Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN LÂM

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/HS-ST

Ngày 13 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Vân Anh

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Đức Mạnh

Bà Nguyễn Thị Ngà

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Quân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Quàng Văn T, sinh năm 2002

Nơi sinh và nơi cứ trú: Bản Bó Q, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa 6/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Quàng Văn N và bà Quàng Thị K; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có.

T bị tạm giữ từ ngày 18/12/2024, đến ngày 21/12/2024 chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V.

Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Quàng Thị K, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Bản B, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La.

Có mặt.

Người làm chứng:

Anh Cà Văn N1, sinh năm 2001.

Địa chỉ: Bản B, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La.

Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1986.

Ông Nguyễn Văn K1, sinh năm 1965.

Đều có địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Quàng Văn T, sinh năm 2002, ở bản B, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La (hiện đang thuê trọ tại thôn Y, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên) là đối tượng nghiện ma túy, loại Heroine và M.

Do nhu cầu sử dụng chất ma tuý nên ngày 17/12/2024, T điều khiển xe môtô, BKS 26K1-288.33 đi tìm mua ma tuý tại khu vực rìa đường thuộc huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Lúc này T gặp một người đàn ông không rõ, tên, tuổi địa chỉ đang đứng ở rìa đường H. T hỏi mua 200.000 đồng ma tuý, người này đồng ý và đưa cho T 01 gói nilon có viền bấm màu xanh, bên trong có 01 gói giấy bạc chứa chất màu trắng dạng cục, bột và 01 cục màu hồng. T cất gói ma tuý vào ví giả da màu đen, đút vào túi quần rồi điều khiển xe đi về phòng trọ tại thôn Y, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Sáng ngày 18/12/2024, T mang theo gói nilon chứa ma tuý đã mua trước đó để bên trong ví giả da màu đen, cất vào túi quần bên trái rồi điều khiển xe mô tô cùng với Cà Văn N1, sinh năm 2001 HKTT bản Bó Quỳnh, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La đi chơi. Khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, khi T điều khiển xe đi qua địa phận thôn C, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện V phối hợp với Công an xã M kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ: 01 ví giả da màu đen bên trong chứa 01 gói nilon màu trắng có viền bấm màu xanh có kích thước (3x3)cm, bên trong túi nilon có 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong gói giấy bạc có chứa chất màu trắng dạng cục, bột và 01 chất màu hồng dạng cục, bột (được niêm phong ghi ký hiệu M1); 01 xe máy nhãn hiện YAMAHA Exciter, màu đen, BKS: 26K1-288.33, số máy: G3M5E250100, số khung: RLCUG1210PY115289; 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu nâu có số Seri F2LDWHXW0D3Y, lắp sim số 0397.533.202.

Ngày 18/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Quàng Văn T ở thôn Y, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên, kết quả khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan.

Kết quả test ma túy đối với Quàng Văn T dương tính với ma túy loại Heroin và M.

Tại thông báo giám định sự số 758 ngày 18/12/2024 và Kết luận giám định số 758 ngày 21/12/2024, kết luận: Chất dạng cục màu hồng được ký hiệu

M1-1 trong niêm phong ký hiệu M1 có khối lượng là 0,019g là ma túy, loại Methamphetamine. Chất màu trắng dạng cục và nột được ký hiệu M1-2 trong niêm phong ký hiệu M1, có khối lượng là 0,194g là ma túy, loại Heroine. H lại mẫu vật trong niêm phong ghi số 758/KL-KTHS (MT), bên trong có: 0,015 ma tuý, M và 0,186g ma tuý, loại Heroine trong niêm phong ký hiệu M1, 01 mảnh giấy gói ma tuý; 01 túi bilon màu trắng và 01 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định.

Đối với 01 xe máy nhãn hiện YAMAHA Exciter, màu đen, BKS: 26K1-288.33 qua điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Quàng Thị K – 1983 ở ở bản B, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La (mẹ đẻ T). Chị K không biết việc T sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma tuý; 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu nâu của T, không liên quan gì đến việc phạm tội. Còn 01 ví giả da màu đen, T sử dụng để dựng ma tuý. Cơ quan CSĐT – Công an huyện V đã nhập kho vật chứng bảo quản để chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với vật chứng của vụ án là 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật gửi giám định số 758/KL-KTHS (MT) của Phòng K2 Công an tỉnh H, Cơ quan CSĐT – Công an huyện V đã nhập kho vật chứng bảo quản để chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với người nam giới không rõ tên tuổi, địa chỉ T khai đã bán ma túy cho T ngày 17/12/024 tại khu vực huyện Y, tỉnh Bắc Ninh Cơ quan CSĐT – Công an huyện V đã có công văn đến Cơ quan CSĐT – Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh để giải quyết theo thẩm quyền.

Đối với Cà Văn N1 đi cùng T ngày 18/12/2024 nhưng không biết T mua và tàng trữ trái phép chất ma tuý nên không có căn cứ xử lý đối với N1.

Quàng Văn T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, T khai số ma túy bị thu giữ trên mục đích để sử dụng.

Bản cáo trạng số 16/CT-VKS, ngày 23/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo thành khẩn khai báo như nội dung cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo xử cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà K trình bày, bà có quan hệ là mẹ bị cáo T, việc T sử dụng xe máy của bà đi mua ma túy bà không biết. Bà đề nghị Hội đồng xét xử cho bà xin lại xe, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Quàng Văn T từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Các biện pháp tư pháp: Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 1 và khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định số 758/KL-KTHS (MT) của Phòng K2 - Công an tỉnh H và 01 ví giả da màu đen.

Trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu nâu có số Seri F2LDWHXW0D3Y, lắp sim số 0397533202 không liên quan đến việc phạm tội.

Trả lại 01 xe máy nhãn hiện YAMAHA Exciter, màu đen, BKS: 26K1-288.33, số máy: G3M5E250100, số khung: RLCUG1210PY115289 là tài sản hợp pháp của bà K. Bà K không biết việc T sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma tuý, nên sẽ trả lại bà Quàng Thị K.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hành sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng tại phiên tòa: Bị cáo và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm đều đề nghị tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sự vắng mặt của người làm chứng tại phiên tòa hôm nay không ảnh hưởng đến việc xét xử khách quan đối với bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo có trong hồ sơ, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang và lời khai người làm chứng, với các chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 18/12/2024 tại thôn C, xã M, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Quàng Văn T đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép trên người 0,194gam ma túy loại Heroin và 0,019gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Theo quy định tại Điều 4 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015, khối lượng hai chất ma túy của Quàng Văn T tàng trữ cùng thuộc điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, nên tổng khối lượng chất ma túy T phải chịu trách nhiệm hình sự là: 0,194 gam + 0,019 gam = 0,213 gam, thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn là có căn cứ pháp luật.

[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, trong tình hình tệ nạn ma túy đang gây nhức nhối trật tự, an toàn xã hội, gây bất bình trong cộng đồng dân cư. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Ý thức được điều đó nhưng để thỏa mãn nhu cầu nghiện hút của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải có mức hình phạt tương xứng, tiếp tục bắt bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian thì mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo và phòng ngừa các hành vi tương tự xảy ra.

[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo:

  • - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng. Do vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[3] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, ...” do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên bị cáo là người nghiện ma túy không có công việc, thu nhập ổn định. Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Các biện pháp tư pháp: Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định số 758/KL-KTHS (MT) của Phòng K2, Công an tỉnh H và 01 ví giả da màu đen.
  • Đối với 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu nâu có số Seri F2LDWHXW0D3Y, lắp sim số 0397533202 không liên quan đến việc phạm tội, nên sẽ trả lại cho bị cáo Quàng Văn T.
  • Đối với 01 xe máy nhãn hiện YAMAHA Exciter, màu đen, BKS: 26K1-288.33, số máy: G3M5E250100, số khung: RLCUG1210PY115289 là tài sản hợp pháp của bà Quàng Thị K (mẹ đẻ T). Bà K không biết việc T sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma tuý, nên sẽ trả lại cho bà Quàng Thị K.
  • Đối với Cà Văn N1 đi cùng T ngày 17/12/2024 và ngày 18/12/2024 nhưng không biết T mua và tàng trữ trái phép chất ma túy, nên không có căn cứ xử lý đối với N1, Hội đồng xét xử không xem xét.
  • Đối với đối tượng bán ma túy cho T ngày 17/12/2024 tại khu vực huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, T khai không biết tên tuổi, địa chỉ, cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện V có công văn gửi đến cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Y, tỉnh Bắc Ninh để giải quyết theo thẩm quyền, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm i Khoản 1 Điều 249; Điều 38; Khoản 1 Điều 46; Khoản 1 và khoản 2 Điều 47; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Xử phạt: Bị cáo Quàng Văn T 01 ( một ) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2024.

Các biện pháp tư pháp: Về xử lý vật chứng:

Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu vật giám định số 758/KL-KTHS (MT) của Phòng K2, Công an tỉnh H và 01 ví giả da màu đen.

Trả lại cho bị cáo Quàng Văn T 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu nâu có số Seri F2LDWHXW0D3Y, lắp sim số 0397533202 không liên quan đến việc phạm tội.

Trả lại cho bà Quàng Thị K 01 xe máy nhãn hiện YAMAHA Exciter, màu đen, BKS: 26K1-288.33 , số máy: G3M5E250100, số khung: RLCUG1210PY115289.

(Vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện V và Chi cục thi hành án dân sự huyện Văn Lâm)

Về án phí: Buộc bị cáo Quàng Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh (Phòng KTNV và THA);
  • - VKS huyện Văn Lâm;
  • - Công an huyện Văn Lâm;
  • - Chi cục THADS huyện Văn Lâm;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Vân Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 13/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 23/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Quàng Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger