Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BỐ TRẠCH

TỈNH QUẢNG BÌNH

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 23/2025/HS-ST

Ngày: 14 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
    Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Phương

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Công Bằng và Bà Nguyễn Thùy Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhạn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Dương Ngọc Thạch - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2025/TLST-ST ngày 11 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

- Diệp Minh Q; sinh ngày 24 tháng 11 năm 1991 tại: huyện L, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn A, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Diệp Văn V và bà Lê Thị L; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; về nhân thân: Tòa án 08/01/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy xử phạt nhẹ 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số: 03/2010/HSST (đã thi hành xong); ngày 16/12/2024, bị Công an huyện L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Có ý gây thương tích”, mức phạt 5.000.000 đồng (đã thi hành). Bị cáo bị tạm giam từ ngày 17/12/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1976; nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt tại điểm cầu trung tâm.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Trần Thị Hồng L2, sinh năm 1983; nơi cư trú: tổ dân phố T, thị trấn P, huyện B, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt tại điểm cầu trung tâm.

- Người làm chứng: Ông Dương Đức V1, sinh năm 1982; nơi cư trú: tổ dân phố X, thị trấn P, huyện B, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt tại điểm cầu trung tâm.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 10/3/2020, Diệp Minh Q hỏi mượn 01 xe môtô Wave RSX biển kiểm soát 73F1 - 262.26 của bà Nguyễn Thị L1 để đi về nhà xã H hẹn tối cùng ngày quay lại trả xe. Do tin tưởng Q làm thợ xây cho nhà bà L1 nên bà L1 đồng ý giao cho Q xe môtô Wave RSX biển kiểm soát 73F1 - 262.26 và Giấy đăng ký xe; bên trong cốp xe môtô có 01 cân sức khỏe còn dán mác tên Nguyễn Thị Lệ. Sau khi nhận xe, Q điều khiển xe về nhà tại xã H, huyện L. Trên đường đi từ xã H đến xã H, Q nảy sinh ý định cầm cố xe môtô của bà L1 để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Ngày 11/3/2020, Q nhờ Dương Đức V1 để nhờ tìm quan hệ cầm đồ. V1 dẫn Q đến gặp Trần Thị Hồng L2 để cầm cố. Tại đây, Q nói với bà L2 về việc cầm cố xe môtô BKS 73F1-262.26 với giá 5.000.000 đồng, hẹn vài ngày sau quay lại chuộc xe. Do Q nói là xe của Q và có giấy tờ xe nên bà L2 đồng ý. Số tiền cầm cố xe, Q tiêu xài cá nhân hết.

Tại kết luận định giá tài sản số: 2/SKL-HĐĐGTS ngày 02/6/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B kết luận: Xe máy hiệu Honda Wave RSX màu đen trị giá 13.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã thu giữ và xử lý trả lại cho bà Nguyễn Thị L1 01 xe môtô hiệu Honda Wave RSX màu đen, BKS 73F1-262.26; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe 73F1-262.26; 01 CCCD mang tên Nguyễn Thị Lệ.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bà Trần Thị Hồng L2 yêu cầu bị cáo bồi thường 5.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường. Bà L2 không có yêu cầu thêm.

Cáo trạng số: 19/CT-VKSBT ngày 10/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình đã truy tố bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; các điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Diệp Minh Q từ 12 - 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam ngày 17/12/2024; về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: không xem xét; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về tố tụng.

Tại phiên tòa vắng mặt người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng. Tuy nhiên, sự vắng mặt của những người này không gây ảnh hưởng đến việc xét xử, cho nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về tội danh: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Diệp Minh Q khai nhận: Khoảng 10/3/2020, tại thôn T, xã H, huyện B, Diệp Minh Q mượn xe môtô hiệu Honda Wave RSX màu đen, BKS 73F1-262.26 trị giá 13.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị L1 để về nhà nhưng khi nhận được tài sản bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt nên đã cầm cố xe cho bà Trần Thị Hồng L2 để lấy 5.000.000 đồng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng; kết luận định giá tài sản cùng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Bị cáo mượn tài sản của người khác rồi chiếm đoạt và bỏ trốn, hành vi này đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, trực tiếp xâm phạm tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Do đó cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo một thời gian nhất định, nhằm có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo, đồng thời đáp ứng được công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Vào năm 2010 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy xử phạt về hành vi “Trộm cắp tài sản” và năm 2024 bị Công an huyện L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Có ý gây thương tích” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học, rút kinh nghiệm cho bản thân để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội mà lại tiếp tục phạm tội.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường thiệt hại đầy đủ cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần về hình phạt.

Đối với Trần Thị Hồng L2 là người nhận cầm cố chiếc xe môtô do bị cáo phạm tội mà cô không biết tài sản đó do phạm tội mà có nên không xử lý. L2 nhận cầm cố chiếc xe môtô nói trên. L2 không có giấy phép kinh doanh cầm đồ và hợp đồng nên hành vi của L2 đã vi phạm điểm đ khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 11 Nghị định số: 167/2013/NĐ-CP, tuy nhiên từ thời điểm hành vi vi phạm hành chính kết thúc đến nay đã qua 01 năm nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính thì đã hết thời hiệu xử phạt nên không xử lý hành vi vi phạm này đối với L2.

Đối với Dương Đức V1 là người đưa bị cáo Q đến gặp L2 để cầm cố chiếc xe, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận chỉ nhờ V1 tìm nơi để cầm cố chiếc xe, không cho V1 biết về nguồn gốc chiếc xe, V1 không hưởng lợi từ việc bị cáo cầm cố tài sản nên không xử lý.

[4] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Quá trình điều tra việc bồi thường về dân sự đã được giải quyết xong, cho đến tại thời điểm xét xử sơ thẩm không ai có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ và trả lại các tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Buộc bị cáo Diệp Minh Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Diệp Minh Q phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Diệp Minh Q 12 (mười hai) tháng tù.
    Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam (ngày 17/12/2024).
    Tiếp tục tạm giam bị cáo Diệp Minh Q với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 14/3/2025) theo Quyết định của Hội đồng xét xử.
  3. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại và xử lý vật chứng: Không xem xét.
  4. Về án phí: Buộc bị cáo Diệp Minh Q phải nộp 200.000 tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 14/3/2025). Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND tỉnh Quảng Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND huyện Bố Trạch;
  • - Phòng PV06 Công an tỉnh Q;
  • - Chi cục THADS huyện B;
  • - Bị cáo; Người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lan P

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH về hình sự (lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 23/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger