Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN KIẾN AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/HS-ST

Ngày 07-03-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Ngà

Các Hội Thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Trúc Hoa – Phó Bí thư Đoàn phường Ngọc Sơn, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng

Ông Phạm Anh Tuấn – Bí thư Đoàn phường Văn Đẩu, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng

- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2025/QĐXXST-HS ngày 24/02/2025 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn N, sinh ngày 23 tháng 8 năm 2008 tại Quảng Ninh (khi phạm tội 16 tuổi 12 ngày), nơi cư trú: P, phường Đ, quận D, thành phố Hải Phòng; trình độ văn hóa: 02/12; nghề nghiệp: Tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn X và bà Vũ Thị T; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 06/9/2024, đến ngày 13/9/2024 áp dụng biện pháp tạm giam; có mặt.
  2. Trần Thành Đ, sinh ngày 18 tháng 8 năm 2006 tại Hải Phòng, nơi ĐKHKTT: Đ, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện tại: Số F đường H, Đ, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Thành V và bà Trần Thị M; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 06/9/2024, đến ngày 13/9/2024 áp dụng biện pháp tạm giam; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn N: Bà Trần Thị T1, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H, có mặt (vắng mặt khi tuyên án).

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn N: Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1973, nơi cư trú: Tổ Q, phường Đ, quận D, thành phố Hải Phòng, có mặt.

Bị hại:

  1. Chị Nguyễn Minh P, sinh ngày 14/12/2007, nơi cư trú: Số B đường C, phường B, quận K, thành phố Hải Phòng; có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Minh P: Ông Nguyễn Hữu H, sinh năm 1983 và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1985, nơi cư trú: Số B đường C, phường B, quận K, thành phố Hải Phòng, đều có mặt

  1. Bà Phạm Thị N2, sinh năm 1959, nơi cư trú: Số A C, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
  2. Bà Vũ Thị L, sinh năm 1960, nơi cư trú: Số C T, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
  3. Anh Lâm Văn P1, sinh năm 1981, nơi cư trú: Tổ Đ, phường B, quận K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Chị Phạm Thị H1, sinh năm 1991, nơi cư trú: Tổ M, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
  2. Ông Trần Thành V, sinh năm 1976 và bà Trần Thị M, sinh năm 1976, cùng nơi cư trú: Số F đường H, Đ, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng, đều có mặt.
  3. Chị Nguyễn Thị Bảo N3, sinh năm 1987, nơi thường trú: Kha L, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số C H, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

Những người tham gia tố tụng khác: Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phường Đ, quận D, thành phố Hải Phòng (nơi cư trú của bị cáo Nguyễn Văn N), vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 04/9/2024, Trần Thành Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen mang Biển kiểm soát 15N1-046.32 đến nhà đón Nguyễn Văn N đi chơi. Đ điều khiển xe chở N trên các tuyến đường của thành phố Hải Phòng, mục đích cướp giật tài sản của người đi đường nếu có cơ hội. Khi cả hai di chuyển trên tuyến đường M, quận D, thành phố Hải Phòng thì Đ phát hiện thấy chị Nguyễn Minh P, sinh ngày 14/12/2007, trú tại: số B C, phường B, quận K, thành phố Hải Phòng điều khiển xe môtô mang Biển kiểm soát 15AF-078.73 theo hướng Dương K đi Ngã 5 K, tay trái vừa điều khiển xe, vừa cầm một chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone Xs màu trắng đeo ốp nhựa màu đen đang sáng màn hình. Đ thông báo cho N và điều khiển xe môtô đi theo sau P. Khi đến gần lối rẽ vào đường C, thấy P rẽ vào đường C nên N nói với Đ: “Để em lái xe cho.” Đ dừng xe cho N lên điều khiển xe, Đ ngồi sau. N điều khiển xe tăng tốc đuổi theo chị P. Khi đến đoạn đường vắng, không có ánh đèn trên đường C thuộc tổ Đ, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng, Nam điều khiển xe tăng tốc vượt lên bên trái xe của chị P. Đ dùng tay phải giật lấy chiếc điện thoại di động Iphone Xs màu trắng của chị P. N tăng ga xe bỏ chạy về hướng đường T được một đoạn quan sát không thấy P, N đi chậm lại. Một lúc sau thấy P tăng tốc đuổi theo sau hô “cướp, cướp”, N liền tăng tốc xe bỏ chạy. Khi đến khu vực trước số F C, phần bánh trước xe môtô do chị P điều khiển va chạm với đuôi ống xả xe môtô do N điều khiển khiến 02 xe môtô bị đổ trượt, chị P bị văng ra khỏi xe môtô lao văng vào phần đầu xe ôtô nhãn hiệu MAZDA CX5 màu trắng Biển kiểm soát 15A-427.81 do chị Nguyễn Thị Bảo N3, sinh năm: 1987, trú tại: C H, phường S, quận H, thành phố Hải Phòng điều khiển di chuyển đi theo hướng ngược chiều, còn xe môtô do N điều khiển bị đổ trượt va chạm với xe ôtô Biển kiểm soát 15D-012.12 của anh Nguyễn Quang K1, sinh năm: 1981, trú tại: F C, K, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng đang đỗ ở bên đường cùng chiều. Sau va chạm, N đứng dậy vứt dép bỏ chạy về phía đường T, còn Đ bị người dân giữ lại. Lo sợ bị phát hiện, Đ dùng tay phải cất giấu chiếc điện thoại vừa cướp giật được tại khe phía dưới lối lên xuống trước vỉa hè nhà số G C. Lực lượng Công an ngay sau đó đã có mặt tại hiện trường đưa Đ về trụ sở Công an phường N để làm việc. Quá trình làm việc, Trần Thành Đ đã đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi cướp giật tài sản của mình và N như nội dung trên.

Nguyễn Văn N trên đường bỏ chạy, do không biết đường nên N chạy một lúc lại vòng ra đường C, sau đó đi bộ xuống đường Nguyễn Lương B ngược về hướng ngã 5 K, lúc này là 02 giờ sáng ngày 05/9/2025 và do cần tiền tiêu xài nên N nảy sinh ý định trộm cắp tài sản.

N đi bộ vào ngõ A C, tổ K 6, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng quan sát thấy 01 chiếc xe đạp mini màu đỏ đang dựng ở sân không có ai trông coi của bà Phạm Thị N2, sinh năm 1959; trú tại số A C, tổ K, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng. N mở then cài cổng, đi vào dắt chiếc xe này ra ngoài và đạp xe đi về nhà ở phường Đ, quận D, thành phố Hải Phòng để cất giấu.

Sau đó N tiếp tục đi bộ về phía khu vực tổ Đ, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng để trộm cắp. N phát hiện có 01 chiếc xe đạp mini màu trắng bạc được dựng trước cửa nhà bà Vũ Thị L, sinh năm 1960; địa chỉ: số C ngõ A T, tổ Đ, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng không có ai trông coi. N đã trộm cắp chiếc xe đạp trên rồi đi về hướng đường N.

Khi đến một ngôi nhà đang xây ở tổ Đ, phường V, quận K, N dựng xe ở ngoài rồi đi vào trong với mục đích tìm sở hở trộm cắp, Nam quan sát thấy anh Lâm Văn P1, sinh năm: 1981, trú tại: tổ Đ, phường P, quận K, thành phố Hải Phòng đang nằm ngủ gần cầu thang tầng 1 và ở gần cạnh có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A18 màu đen. N lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi quần rồi đi ra ngoài. Đến khoảng 16 giờ ngày 05/9/2024, N đến cửa hàng điện thoại ở địa chỉ: số D Đ, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng gặp và bán chiếc điện thoại trộm cắp trên cho chị Phạm Thị H1, sinh năm 1990; trú tại tổ M, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng với giá 700.000 (bảy trăm nghìn) đồng và chi tiêu cá nhân hết. Đến khoảng 17 giờ ngày 05/9/2024, N đã đến Cơ quan Công an đầu thú về hành vi cướp giật tài sản và tự thú về hành vi trộm cắp các tài sản nêu trên.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn N tại tổ P, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K thu giữ 01 xe đạp mini màu trắng bạc, 01 xe đạp mini màu đỏ đều đã qua sử dụng. Ngoài ra Cơ quan Cảnh sát điều tra còn thu giữ 01 điện thoại Iphone Xs màu trắng kèm ốp lưng điện thoại bằng nhựa màu đen, dung lượng 64Gb (đã qua sử dụng) tại khe phía dưới lối lên xuống trước vỉa hè nhà số G C và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A18 màu đen (đã qua sử dụng) tại cửa hàng điện thoại ở địa chỉ: số D Đ, phường Đ, quận K, thành phố Hải Phòng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 22, 23 ngày 12/9/2024 và số 29, 30 ngày 30/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận K kết luận: “01 điện thoại Iphone Xs màu trắng, dung lượng 64Gb (đã qua sử dụng) đến thời điểm bị xâm hại có giá là 4.950.000 đồng và 01 ốp lưng bằng nhựa màu đen đã qua sử dụng không còn giá trị để định giả”.

“01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A18 màu đen (đã qua sử dụng) đến thời điểm bị xâm hại có giá là 2.950.000 đồng.

“01 xe đạp mini màu trắng bạc (đã qua sử dụng) đến thời điểm bị xâm hại có giá là 250.000 đồng”.

“01 xe đạp mini màu đỏ (đã qua sử dụng) đến thời điểm bị xâm hại có giá là 170.000 đồng”.

Tại Cáo trạng số 20/CT-VKSKA ngày 17/02/2025 Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Trần Thành Đ về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự, bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự và tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo N, Đ khai nhận hành vi phạm tội, nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, việc truy tố xét xử bị cáo là không oan.

Sau phần xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày quan điểm luận tội:

Căn cứ tính chất mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171, khoản 1 Điều 173, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 101, Điều 103, Điều 38 Bộ luật Hình sự, Điều 12, khoản 1 Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N: 06 – 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; 36 – 42 tháng tù về tội Cướp giật tài sản. Tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo chấp hành là 42 – 51 tháng tù.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thành Đ: 42 - 48 tháng tù.

Miễn phạt tiền đối với các bị cáo.

Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo N phải nộp lại 700.000 đồng tiền thu lợi bất chính. Người đại diện hợp pháp của bị cáo có nghĩa vụ nộp thay bị cáo số tiền này.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại gồm chị Nguyễn Minh P, anh Lâm Văn P1, bà Vũ Thị L và bà Phạm Thị N2 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu đề nghị gì, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Phan Thị H2 không có yêu cầu đề nghị gì nên không xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Trả lại cho ông Trần Thành V và bà Trần Thị M 01 xe máy Yamaha Sirius 15N1-046.32 màu đen không lắp gương chiếu hậu.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn N: Nhất trí với tội danh, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo N. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo phạm tội do nhất thời, chiếm đoạt tài sản có giá trị không lớn, tài sản chiếm đoạt đã thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu, bị cáo N phạm tội khi chưa đủ tuổi thành niên, nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế nên đề nghị áp dụng cho bị cáo mức hình phạt thấp hơn mức của Viện kiểm sát đề nghị.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ân hận về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử khoan hồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, trên cơ sở các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

  1. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận K, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo N không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Tại phiên toà, bị hại là bà Phạm Thị N2, Vũ Thị L, anh Lâm Văn P1 và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Bảo N3, Phạm Thị H1; người tham gia tố tụng khác là Bí thư Đoàn phường Đ, quận D, thành phố Hải Phòng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng trên.

Về nội dung:

  1. Về tội danh và tình tiết định khung hình phạt: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, kết luận định giá, người chứng kiến, và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 20 giờ ngày 04/9/2024, tại khu vực đường C thuộc tổ Đ, phường V, quận K, thành phố Hải Phòng, các bị cáo Nguyễn Văn N và Trần Thành Đ sử dụng xe môtô mang biển kiểm soát 15N1-046.32 có hành vi nhanh chóng cướp giật 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone Xs màu trắng của chị Nguyễn Minh P có giá trị là 4.950.000 đồng rồi tẩu thoát. Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra vào đêm ngày 04/9/2024 và rạng sáng ngày 05/9/2024 trên địa bàn quận K, bị cáo Nguyễn Văn N đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản đã lén lút chiếm đoạt các tài sản là 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A18 màu đen của anh Lâm Văn P1 và 02 xe đạp mini của bà Phạm Thị N2 và bà Vũ Thị L, các tài sản có tổng giá trị là 3.370.000 đồng. Hành vi của bị cáo N đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 Bộ luật Hình sự.

  1. Hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính chất rất nghiêm trọng đối với tội cướp giật tài sản, ít nghiêm trọng đối với tội trộm cắp tài sản, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội nên cần xét xử nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
  2. Về vai trò: Đối với tội Cướp giật tài sản: Bị cáo N và Đ có vai trò ngang nhau, cùng là người khởi xướng và thực hành tích cực, trong đó N là người điều khiển xe mô tô chở Đ áp sát xe của bị hại, còn Đ ngồi sau thực hiện hành vi cướp giật tài sản của bị hại.
  3. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  4. Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân các bị cáo không tiền án, tiền sự, sau khi phạm tội các bị cáo đã ra đầu thú, người đại diện hợp pháp của bị hại là chị P đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. Bị cáo Trần Thành Đ đã tác động đến gia đình “tự nguyện bồi thường, khắc phục thiệt hại” cho bị hại số tiền là 40 triệu đồng, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn N được hưởng tình tiết “người phạm tội tự thú” đối với hành vi trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo N khi phạm tội chưa đủ tuổi thành niên nên được xem xét áp dụng thêm Điều 101, 103 Bộ luật Hình sự, Điều 12, Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên.
  5. Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng mức hình phạt trên mức khởi điểm của khung hình phạt đối với bị cáo Đ, mức khởi điểm của khung hình phạt cả hai tội đối với bị cáo N mới đủ tính chất răn đe, phòng ngừa tội phạm.
  6. Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn phạt tiền đối với các bị cáo.
  7. Về tiền thu lợi bất chính: Bị cáo N chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại OPPO A18 màu đen của anh Lâm Văn P1 và bán cho chị Phạm Thị H1 được 700.000đ. Số tiền này N chi tiêu cá nhân hết, nên bị cáo N phải có nghĩa vụ nộp lại số tiền thu lợi bất chính này. Người đại diện hợp pháp của bị cáo N phải nộp thay bị cáo số tiền này.
  8. Về trách nhiệm dân sự:

Các bị hại gồm chị Nguyễn Minh P, anh Lâm Văn P1, bà Vũ Thị L và bà Phạm Thị N2 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu đề nghị gì, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Phạm Thị H1, chị Nguyễn Thị Bảo N3 không có yêu cầu đề nghị gì nên không xem xét, giải quyết.

Đối với yêu cầu của bị hại Nguyễn Minh P, người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị chị Nguyễn Thị Bảo N3 là chủ xe CX5 bồi thường thương tích của cháu Minh P bị tai nạn khi đuổi theo xe các bị cáo, do không thuộc phạm vi giải quyết trong vụ án này, bị hại Nguyễn Minh P, người đại diện hợp pháp của bị hại cũng không xuất trình được tài liệu, chứng từ điều trị thương tích và cũng có đề nghị là nếu có yêu cầu sẽ có đơn đề nghị giải quyết trong vụ án khác nên tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi có đơn yêu cầu.

  1. Về xử lý vật chứng:

Cơ quan công an đã thu giữ 01 xe máy Yamaha Sirius BKS 15N1-046.32 màu đen không lắp gương chiếu hậu. Xét tài sản trên là tài sản hợp pháp của ông Trần Thành V và bà Trần Thị M, khi giao xe cho bị cáo Đ, ông bà không biết bị cáo sử dụng vào việc vi phạm pháp luật nên cần trả lại cho ông V, và bà M chiếc xe trên.

  1. Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo và bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

  1. Về các nội dung khác:

Đối với chị Phạm Thị H1 đã mua 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A18 màu đen của bị cáo N nhưng không biết chiếc điện thoại này là do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K không xử lý.

Đối với tai nạn giao thông của chị Nguyễn Minh P (Kết luận giám định số 775/2024/KLTTCT-TTPYHP ngày 04/11/2024 của Trung tâm P, kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Nguyễn Minh P tại thời điểm giám định là 64%). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K không có căn cứ xử lý, các phương tiện đã trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171, khoản 1 Điều 173, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 101, Điều 103, Điều 38 Bộ luật Hình sự, Điều 12, khoản 1 Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên đối với bị cáo Nguyễn Văn N.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Thành Đ.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm các tội Cướp giật tài sản và tội Trộm cắp tài sản.

Bị cáo Trần Thành Đ phạm tội Cướp giật tài sản.

  1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N: 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội Cướp giật tài sản; 06 (sáu) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 6/9/2024.
  2. Xử phạt bị cáo Trần Thành Đ: 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 6/9/2024.

Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

  1. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả lại cho ông Trần Thành V và bà Trần Thị M 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius BKS 15N1-046.32 màu đen không lắp gương chiếu hậu, có số khung RLCS 5C 640CY724211, số máy 5C64-724236, bị vỡ ở phần yếm bên phải phía trước xe không có chìa khoá, không có giấy tờ xe, chùn càng trước xe không di chuyển được.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/03/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng).

  1. Về tiền thu lợi bất chính:

Bị cáo Nguyễn Văn N phải nộp 700.000 đồng tiền thu lợi bất chính.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn N có nghĩa vụ nộp thay bị cáo số tiền này.

  1. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn N có nghĩa vụ nộp thay cho bị cáo Nguyễn Văn N tiền án phí.

  1. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Văn N, người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn N, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Người có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - VKSND quận Kiến An;
  • - CQCSĐT Công an TP.Hải Phòng;
  • - Chi Cục THA dân sự quận Kiến An;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - Toà án nhân dân TP.Hải Phòng;
  • - PV06, PV27 Công an TP. Hải Phòng;
  • - Cơ quan THA hình sự Công an TP. Hải Phòng
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Ngọc Ngà

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

 

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Trúc Hoa

Phạm Anh Tuấn

Phạm Thị Ngọc Ngà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 07/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm về tội cướp giật tài sản và trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 23/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cướp giật tài sản và Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: có tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger