Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/HS-ST

Ngày: 13-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Phong Lan

Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trương Vĩnh Kỳ
  2. Đào Văn Sáng
  3. Phạm Văn Trịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà Trang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 70/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/HS-QĐ ngày 24 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Lê Đức A

Lê Đức A, sinh ngày 25 tháng 12 năm 2000 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: A7-6/16 Trung tâm đô thị C1, khu phố F, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đức T, sinh năm 1968 và bà Đinh Thị Thu H, sinh năm 1973, hộ khẩu thường trú: A7-6/16 Trung tâm đô thị C1, khu phố F, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; có vợ Nguyễn Thị Ngọc N, sinh năm 2001 và có 01 con sinh năm 2022; hộ khẩu thường trú: A7-6/16 Trung tâm đô thị C, khu phố F, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; tiền án, tiền sự: không.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C, Công an Thành phố H để điều tra về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H thụ lý. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa theo chỉ định cho bị cáo:

Luật sư Trương Văn H1 – Văn phòng L2, Đoàn Luật sư tỉnh B; địa chỉ: E N, khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.

* Bị hại:

Ông Nguyễn Anh T1, sinh năm 1973. Địa chỉ: Ấp B, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lê Đức T, sinh năm 1968. Có mặt.
  2. Bà Đinh Thị Thu H, sinh năm 1973. Có mặt.

Cùng địa chỉ: A7-6/16 Trung tâm đô thị C, khu phố F, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

  1. Ông Trần Minh K, sinh năm 1983. Địa chỉ: Khu phố H, phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Có mặt.
  2. Ông Lê Hoàng L, sinh năm 2000. Địa chỉ: Số nhà D đường B, tổ H, khu phố E, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Vắng mặt.
  3. Ông Hoàng Thanh L1, sinh năm 1985. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Có mặt.
  4. Ông Tạ Văn Đ, sinh năm 1983. Địa chỉ: Thôn C, xã S, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Đức A (sinh năm 2000, cư trú tại số A Trung tâm đô thị C, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) có hỏi vay số tiền 300.000.000 đồng của ông Trần Minh K (sinh năm 1983, cư trú tại khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu). Do ông K không có tiền nên đã nhờ anh rể của mình là ông Nguyễn Anh T1 (sinh năm 1983, cư trú tại ấp B, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) cho Lê Đức A vay số tiền nêu trên. Sau đó K, T1 và A gặp nhau tại nơi cư trú của A để làm hợp đồng vay tiền. Do Lê Đức A không có tài sản nên đã đề nghị ông Lê Đức T, sinh năm 1968 và bà Đinh Thị Thu H, sinh năm 1973 (cha mẹ ruột của Lê Đức A) cùng cư trú tại số A Trung tâm đô thị C, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu sử dụng tài sản là chiếc xe ô tô biển số 72A-528.25, nhãn hiệu VINFAST do ông T là chủ sở hữu để cầm cố vay số tiền 300.000.000 đồng cho Anh, thì ông T và bà H đồng ý. Ngày 18/7/2022 ông T1 và vợ chồng ông T, bà H làm “Giấy cho mượn tiền”, theo đó số tiền cho vay là 300.000.000 đồng, thời hạn vay là 03 tháng, xe được bàn giao cho bên cho vay và sẽ được trả lại khi bên vay thanh toán đủ toàn bộ số tiền vay. Quá trình làm hợp đồng vay và nhận tiền vay đều có mặt Lê Đức A chứng kiến. Tiếp đó ông T1 nhận xe ô tô nêu trên từ ông Lê Đức T. Sau khi nhận xe thì ông T1 giao cho ông K quản lý, sử dụng.

Đến cuối tháng 01/2023, Lê Đức A gặp Lê Hoàng L (sinh năm 2000, cư trú tại D B, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), là bạn chơi chung ngoài xã hội. Lê Đức A nghe L nói chuẩn bị đi N để làm ăn nên A đề nghị đi cùng với L ra N thì được L đồng ý. Lúc này, sẵn đang nợ nần và không có khả năng chi trả khoản tiền vay cho ông T1, nên Lê Đức A nảy sinh ý định trộm cắp xe ô tô mà ông T, bà H đã cầm cố cho ông T1 để có phương tiện đi lại. Lê Đức A không nói ý định trộm xe ô tô cho L biết mà chỉ nói với L là Anh có chiếc xe ô tô đang cho mượn và nhờ L chở A đi lấy lại xe thì L đồng ý và thống nhất là chiều ngày 01/02/2023 sẽ khởi hành đi lấy xe ô tô nêu trên.

Chiều ngày 01/02/2023, ông Hoàng Thanh L1 (sinh năm 1985, cư trú tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), là bạn của ông Trần Minh K hỏi mượn xe ô tô để đi chơi thì được K cho mượn xe ô tô mang biển số 72A-528.25. Ngay khi nhận xe ô tô, ông Hoàng Thanh L1 điều khiển xe ô tô chở theo bạn gái là chị Nguyễn Phúc Linh C (sinh năm 1996, cư trú tại thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) đến chơi tại nhà ông Tạ Văn Đ (sinh năm 1983, cư trú tại thôn C, xã S, huyện H, tỉnh Bình Thuận) và đậu xe ô tô tại trước sân nhà ông Đ. Lúc này, tại nhà ông Đ có ông Đ và vợ là bà Nguyễn Thị Phúc H2 (sinh năm 1994, trú tại thôn C, xã S, huyện H, tỉnh Bình Thuận).

Khoảng 18 giờ ngày 01/02/2023, như đã hứa hẹn trước đó, Lê Hoàng L điều khiển xe mô tô màu đen hiệu Airblade (không rõ biển số) chở Lê Đức A đi lấy xe ô tô. Qua phần mềm định vị, Lê Đức A biết được vị trí xe ô tô mang biển số 72A-528.25 đang đỗ tại nhà ông Tạ Văn Đ thuộc thôn C, xã S, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Khi đến nhà ông Tạ Văn Đ, Đức A yêu cầu L chở vào một quán cà phê (không rõ tên, địa chỉ) và nói dối là để Đức A gọi điện thoại cho người mượn xe ô tô, nhưng khi vào quán thì Đức A không gọi ai cả. Ngồi một lúc, thì chiếc điện thoại hiệu Iphone 13 Pro Max của L có cuộc gọi đến, nhưng L không nghe máy mà đưa cho A nghe máy giùm còn L thì đi vào nhà vệ sinh. Sau khi nghe điện thoại, Anh giữ chiếc điện thoại hiệu Iphone 13 Pro Max của L và nhờ L chở tới vị trí nhà ông Tạ Văn Đ. Đến khoảng 23 giờ 30 phút, L chở Anh tới gần nhà ông Tạ Văn Đ thì A xuống xe và bảo L điều khiển xe mô tô ra thành phố P trước (trước đó A và L đã bàn bạc với nhau là Anh sẽ vào lấy xe ô tô, còn L sẽ đi xe máy ra P trước, sau đó sẽ gặp nhau tại P). Sau khi L đi thì Lê Đức A lợi dụng việc không có người trông giữ xe ô tô nên Anh lén lút tiếp cận xe ô tô và sử dụng chìa khóa dự phòng đã chuẩn bị từ trước mở cửa xe, khởi động xe và điều khiển xe ra khỏi sân nhà ông Đ đi về hướng thị xã L. Khi điều khiển xe thì Đức A để chiếc điện thoại hiệu Iphone 13 Pro Max của L trong khay đựng đồ của xe. Khi A điều khiển xe đi đến đoạn đường ĐT719 thuộc thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận thì xảy ra tại nạn giao thông với xe ô tô biển kiểm soát 51B - 294.57 và xe ô tô biển kiểm soát 51B - 152.29 nên Lê Đức A đã bỏ trốn khỏi hiện trường, không kịp lấy chiếc điện thoại của L đang để trên xe ô tô. Sau đó, Lê Đức A đến P gặp L rồi cả hai đi chơi ở thành phố N và thành phố Q khoảng 01 tháng. Tiếp đó, cả hai cùng vào thành phố Hồ Chí Minh để làm việc, tại đây cả hai nảy sinh mâu thuẫn nên không còn liên lạc với nhau.

Đến ngày 26/04/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành làm việc với Lê Đức A, quá trình làm việc, Lê Đức A đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp xe ô tô biển số 72A-528.25 do bản thân thực hiện như đã nêu trên.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐGTS ngày 23/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện H, kết luận: xe ô tô biển số 72A-528.25, nhãn hiệu VINFAST tại thời điểm ngày 01/02/2023 trị giá là: 1.026.843.750 đồng (Bút lục số 37).

- Vật chứng thu giữ:

  • 01 ô tô biển số 72A-528.25, nhãn hiệu VINFAST, số loại LUX, màu sơn trắng, số máy 211860051VF20SED, số khung RPXAB1RSFMV007143 (xe ô tô đã bị hư hỏng do tai nạn).
  • 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro max có màu trắng, gắn ốp lưng màu xám, có in hình hoa văn (điện thoại đã qua sử dụng);
  • 01 ví da màu đen, hình chữ nhật kích thước (20x30)cm (đã qua sử dụng);
  • 01 giấy chứng nhận kiểm định phương tiện của xe ô tô mang biển số 72A-528.25;
  • 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô mang tên Lê Đức T, sinh năm 1968, cư trú tại A khu T, khu phố F, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Về xử lý vật chứng, đồ vật thu giữ:

Ngày 11/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra Quyết định xử lý vật chứng số 1257, bằng hình thức trả lại cho ông Lê Đức T những tài sản, đồ vật gồm:

  • 01 xe ô tô biển số 72A-528.25, nhãn hiệu VINFAST, số loại LUX, màu sơn trắng, số máy: 211860051VF20SED, số khung: RPXAB1RSFMV007143;
  • 01 giấy chứng nhận kiểm định phương tiện của xe ô tô mang biển số 72A-528.25;
  • 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô tên Lê Đức T;
  • 01 ví da màu đen, hình chữ nhật kích thước (20x30)cm (đã qua sử dụng);

Ngày 11/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 1258, bằng hình thức trả lại cho Lê Hoàng L: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max màu trắng, gắn ốp lưng màu xám, có in hình hoa văn.

* Về dân sự: Gia đình Lê Đức A đã trả lại số tiền 300.000.000 đồng cho ông Nguyễn Anh T1. Bị hại Hoàng Thanh L1 không yêu cầu gì về dân sự, đồng thời anh Hoàng Thanh L1, Trần Minh K, Nguyễn Anh T1 và Lê Đức T làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Lê Đức A.

* Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng số 49/CT-VKSBT-P1 ngày 30 tháng 11 năm 2024, đề nghị truy tố bị cáo Lê Đức A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 4 Điều 173 Bộ luật hình sự và xác định bị hại trong vụ án là ông Nguyễn Anh T1;

Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố:

Bị cáo Lê Đức A phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Lê Đức A từ 07 năm tù đến 08 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi chấp hành án.

Về dân sự: Bị hại và những người liên quan không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng đã xử lý xong nên không xem xét.

* Tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo, bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa, xét thấy Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật. Xét thấy, bị cáo phạm tội là nhất thời do đang nợ và không có khả năng trả tiền vay cho ông T1, nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của chính cha mẹ mình (đang cầm cố cho ông T1) để có phương tiện đi lại. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và cho bị cáo mức thấp nhất mà Kiểm sát viên đề nghị để bị cáo có cơ hội làm lại từ đầu vì tuổi đời còn rất trẻ, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố và tỏ ra rất ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố theo hồ sơ đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Tại phiên tòa, bị hại ông Nguyễn Anh T1 vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt. Xét thấy, ông T1 đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ và việc vắng mặt của ông không trở ngại cho việc xét xử, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T1 theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng dân sự như ý kiến đề nghị của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và của Kiểm sát viên.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và được xem xét tại phiên tòa nên có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lê Đức A biết rõ xe ô tô biển số 72A-528.25 của ông Lê Đức T và bà Đinh Thị Thu H (là cha mẹ ruột của A) đang được cầm cố cho ông Nguyễn Anh T1 để đảm bảo khoản vay 300.000.000 đồng nhưng bị cáo vẫn nảy sinh ý định trộm cắp xe ô tô nêu trên để làm phương tiện đi lại. Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 01/02/2023, tại khu vực sân nhà ông Tạ Văn Đ thuộc thôn C, xã S, huyện H, tỉnh Bình Thuận bị cáo Lê Đức A đã lén lút chiếm đoạt xe ô tô biển số 72A-528.25 có giá trị 1.026.843.750 đồng.

[4] Xét thấy, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền chiếm hữu hợp pháp tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số 49/CT-VKSBT-P1 ngày 30 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[5] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy, bị cáo biết rõ xe ô tô của cha mẹ bị cáo đang được cầm cố cho ông Nguyễn Anh T1 để đảm bảo khoản vay 300.000.000, nhưng vì đang nợ và không có khả năng trả khoản tiền vay cho ông T1 nên bị cáo đã nảy sinh ý định trộm cắp chính chiếc xe ô tô của cha mẹ mình đang cầm cố cho ông T1 để làm phương tiện đi lại. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải xử lý nghiêm.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có nhân thân tốt thể hiện bị cáo không có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu; bị cáo đã tác động gia đình trả cho ông Nguyễn Anh T1 số tiền 30.000.000 đồng tiền thuê người đi tìm xe ô tô bị mất trộm. Đồng thời, được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[8] Trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội về hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt đối với bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự như Kiểm sát viên đề nghị là đủ để răn đe, giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống và phòng ngừa tội phạm chung, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của nhà nước, tạo cơ hội cho bị cáo sửa sai, trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[9] Đối với ông Lê Hoàng L (là bạn bị cáo) do không biết, không tham gia giúp sức cho bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B không xem xét trách nhiệm hình sự đối với ông L là phù hợp.

[10] Đối với vụ tai nạn giao thông xảy ra vào rạng sáng ngày 02/02/2023 tại đường ĐT719 thuộc thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận do bị cáo Lê Đức A điều khiển xe ô tô nêu trên gây ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã L đang thụ lý điều tra làm rõ.

[11] Về xử lý vật chứng:

- Ngày 11/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra Quyết định xử lý vật chứng số 1257 trả lại cho ông Lê Đức T những tài sản, đồ vật gồm: 01 xe ô tô biển số 72A-528.25, nhãn hiệu VINFAST, số loại LUX, màu sơn trắng, số máy: 211860051VF20SED, số khung: RPXAB1RSFMV007143; 01 giấy chứng nhận kiểm định phương tiện của xe ô tô mang biển số 72A-528.25; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe ô tô tên Lê Đức T; 01 ví da màu đen, hình chữ nhật kích thước (20x30)cm (đã qua sử dụng) là đúng quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.

- Ngày 11/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số A, trả lại cho ông Lê Hoàng L: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max màu trắng, gắn ốp lưng màu xám, có in hình hoa văn là đúng quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.

[12] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo và gia đình bị cáo khai đã trả số tiền vay 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) và 30.000.000 đồng (tiền thuê người tìm xe mất trộm) cho ông Nguyễn Anh T1. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại đơn xin vắng mặt bị hại khai đã nhận số tiền 300.000.000 đồng và 30.000.000 đồng của gia đình bị cáo nên không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[13] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Điểm a khoản 4 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1 Điều 38 và khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Lê Đức A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  3. Xử phạt: Bị cáo Lê Đức A 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi chấp hành án.
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Lê Đức A phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (13/3/2025).

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại, NLQ;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Người bào chữa;
  • - VKSND cấp cao tại TP. HCM;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • - PV06, PC01, Trại 1 (Công an tỉnh B.Thuận);
  • - Lưu: Hồ sơ, Tổ HCTP, Tòa hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Phạm Phong Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 23/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Đức A phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger