Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM YÊN

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

————————————

Bản án số: 23/2025/HS-ST.

Ngày 11/03/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG.

-Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lý Đức Quỳnh;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tống Xuân Quyết;

2. Ông Hoàng Văn Bốn;

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Ma Thị Thu Hoài - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên tham gia phiên toà: Ông Nhữ Hồng Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang mở phiên toà sơ thẩm xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2025/TLST-HS, ngày 26 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Việt A; Sinh ngày 29/8/1976; Giới tính: Nam;

Nơi cư trú: Tổ A, phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang;

Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Viên chức Trung tâm dịch vụ nông nghiệp huyện H; chức vụ: Không; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng (Quyết định số: 125-QĐ/UBKTHU ngày 28/02/2025 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy H1 quyết định Đình chỉ sinh hoạt đảng đối với đồng chí Vũ Việt A, Đảng viên, Chi bộ Trung tâm dịch vụ nông nghiệp huyện, Đảng bộ Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện H1); trình độ học vấn: 12/12; con ông Vũ Mạnh T, sinh năm 1946 và bà Triệu Thị Minh N, sinh năm 1951; anh chị, em ruột: Có 03 người, bị cáo là thứ hai; vợ Tạ Thị Thúy H, sinh năm 1982; con: Có 01 con, sinh năm 2014;

Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23/01/2025 đến ngày 26/01/2025, hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đặng Văn T1, sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 23/02/2024, Vũ Việt A, sinh năm 1976, trú tại tổ A phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang là viên chức Trung tâm dịch vụ nông nghiệp huyện H được phân công nhiệm vụ kiểm dịch vận chuyển động vật ra vào địa bàn qua Trạm kiểm dịch động vật Y, thuộc Km68, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang theo Quyết định số 05a/QĐ-TTDVNN, ngày 23/02/2024 của Giám đốc Trung tâm dịch vụ nông nghiệp huyện H. Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 40 Luật Thú y, nhiệm vụ của Vũ Việt A là “Xác nhận đã kiểm tra động vật, sản phẩm động vật nếu đạt yêu cầu; trường hợp không đạt yêu cầu thì tạm đình chỉ việc vận chuyển động vật, sản phẩm động vật và xử lý theo quy định của pháp luật”.

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 21/01/2025, Đặng Văn T1, sinh năm 1987, trú tại tổ dân phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang đến khu vực Chợ thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang để tìm mua trâu về thịt bán, tuy nhiên trâu ở đây đều không có giấy chứng nhận kiểm dịch và nghe nói chỉ cần đến đưa tiền cho Vũ Việt A thì sẽ không cần kiểm tra giấy chứng nhận kiểm dịch động vật khi qua Trạm kiểm dịch động vật Y, nên T1 chưa mua mà dự định sẽ đi đến Trạm kiểm dịch động vật Y gặp Việt A đưa hối lộ, mục đích để Việt A cho T1 chở trâu không có giấy chứng nhận kiểm dịch qua Trạm vào địa bàn huyện H. Nếu Việt A đồng ý thì T1 sẽ quay lại mua trâu.

Khoảng 16 giờ cùng ngày, Đặng Văn T1 đi đến Trạm kiểm dịch động vật Y gặp Vũ Việt A, tại đây T1 tự nguyện đưa cho Vũ Việt A số tiền 2.500.000 đồng để ngày 22/01/2025 T1 sử dụng ô tô biển số 29C-363.34 chở hai chuyến trâu đi từ huyện B, tỉnh Hà Giang qua Trạm vào địa bàn huyện H mà không phải kiểm tra thủ tục giấy tờ kiểm dịch. Việt A đồng ý, sau đó ghi biển số xe ô tô vào một mảnh Thiệp mời cưới màu trắng để trên bàn làm việc mục đích để ghi nhớ xe chở trâu sẽ đi qua. Sau khi T1 rời khỏi Trạm kiểm dịch, Việt A lấy số tiền 2.500.000 đồng để vào ví cá nhân.

Sau khi thực hiện hành vi đưa hối lộ, Đặng Văn T1 nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đã không thực hiện việc vận chuyển trâu không có giấy chứng nhận kiểm dịch từ huyện B, tỉnh Hà Giang qua Trạm kiểm dịch động vật Y vào địa bàn huyện H, đồng thời ngày 23/01/2025 T1 đến Cơ quan CSĐT Công an huyện H chủ động trình báo sự việc.

Tại Kết luận giám định số: 272/KL-KTHS, ngày 13/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh T. Kết luận: Không phát hiện dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong file video mẫu cần giám định; Đặc điểm người, đồ vật, phương tiện, nội dung diễn biến vụ việc, trong file video mẫu cần giám định (Được mô tả chi tiết trong bản ảnh giám định kèm theo).

Tại Kết luận giám định số: 251/KL-KTHS, ngày 08/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh T. Kết luận: Nội dung cuộc hội thoại trong mẫu cần giám định đã được dịch thành văn bản (Có bản dịch kèm theo).

Tại Kết luận giám định số: 247/KL-KTHS, ngày 11/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chữ viết, chữ số, nội dung “29C-363.34” trên tờ bìa màu trắng, trên bìa có in nhiều chữ, số, hoa văn màu tím với chữ viết, chữ số đứng tên Vũ Việt A trên “BIÊN BẢN THU THẬP MẪU CHỮ SỐ, CHỮ VIẾT” là do cùng một người viết.

Tại Cáo trạng số: 20/CT-VKSHY, ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên đã truy tố Vũ Việt A về tội “Nhận hối lộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 354 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Vũ Việt A theo tội danh, điều luật đã nêu trong bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bố bị cáo Vũ Việt A phạm tội “Nhận hối lộ”.
  • Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 354; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Vũ Việt A 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định.
  • Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 30 triệu đến 35 triệu đồng đối với bị cáo.
  • Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • + Lưu hồ sơ vụ án 01 (một) USB nhãn hiệu Kingston màu trắng, bên trong USB chứa 01 đoạn video, dài 04 phút, 02 giây; 01 (một) Tờ bìa màu trắng, trên bìa có in nhiều chữ, số, hoa văn màu tím. Trên bìa có chữ, số màu đen, kèm theo nhiều hình dấu “TRẠM KIỂM DỊCH ĐỘNG VẬT Yên Lâm - H - Tuyên Quang ĐÃ KIỂM TRA Ngày.....tháng......năm 20.....”;
    • + Trả lại cho Vũ Việt A 01 điện thoại di động Redmi, bên trong lắp 01 sim điện thoại viettel của Vũ Việt A.
    • + Trả lại cho anh Đặng Văn T1 số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét phần án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của Viện kiểm sát. Nói lời sau cùng bị cáo ăn năn hối cải về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thực hiện việc xét hỏi, tranh tụng đúng quy định tại các Điều 289, 306, 315, 320, 321, 322 của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa; căn cứ kết luận giám định, lời khai của người liên quan, cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ, ngày 21/01/2025 Vũ Việt A, sinh năm 1976, trú tại tổ A, phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang (là viên chức Trung tâm dịch vụ nông nghiệp huyện H), được phân công nhiệm vụ kiểm dịch vận chuyển động vật ra vào địa bàn qua Trạm kiểm dịch động vật Y thuộc Km68, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, đã có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhận hối lộ số tiền 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng), của Đặng Văn T1, sinh năm 1987, trú tại Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, với mục đích cho T1 chở trâu không có giấy chứng nhận kiểm dịch qua Trạm kiểm dịch động vật Y vào địa bàn huyện H. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Nhận hối lộ, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 354 Bộ luật hình sự. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung Cáo trạng là hoàn toàn đúng người, đúng tội, có căn cứ, không oan.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức làm mất uy tín, giảm lòng tin của nhân dân trong hoạt động quản lý Nhà nước, gây dư luận xấu trên địa bàn. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức, có trình độ học vấn, hoàn toàn nhận thức rõ việc nhận tiền của người khác ngoài quy định để thực hiện công việc cho người đưa hối lộ là vi phạm pháp luật. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm minh đối với bị cáo mới có đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

  • Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo được Chủ tịch UBND huyện H1 tặng danh hiệu lao động tiên tiến năm 2024; Bị cáo đã hoàn trả lại số tiền nhận hối lộ; bố đẻ bị cáo là ông Vũ Mạnh T được tặng thưởng huy chương vì sự nghiệp nông nghiệp và phát triển nông thôn; mẹ đẻ bị cáo là bà Triệu Thị Minh N được tặng huy chương vì sự nghiệp giáo dục; vợ bị cáo là bà Tạ Thị Thúy H đạt được nhiều bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh T, Bộ trưởng Bộ giáo dục trong công tác giáo dục tỉnh T. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xét xử bị cáo mức hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường M, Thành phố T, tỉnh Tuyên Quang để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là phù hợp và có căn cứ.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về biện pháp tư pháp: Cần áp dụng khoản 5 Điều 354 Bộ luật hình sự, cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ trong thời hạn nhất định.

[5] Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tạm giữ: 01 (một) USB nhãn hiệu Kingston màu trắng, bên trong USB chứa 01 đoạn video, dài 04 phút, 02 giây; 01 (một) Tờ bìa màu trắng, trên bìa có in nhiều chữ, số, hoa văn màu tím. Trên bìa có chữ, số màu đen, kèm theo nhiều hình dấu “TRẠM KIỂM DỊCH ĐỘNG VẬT Yên Lâm - H - Tuyên Quang ĐÃ KIỂM TRA Ngày.....tháng......năm 20.....”; những tài liệu, chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên cần lưu theo hồ sơ vụ án.

Đối với 01 (một) Điện thoại di động Redmi, bên trong lắp 01 sim điện thoại viettel của Vũ Việt A, tại phiên tòa bị cáo xin được trả lại, Hội đồng xét xử thấy điện thoại di động nêu trên không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo.

Đối với số tiền 2.500.000 đồng tiền Ngân hàng N1 do bị cáo Vũ Việt A giao nộp, xét thấy số tiền trên là do anh Đặng Văn T1 đưa hối lộ cho bị cáo nhưng anh T1 đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, nên căn cứ vào khoản 7 Điều 364 Bộ luật Hình sự năm 2015 trả lại cho Đặng Văn T1.

Đối với hành vi đưa hối lộ của Đặng Văn T1, sau khi thực hiện hành vi T1 nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đã không thực hiện việc vận chuyển trâu không có giấy chứng nhận kiểm dịch từ huyện B, tỉnh Hà Giang qua Trạm kiểm dịch động vật Y vào địa bàn huyện H, đồng thời đến Cơ quan CSĐT Công an huyện H chủ động trình báo sự việc trước khi bị phát hiện. Căn cứ khoản 7 Điều 364 Bộ luật Hình sự, đủ căn cứ miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đặng Văn T1 về tội Đưa hối lộ.

[6] Về phần trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra, bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền nhận hối lộ 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng). Cần trả lại số tiền trên cho anh Đặng Văn T1.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 354; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Việt A phạm tội Nhận hối lộ.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Việt A 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm, hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (11/3/2025).

Giao bị cáo Vũ Việt A cho Ủy ban nhân dân phường M, Thành phố T, tỉnh Tuyên Quang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

* Về hình phạt bổ sung:

  • Phạt tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) đối với bị cáo Vũ Việt A.
  • Căn cứ khoản 5 Điều 354, Điều 41 Bộ Luật hình sự;
  • Cấm đảm nhiệm chức vụ đối với bị cáo Vũ Việt A 01 (một) năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • Lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (một) USB nhãn hiệu Kingston màu trắng, bên trong USB chứa 01 đoạn video, dài 04 phút, 02 giây; 01 (một) Tờ bìa màu trắng, trên bìa có in nhiều chữ, số, hoa văn màu tím. Trên bìa có chữ, số màu đen, kèm theo nhiều hình dấu “TRẠM KIỂM DỊCH ĐỘNG VẬT Yên Lâm - H - Tuyên Quang ĐÃ KIỂM TRA Ngày.....tháng......năm 20.....”.
  • Trả lại cho Vũ Việt A 01 (một) Điện thoại di động Redmi, bên trong lắp 01 sim điện thoại viettel của Vũ Việt A.
  • Trả lại cho anh Đặng Văn T1 số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) hiện đang gửi tại tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Tuyên Quang và Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang lập ngày 27/02/2025).

3. Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Vũ Việt A phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết hoặc nhận được bản án theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND h.Hàm Yên;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự,
  • Công an tỉnh Tuyên Quang;
  • - Chi cục THADS h. Hàm Yên;
  • - UBND phường Minh Xuân;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Đức Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự (nhận hối lộ)

  • Số bản án: 23/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Nhận hối lộ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Việt Anh nhận hối lộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger