đã không đạt được và nay bà M yêu cầu được ly hôn, về phía ông L cũng đồng ý. Do đó, cần công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà M và ông L theo quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3.2] Về con chung: Bà M và ông L chung sống có 01 con chung tên Phạm Trần Hoàng Y, sinh ngày 31/01/2024 hiện do ông L đang nuôi dưỡng. Quá trình giải quyết ông bà thống nhất giao con chung cho ông L tiếp tục được quyền nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi), bà M không phải cấp dưỡng nuôi con cho ông L. Xét, đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử công nhận.
[3.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Xét việc cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của cha mẹ, không phân biệt người trực tiếp nuôi con có khả năng kinh tế hay không, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Ông L cho rằng ông có khả năng nuôi con nên không yêu cầu bà L1 phải cấp dưỡng nuôi con. Tòa án đã giải thích cho ông L biết việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là quyền lợi của con, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con nhưng ông L vẫn xác định không yêu nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.
[3.4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà M phải chịu theo quy định pháp luật.
[5] Xét đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 51, 53, 55, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Trần Thị Diệu M và ông Phạm Hữu L.
- Về con chung: Giao con chung Phạm Trần Hoàng Y, sinh ngày 31/01/2024 cho ông L tiếp tục được quyền nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi), bà M không phải cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho bà M không ai được quyền cản trở.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: không.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị Diệu M phải nộp số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà M đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005698 ngày 18/10/2024 (công nhận bà M đã nộp xong).
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Các Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Huỳnh Thị Mộng Tuyền |
Nơi nhận:
- - TAND TP Cần Thơ;
- - VKSND Q. Thốt Nốt;
- - Chi Cục THA DS Q. Thốt Nốt;
- - Các Đương sự;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 08 giờ 50 phút ngày 18 tháng 3 năm 2025.
Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – thành phố Cần Thơ.
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mộng Tuyền.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thúy Kiên.
2. Bà Thái Ánh Trinh.
Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số 185/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” giữa:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Diệu Mai - sinh năm 2002. Địa chỉ cư trú: khu vực Tràng Thọ 1, phường Thốt Nốt, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: Ông Phạm Hữu Lộc - sinh năm 2001. Địa chỉ cư trú: khu vực Phụng Thạnh 1, phường Thốt Nốt, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẦN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 51, 53, 55, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
+ Kết quả biểu quyết: 3/3.
* Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Trần Thị Diệu Mai và ông Phạm Hữu Lộc.
+ Kết quả biểu quyết: 3/3.
- Về con chung: Giao con chung Phạm Trần Hoàng Yến, sinh ngày 31/01/2024 cho ông Lộc tiếp tục được quyền nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi), bà Mai không phải cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho bà Mai không ai được quyền cản trở.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con.
+ Kết quả biểu quyết: 3/3.
- Về tài sản chung, nợ chung: không.
+ Kết quả biểu quyết: 3/3.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị Diệu Mai phải nộp số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà Mai đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005698 ngày 18/10/2024 (công nhận bà Mai đã nộp xong).
+ Kết quả biểu quyết: 3/3.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
+ Kết quả biểu quyết: 3/3.
Nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 00 phút cùng ngày.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.
Thành viên Hội đồng xét xử | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
Trần Thúy Kiên Thái Ánh Trinh | Huỳnh Thị Mộng Tuyền |
Bản án số 23/2025/HNGĐ – ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 23/2025/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Diệu Mai - sinh năm 2002. Địa chỉ cư trú: khu vực Tràng Thọ 1, phường Thốt Nốt, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ. (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt). 2. Bị đơn: Ông Phạm Hữu Lộc - sinh năm 2001. Địa chỉ cư trú: khu vực Phụng Thạnh 1, phường Thốt Nốt, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ. Bị đơn đang chấp hành biện pháp cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy thành phố Cần Thơ nay là Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Hậu Giang (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
