|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHONG ĐIỂN THÀNH PHỐ HUẾ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 13/3/2025
“V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Anh Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm.
- Bà Đoàn Thị Lành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Quỳnh Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phong Điền, thành phố Huế tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Phong Điền, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 106/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2024, về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị M, sinh năm 1998. Địa chỉ: Tổ dân phố V, phường P, thị xã P, thành phố H. Địa chỉ liên lạc: Thôn P, xã P, thị xã P, thành phố H. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Trần Văn G, sinh năm 1998. Địa chỉ: Tổ dân phố V, phường P, thị xã P, thành phố H. Vắng mặt lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn ngày 01/8/2024, đơn khởi kiện bổ sung ngày 01/10/2024 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Hồ Thị M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị M và anh Trần Văn G tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế ngày 16/9/2020 (nay là phường P, thị xã P, thành phố H). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cải vã, xúc phạm nhau, anh G không chăm lo cuộc sống gia đình, đánh đập chị G. Gia đình hai bên đã hoà giải nhưng vợ chồng không khắc phục được mâu thuẫn. Từ tháng 7/2024 đến nay vợ chồng sống ly thân, không quan tâm chăm sóc cho nhau. Nay chị M xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không khắc phục được, tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh G.
Về con chung: Chị Hồ Thị M trình bày vợ chồng có 01 con chung là cháu Trần Hồ Trâm A, sinh ngày 09/7/2021. Chị M yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung cho đến khi đủ 18 tuổi; không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kèm theo đơn khởi kiện, nguyên đơn đã nộp tài liệu, chứng cứ gồm: Bản sao trích lục kết hôn; bản sao trích lục khai sinh cháu Trần Hồ Trâm A; bản sao căn cước công dân mang tên Hồ Thị M; bản photo căn cước công dân mang tên Trần Văn G, xác nhận thông tin về cư trú.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Trần Văn G nhưng quá thời hạn luật định, anh G không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vắng mặt tại các phiên họp, phiên hòa giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được.
Kết quả xác minh: Anh Trần Văn G có đăng ký thường trú tại địa phương, chị Hồ Thị M và anh Trần Văn G đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế ngày 16/9/2020. Gia đình anh G cho biết vợ chồng anh G xảy ra mâu thuẫn do tính tình không hợp, thường xuyên xảy ra cãi vã, xúc phạm, đánh đập nhau; gia đình đã hoà giải nhưng vợ chồng không khắc phục được mâu thuẫn nên hai người đã sống ly thân. Hiện anh G sống cùng với bố mẹ tại phường P; chị M về sống với bố mẹ ruột ở xã P, thị xã P. Anh G đã nhận được các văn bản tố tụng do Toà án tống đạt nhưng do bận công việc không đến Toà án được, đề nghị Toà án giải quyết vụ án vắng mặt anh G theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa ngày 05/3/2025, bị đơn anh Trần Văn G vắng mặt lần thứ nhất nên Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa đồng thời tống đạt quyết định hoãn phiên toà, giấy triệu tập cho bị đơn. Tại phiên toà lần thứ hai, anh G tiếp tục vắng mặt.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng, nhiều lần vắng mặt tại phiên hòa giải, phiên tòa.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí xử buộc nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên toà, nhận định:
- Về tố tụng:
- Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn bị đơn là anh Trần Văn G, có địa chỉ cư trú tại: Tổ dân phố V, phường P, thị xã P, thành phố H. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thị xã Phong Điền.
- Về thủ tục tố tụng: Theo quy định tại Điều 175, Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự, việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn là hợp lệ. Tại phiên tòa lần thứ nhất ngày 05/3/2025, bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa, tống đạt quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập cho bị đơn. Tại phiên tòa lần thứ hai, bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
- Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị M và anh Trần Văn G kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế ngày 16/9/2020, do đó quan hệ hôn nhân giữa hai người là hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, không thương yêu quý trọng nhau, anh G không chăm lo cuộc sống gia đình nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cải vã, xúc phạm, đánh đập nhau. Gia đình đã hoà giải nhưng vợ chồng không khắc phục được mâu thuẫn. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 7/2024 đến nay không quan tâm, chăm sóc cho nhau. Toà án đã nhiều lần thông báo về phiên hoà giải nhưng anh G đều vắng mặt nên không tiến hành hoà giải được. Gia đình anh G cho biết anh G đã nhận được các văn bản tố tụng của Toà án nhưng do bận công việc làm ăn không đến Toà án, đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị M, anh G đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị M.
- Về việc nuôi con chung:
Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung thấy rằng: Cháu Trần Hồ Trâm A, sinh ngày 09/7/2021 hiện đang ở với chị M. Quá trình giải quyết vụ án anh G không có ý kiến gì về việc nuôi con chung. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của chị M về việc nuôi con sau khi ly hôn, giao cháu Trần Hồ Trâm A cho chị G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị M không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hồ Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Hồ Thị M. Chị Hồ Thị M được ly hôn anh Trần Văn G.
- Về việc nuôi con chung: Giao cháu Trần Hồ Trâm A, sinh ngày 09/7/2021 cho chị Hồ Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.
Anh Trần Văn G không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Trần Văn G có quyền thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hồ Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000938 ngày 02/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phong Điền. Chị M đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Anh Nga |
Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHONG ĐIỂN, THÀNH PHỐ HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 23/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHONG ĐIỂN, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn chị Hồ Thị M yêu cầu ly hôn anh Trần Văn G
