TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC Số: 25/2025/HSST Ngày: 17 - 3 - 2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Văn Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thị Thu An
Bà Trịnh Thị Bình
- Thư ký phiên toà: Bà Hồ Thị Thanh Phương - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Bồ Đức Trọng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2025/HSST ngày 10 tháng 02 năm 2025, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/HSST-QĐ ngày 26/02/2025 đối với các bị cáo:
1. BÙI CÔNG T, sinh năm 1981 tại tỉnh Bình Dương; Tên gọi khác: Nhện; Nơi cư trú: Tổ B, ấp B, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: 3/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Công C và bà: Lê Thị L; Con: Có 01 người sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/12/2024 đến ngày 23/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng bảo lĩnh đến nay.
2. BÙI VĂN T1, sinh năm 1991 tại tỉnh Bình Dương; Tên gọi khác: Không có; Nơi cư trú: Tổ B, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Văn L1 và bà: Lê Thị H; Vợ: Nguyễn Thị H1; Con: có 02 người sinh năm 2013 và 2017; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/12/2024 đến ngày 03/3/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng bảo lĩnh đến nay.
3. CHÂU VÕ, sinh năm 1988 tại tỉnh Bình Dương; Tên gọi khác: Nhỏ; Nơi cư trú: Tổ D, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Châu T và bà: Bùi Thị G; Vợ: Huỳnh Ngọc M; Con: Có 02 người sinh năm 2010 và 2015; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/12/2024 đến ngày 03/3/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng bảo lĩnh đến nay.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi Văn H2, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Tổ D, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Văn T1, Bùi Công T và Châu V có mối quan hệ gia đình, họ hàng. Do có nhu cầu mua pháo nổ để sử dụng vào dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025, T1, T, V cùng bàn bạc đến khu vực biên giới thuộc huyện L, tỉnh Bình Phước tìm mua pháo nổ, vận chuyển về sử dụng.
Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 30/11/2024, T điện thoại thuê xe của ông Bùi Văn H2, làm phương tiện di chuyển. Quá trình thuê xe, T không nói mục đích đi mua pháo cho H2 biết nên H2 đồng ý. Sau đó, T, T1 đi xe mô tô đến nhà của H2. Tại đây, H2 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 61A-135.64 chở T, T1, V đi đến địa phận huyện L, tỉnh Bình Phước. Quá trình di chuyển, T, T1, V không bàn bạc liên quan đến việc mua, vận chuyển pháo để tránh bị H2 phát hiện. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, H2 chở T, T1, V đến quán ăn “Ao Sen” xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước để ăn uống. Khoảng 20 phút sau khi ăn xong, H2 ra xe ô tô chờ, còn T, T1, V tiếp tục ăn uống. Lúc này, trong quán có một nhóm khoảng 04 - 05 nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) đang ngồi ở bàn kế bên cũng bàn bạc về việc mua, bán pháo. Nghe vậy, T nói với T1 và V để T qua chào hỏi mua pháo thì được T1 và V đồng ý. Sau đó, T đi qua hỏi mua pháo thì được một nam thanh niên trong nhóm cho biết có bán pháo và báo giá pháo hoa nổ loại 100 ống pháo là 1.000.000 đồng/bệ, pháo hoa nổ loại 49 ống pháo là 500.000 đồng/bệ, pháo hoa nổ loại 36 ống pháo là 350.000 đồng/bệ, pháo bị với số tiền 300.000 đồng/túi. T quay về bàn bạc với T1, V về việc có người bán pháo thì cả 3 người đồng ý góp tiền mua pháo. T, T1 và Võ góp được số tiền 10.500.000 đồng để mua pháo (trong đó T góp số tiền 6.000.000 đồng, Tân góp 3.000.000 đồng và Võ góp số tiền 1.500.000 đồng). T1 dự định mua 15 túi pháo bi và 03 bệ pháo loại 36 ống, Võ mua 05 túi pháo bi, còn T mua 03 bệ pháo loại 100 ống, 08 bệ pháo loại 49 ống. Sau đó, T1 và T qua gặp nam thanh niên để trao đổi về việc mua số pháo theo yêu cầu nêu trên. Khoảng 15-20 phút sau thì nam thanh niên cho T1 và T biết được pháo đã đưa tới. Sau đó, T1 cùng T đi ra phía trước quán “Ao Sen” thì thấy một nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) đi xe mô tô không rõ đặc điểm, chủng loại chở theo 01 thùng giấy bên trong chứa các bệ pháo hoa nổ và 02 bao nhựa bên trong chứa các túi pháo bi. T1 và T kiểm tra có 14 bệ pháo (03 bệ pháo loại 100 ống pháo, 03 bệ pháo loại 36 ống pháo, 08 bệ pháo loại 49 ống pháo) và 21 túi pháo bi. Sau đó, T1 và T thanh toán số tiền 10.500.000 đồng cho nam thanh niên này, giao pháo xong, người này bỏ đi. T1 mượn chìa khoá ô tô của H2 để mở cốp sau xe ô tô biển số 61A-13564 để T1, T, V đưa 14 bệ pháo hoa và 21 bịch pháo bi lên cất giấu. Cất giấu xong, T1, T, V tiếp tục vào uống bia. Đến khoảng 01 giờ ngày 01/12/2024, T, T1 và V nhờ H2 chở về lại thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Khoảng 02 giờ 47 phút ngày 01/12/2024, Phòng C1 - Công an tỉnh B phối hợp Công an thị xã C, Công an phường M tiến hành tuần tra kiểm soát lưu động trên tuyến đường QL13 thuộc địa phận khu phố H, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước thì phát hiện xe ô tô biển kiểm soát 61A-135.64 đang lưu thông hướng từ huyện H đi Thành phố Hồ Chí Minh có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành dừng phương tiện để kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trong cốp xe ô tô biển kiểm soát 61A-135.64 đang cất giấu 03 (ba) bệ pháo nổ hình hộp chữ nhật, mỗi bệ có kích thước 24cm x 24cm x 10cm, bên ngoài dán giấy có nhiều màu sắc, có in chữ số “KS4-10011”, bên trong chứa 100 ống giấy hình trụ tròn, đường kính 2,3cm, được liên kết với nhau thành giàn, bên ngoài có 01 đầu dây màu xanh; 08 (tám) bệ pháo nổ hình hộp chữ nhật, mỗi bệ có kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài dán giấy có nhiều màu sắc, có in chữ số “KS4-4911”, bên trong chứa 49 ống giấy hình trụ tròn, đường kính 2,3cm, được liên kết với nhau thành giàn, bên ngoài có 01 đầu dây màu xanh; 03 (ba) bệ pháo nổ hình hộp chữ nhật, mỗi bệ có kích thước 14cm x 14cm x 10cm, bên ngoài dán giấy có nhiều màu sắc, có in chữ số “A8412, 36 MADE IN CHINA”, bên trong chứa 36 ống giấy hình trụ tròn, đường kính 2,4cm, được liên kết với nhau thành giàn, bên ngoài có 01 đầu dây màu xanh; 21 (hai mươi mốt) túi nylon được bấm kín, bên trong có giấy in chữ nước ngoài và có hình con gà, trong mỗi túi có chứa nhiều viên pháo hình cầu tròn bằng nhựa (dạng quả bóng đá), nhiều màu, trên mỗi viên có dây dẫn màu xanh dài 2,5cm. Tất cả có nguồn gốc, xuất xứ từ nước ngoài, không có hoá đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đồng thời thu giữ tang vật, phương tiện để xử lý theo quy định.
Kết luận giám định số 1334/KL-KTHS ngày 03/12/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh B xác định: 03 (ba) bệ pháo nổ hình hộp chữ nhật, mỗi bệ có kích thước 24cm x 24cm x 10cm, bên ngoài dán giấy có nhiều màu sắc, có in chữ số “KS4-10011”, bên trong chứa 100 ống giấy hình trụ tròn, đường kính 2,3cm, được liên kết với nhau thành giàn, bên ngoài có 01 đầu dây màu xanh; 08 (tám) bệ pháo nổ hình hộp chữ nhật, mỗi bệ có kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên ngoài dán giấy có nhiều màu sắc, có in chữ số “KS4-4911”, bên trong chứa 49 ống giấy hình trụ tròn, đường kính 2,3cm, được liên kết với nhau thành giàn, bên ngoài có 01 đầu dây màu xanh; 03 (ba) bệ pháo nổ hình hộp chữ nhật, mỗi bệ có kích thước 14cm x 14cm x 10cm, bên ngoài dán giấy có nhiều màu sắc, có in chữ số “A8412, 36 MADE IN CHINA”, bên trong chứa 36 ống giấy hình trụ tròn, đường kính 2,4cm, được liên kết với nhau thành giàn, bên ngoài có 01 đầu dây màu xanh; 21 (hai mươi mốt) túi nylon được bấm kín, bên trong có giấy in chữ nước ngoài và có hình con gà, trong mỗi túi có chứa nhiều viên pháo hình cầu tròn bằng nhựa (dạng quả bóng đá), nhiều màu, trên mỗi viên có dây dẫn màu xanh dài 2,5cm là pháo nổ. Tổng khối lượng là 33,75kg.
Bản cáo trạng số 20/CT-VKS-CT, ngày 10/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố các bị cáo Bùi Công T, Bùi Văn T1 và Châu V về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử các bị cáo theo tội danh đã truy tố: Tuyên bố các bị cáo Bùi Công T, Bùi Văn T1 và Châu V về tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 50, 58 và 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt: Bị cáo Bùi Công T mức án 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; Bị cáo Bùi Văn T1 mức án 08 đến 11 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; Bị cáo Châu Võ mức án 07 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Về vật chứng: Đối với 01 chiếc xe ô tô 61A-135.64, nhãn hiệu TOYOTA, loại xe ô tô con, số loại COROLLA, màu xám, của ông Nguyễn Anh T2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 Promax, màu xanh, số imei: 356718115394824 là của ông Bùi Văn H2 đã trả lại cho chủ sở hữu.
Đối với 33,75kg pháo nổ sau khi giám định còn 21,7kg đã tiêu huỷ theo quy định.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, số imei: 864965062760110, tình trạng đã qua sử dụng, mặt kính sau bị bể, màn hình bị bể của bị cáo T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALXY A71, màu xám, số imei: 353408118516077, tình trạng đã qua sử dụng của bị cáo T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh, số imei: 861428057359136, tình trạng đã qua sử dụng, mặt kính sau bị bể, màn hình bị bể của bị cáo Châu Võ K liên quan đến vụ án nên trả lại cho các bị cáo.
Tại phiên tòa: Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố và không tranh luận chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án cũng như qua phần xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 01/12/2024, Bùi Công T, Bùi Văn T1 và Châu V cùng bàn bạc mua pháo, với khối lượng được giám định là 33,75kg của đối tượng (không rõ nhân thân, lai lịch) tại huyện L, tỉnh Bình Phước, rồi vận chuyển về tỉnh Bình Dương để sử dụng. Khi các bị cáo trên vận chuyển pháo đến địa phận phường M, thị xã C thì lực lượng công an bị bắt người phạm tội quả tang. Hành vi của Bùi Công T, Bùi Văn T1 và Châu V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” quy định tại khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Do đó có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng số 20/CT-VKS-CT, ngày 10/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố các bị cáo Bùi Công T, Bùi Văn T1 và Châu V về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, cụ thể là: Xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước đối với một số loại hàng hóa cấm kinh doanh, vận chuyển, tàng trữ và sử dụng, trong vụ án này là pháo hoa nổ, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Các bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình nên phải chịu trách nhiệm hình sự.
[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
[3.1]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
[3.2]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiệm trọng; các bị cáo là lao động chính của gia đình, bị cáo Châu Võ gia Đ có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Phân tích về vai trò, tính chất, mức độ hành vi đồng phạm của các bị cáo. Bị cáo T là người chủ mưu, trực tiếp chủ động tìm nguồn hàng, cũng là người trực tiếp trao đổi với chỗ bán hàng để bàn bạc với Bùi Văn T1 và Châu V để thống nhất chung tiền để mua hàng. Các bị cáo T, T1 và Võ góp được số tiền 10.500.000 đồng để mua pháo (trong đó T góp số tiền 6.000.000 đồng, Tân góp 3.000.000 đồng và Võ góp số tiền 1.500.000 đồng) nên bị cáo T là người giữ vai trò chính chịu trách nhiệm hình sự cao nhất, bị cáo T1 sử dụng số tiền mua pháo nhiều hơn bị cáo Võ nên chịu trách nhiệm cao hơn bị cáo V.
Xét thấy các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong thời điểm giáp Tết Nguyên đán, thời điểm mà cả nước đang tập trung phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật, trong đó mua bán, tàng trữ trái phép hàng cấm là pháo hoa nổ đã có nhiều chỉ thị của các ngành, các cấp quán triệt cần phải xử lý nghiêm. Các bị cáo trong vụ án đều nhận thức được, nhưng vì thú vui trái pháp luật nên đã phạm tội nên cần xử lý các bị cáo mức án tương xứng với hành vi của mình. Tuy nhiên xét các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên chịu mức án tương xứng với hành vi của mình, không cần cách ly các bị cáo mà cho các bị cáo được hưởng án treo là phù hợp.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4]. Về biện pháp tư pháp:
Đối với 01 chiếc xe ô tô 61A-135.64, nhãn hiệu TOYOTA, loại xe ô tô con, số loại COROLLA, màu xám, của ông Nguyễn Anh T2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 Promax, màu xanh, số imei: 356718115394824 là của ông Bùi Văn H2. Công cụ, phương tiện trên không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, Cơ quan Điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu nên HĐXX không xem xét.
Đối với 33,75kg pháo nổ, sau khi giám định còn 21,7kg Cơ quan CSĐT đã tiêu huỷ theo quy định.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, số imei: 864965062760110, tình trạng đã qua sử dụng, mặt kính sau bị bể, màn hình bị bể của bị cáo T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALXY A71, màu xám, số imei: 353408118516077, tình trạng đã qua sử dụng của bị cáo T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh, số imei: 861428057359136, tình trạng đã qua sử dụng, mặt kính sau bị bể, màn hình bị bể của bị cáo V không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả cho các bị cáo.
[5]. Các vấn đề khác trong vụ án:
Trong vụ án này còn xác định: Nhóm thanh niên bán pháo cho T, T1 và V tại huyện L, tỉnh Bình Phước, Cơ quan Điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân lai lịch nên không có căn cứ để xác minh xử lý.
Đối với Bùi Văn H2: H2 làm dịch vụ tài xế, được T1, T thuê phương tiện di chuyển lên địa bàn huyện L, tỉnh Bình Phước. Việc T1, T, Võ mua, đưa pháo cất giấu vào cốp xe ô tô 61A-135.64 thì H2 không biết, không tham gia nên không đủ cơ sở xử lý Bùi Văn H2 về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, với vai trò đồng phạm.
[7]. Án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo phải chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Bùi Công T, Bùi Văn T1 và Châu V phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; các điều 17, 38, 50, 58 và 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Bùi Công T 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (Sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Xử phạt bị cáo Bùi Văn T1 08 (Tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 04 (Bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Xử phạt bị cáo Châu V 07 (Bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 02 (Hai) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Bùi Công T cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bị cáo.
Giao bị cáo Bùi Văn T1 và Châu V cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Trả cho bị cáo Bùi Văn T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, số imei: 864965062760110, tình trạng đã qua sử dụng, mặt kính sau bị bể, màn hình bị bể; bị cáo Bùi Công T 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALXY A71, màu xám, số imei: 353408118516077, tình trạng đã qua sử dụng; bị cáo Châu V 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh, số imei: 861428057359136, tình trạng đã qua sử dụng, mặt kính sau bị bể, màn hình bị bể.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Bùi Công T, Bùi Văn T1 và Châu V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Lương Thị Thu An - Trịnh Thị Bình | Võ Văn Vân |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
Bản án số 25/2025/HSST ngày 17/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về vận chuyển hàng cấm
- Số bản án: 25/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA
