|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 23/2025/HS-ST Ngày: 06-03-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẢO LỘC
—————————
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Qui
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Khắc Cường – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 06 tháng 03 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số: 18/2025/HSST ngày 18 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hữu S; tên gọi khác: không; sinh năm: 1991; tại: Thanh Hóa; nơi ĐKNKTT: Tổ A, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: Số I đường P, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Hữu T, sinh năm 1951 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1953, nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; vợ: Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm 1999, có 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2020.
Tiền án, Tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 10/10/2016 bị Công an T3 xử phạt vi phạm hành chính 200.000 đồng theo Quyết định xử phạt số 57 QĐ-XPHC về hành vi Gây rối trật tự công cộng, đã nộp phạt ngày 10/11/2026.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 17/01/2024 đến ngày 24/01/2024. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/01/2024 đến nay (có mặt).
- Người làm chứng:
1/ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1968; địa chỉ: Số B đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; (vắng mặt)
2/ Anh Nguyễn Minh N, sinh năm 1996; địa chỉ: Số B đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng cuối tháng 12 năm 2024 Nguyễn Hữu S sử dụng tài khoản facebook “N” đặt mua 10 (mười) hộp pháo hoa nổ với giá 700.000 đồng (bảy trăm ngàn đồng)/hộp của một người không rõ nhân thân lai lịch trên mạng xã hội Facebook. Khoảng 01 tuần sau S nhận được 10 hộp pháo từ một đơn vị vận chuyển giao hàng tư nhân (không rõ tên công ty) và thanh toán số tiền 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) bằng tiền mặt trực tiếp cho người nhân viên giao hàng, khi nhận được hàng Sơn xóa toàn bộ tin nhắn, thông tin liên lạc với người bán. Sau đó S cất giấu số pháo trên tại nhà của mình tại địa chỉ số I đường P, xã Đ, Tp B, tỉnh Lâm Đồng. Do lo sợ bị phát hiện nên S đã chuyển toàn bộ số pháo này đến nhà bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1968, trú tại: số B đường T, phường L, Tp B, tỉnh Lâm Đồng (mẹ vợ của S) cất giấu vào khu vực chuồng gà phía sau nhà bà H và không nói cho ai biết. Đến ngày 17/01/2025 S đến nhà bà H để đưa số pháo trên về nhà mình nhằm mục đích sử dụng và tặng cho người khác. S nhờ anh Nguyễn Minh N, sinh năm 1996, trú tại: số B đường T, phường L, Tp B, tỉnh Lâm Đồng (anh vợ của S) gọi một xe taxi vào đón S mục đích để S vận chuyển pháo về nhà, trong lúc đợi xe taxi đến, S mang bao tải đựng 10 hộp pháo để ở khu vực sân nhà bà H thì bị lực lượng Công an phát hiện và bắt quả tang về hành vi tàng trữ hàng cấm là pháo nổ.
Tại Kết luận giám định số 104 ngày 24/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: toàn bộ 10 khối hình hộp chữ nhật, bên trong mỗi khối chứa bốn mươi chín (49) viên giấy hình trụ tròn đồng dạng, mỗi viên có đường kính 2,3cm, cao 10cm được nối với nhau bằng sợi dây truyền từ trong thân ra gửi giám định đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo, khi đốt gây tiếng nổ). Tổng khối lượng là 16,8kg.
Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 10 (mười) khối hộp hình chữ nhật, bên ngoài dán giấy nhiều màu, có ký hiệu KS4-4911, bên trong mỗi khối chứa 49 viên giấy hình trụ tròn đồng dạng có kích thước 2,3cm cao 10cm được nối với nhau bằng sợi dây truyền từ trong thân ra được kết luận là pháo hoa nổ. Sau giám định số pháo hiện nay đang tạm giữ là 09 hộp pháo, mỗi hộp có 48 viên.
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 35/QĐ-VKSBL ngày 17 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố Nguyễn Hữu S về tội Tàng trữ hàng cấm theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Hữu S thừa nhận toàn bộ nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng, bị cáo không thắc mắc hay khiếu nại gì nội dung của bản cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Hữu S đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo S từ 80.000.000 đồng đến 90.000.000 đồng.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 09 (chín) khối hộp hình chữ nhật, bên ngoài dán giấy nhiều màu, có chữ nước ngoài và dòng chữ có nội dung “KS4-4911”, bên trong mỗi khối chứa 48 viên giấy hình trụ tròn đồng dạng, mỗi viên có đường kính 2,3cm, cao 10cm, được nối với nhau bằng sợi dây truyền từ trong thân ra.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an thành phố T3; của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến thắc mắc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Hữu S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo khai vào khoảng cuối tháng 12 năm 2024, thông qua mạng xã hội Facebook, bị cáo đặt mua 10 (mười) hộp pháo hoa nổ với giá 700.000 đồng (bảy trăm ngàn đồng)/hộp của một người không rõ nhân thân lai lịch, khoảng 01 tuần sau bị cáo nhận được 10 hộp pháo từ một đơn vị vận chuyển giao hàng tư nhân (không rõ tên công ty) và thanh toán số tiền 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) bằng tiền mặt trực tiếp cho người nhân viên giao hàng, khi nhận được hàng bị cáo xóa toàn bộ tin nhắn, thông tin liên lạc với người bán và đưa số pháo trên về nhà bà H cất dấu, khi bị cáo chuẩn bị chuyển số pháo trên đi thì bị bắt quả tang. Mục đích mua pháo để sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 104 ngày 24/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: toàn bộ 10 khối hình hộp chữ nhật, bên trong mỗi khối chứa bốn mươi chín (49) viên giấy hình trụ tròn đồng dạng, mỗi viên có đường kính 2,3cm, cao 10cm được nối với nhau bằng sợi dây truyền từ trong thân ra gửi giám định đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo, khi đốt gây tiếng nổ). Tổng khối lượng là 16,8kg.
Đối chiếu lời khai của bị cáo tại phiên tòa và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định hành vi của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, hành vi của bị cáo là hành vi trái pháp luật. Đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Hữu S phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu S về tội danh và điều luật như Cáo trạng là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, vì vậy cần áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
- Về nhân thân: Ngày 10/10/2016 bị Công an T3 xử phạt vi phạm hành chính 200.000 đồng theo Quyết định xử phạt số 57 QĐ-XPHC về hành vi Gây rối trật tự công cộng.
[4] Về tính chất mức độ, hậu quả hành của vi phạm tội: Xét tính chất của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, thể hiện thái độ coi thường kỷ cương pháp luật, xâm phạm trái pháp luật đến trật tự an toà xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội ở địa phương, xét cần thiết phải áp dụng cho bị cáo một mức hình phạt thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết giảm nhẹ, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, chưa có tiền án, tiền sự, tại phiên tòa bị cáo trình bày bị cáo có thu nhập ổn định nên mức hình phạt viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[6] Về vật chứng: Đối với 09 (chín) khối hộp hình chữ nhật, bên ngoài dán giấy nhiều màu, có chữ nước ngoài và dòng chữ có nội dung “KS4-4911”, bên trong mỗi khối chứa 48 viên giấy hình trụ tròn đồng dạng, mỗi viên có đường kính 2,3cm, cao 10cm, được nối với nhau bằng sợi dây truyền từ trong thân ra cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Đối với bà Nguyễn Thị H không biết việc S cất giấu pháo tại nhà của mình nên không xem xét trách nhiệm hình sự là đúng quy định pháp luật.
Đối với anh Nguyễn Minh N không biết việc S cất giấu pháo tại nhà mình và N gọi xe taxi cho S đến đón S, không biết mục đích S gọi xe taxi là để vận chuyển số pháo trên nên không xem xét trách nhiệm hình sự là đúng quy định pháp luật.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu S phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu S 90.000.000đ (chín mươi triệu đồng).
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 09 (chín) khối hộp hình chữ nhật, bên ngoài dán giấy nhiều màu, có chữ nước ngoài và dòng chữ có nội dung “KS4-4911”, bên trong mỗi khối chứa 48 viên giấy hình trụ tròn đồng dạng, mỗi viên có đường kính 2,3cm, cao 10cm, được nối với nhau bằng sợi dây truyền từ trong thân ra.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/02/2025 giữa Công an thành phố T3 với Chi cục thi hành án dân sự thành phố B).
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Hữu S phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Qui |
Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG về tàng trữ hàng cấm (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 23/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ hàng cấm (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ hàng cấm bị cáo Nguyễn Hữu S
