|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 23/2025/HS-PT Ngày 06 - 3 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Danh.
Các Thẩm phán: Ông Vũ Văn Mạnh;
Ông Nguyễn Xuân Trọng.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Bích Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Mầu Mai Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 09/2025/TLPT-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Thị T và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 102/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Các bị cáo có kháng cáo:
- Nguyễn Thị T, sinh ngày 29 tháng 4 năm 1968 tại phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ E, phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Trần Thị C (đã chết); có chồng là Phạm Văn P và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại, “có mặt".
- Trần Thị D, sinh ngày 04 tháng 5 năm 1960 tại phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ C, phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Hưu trí; trình độ văn hóa: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn K và bà Nguyễn Thị S (đều đã chết); có chồng là Nguyễn Thành L và có 04 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại, “có mặt”.
- Trương Thị H, sinh ngày 28 tháng 7 năm 1974 tại thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ F, phường H, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Sán dìu; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Quang N và bà Hoàng Thị B (đã chết); có chồng là Nguyễn Viết Đ (đã ly hôn) và có 04 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại, “có mặt”.
- Hồ Thị T2, sinh ngày 24 tháng 6 năm 1972 tại phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: Tổ H, phường H, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn T3 và bà Hoàng Thị T4 (đều đã chết); có chồng là Nguyễn Duy V (đã ly hôn) và có 04 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại, “có mặt”.
- Nguyễn Thị H1, sinh ngày 04 tháng 4 năm 1976 tại phường H, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ G, phường H, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Sán dìu; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Viết T5 (đã chết) và bà Nguyễn Thị L1; có chồng là Nguyễn Đình C1 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại, “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 31 tháng 10 năm 2023, Cơ quan điều tra tiếp nhận tin báo do quần chúng nhân dân tố giác Trương Thị H có hành vi bán số lô, số đề cho nhiều người tại tổ F, H, P. Cơ quan điều tra đã triệu tập, làm việc với Trương Thị H theo đúng quy định.
Tại Cơ quan điều tra, Trương Thị H khai nhận hành vi vi phạm pháp luật và giao nộp 01 điện thoại di động (viết tắt là: ĐTDĐ) nhãn hiệu OPPO Reno8T màu tím than, có số IMEI 1: 863126062189732, số IMEI 2: 863126062189724.
Quá trình điều tra xác định: Ngày 30 tháng 10 năm 2023, Trương Thị H sử dụng ĐTDĐ nêu trên, đăng nhập vào tài khoản Zalo có tên là “Truong Phuong”, đăng ký bằng số điện thoại 0948.093.xxx để bán số lô, số đề cho: Hồ Thị T2 và Nguyễn Thị H1. Sau đó Trương Thị H nhắn tin zalo chuyển các số lô, số đề vừa bán cho T2, H1 và các số lô, đề H mua cho Trần Thị D; sau khi D nhận số lô, số đề của H chuyển đến thì D chuyển toàn bộ số lô, số đề của H vừa mua cho Nguyễn Thị T để hưởng lợi. Cụ thể như sau:
I. Về hành vi Đánh bạc:
1. Ngày 30 tháng 10 năm 2023, Hồ Thị Thanh mua số lô, số đề của Trương Thị H, như sau:
T2 và H thỏa thuận: H bán cho T2 01 điểm lô với giá 22.000 đồng, còn số đề 100.000 đồng thì H lấy của T2 85.000 đồng. Nếu T2 trúng 01 điểm lô thì được trả 80.000 đồng, số đề thì cứ 1.000 đồng tiền đề trúng thì được trả 80.000 đồng, cụ thể:
- Hồi 16 giờ 21 phút ngày 30 tháng 10 năm 2023, T2 nhắn tin cho H với nội dung là: “Lô 74x400 đồng”, H nhắn tin trả lời là “Ok” nghĩa là đồng ý.
H bán cho T2 số lô 74 = 400 điểm x 22.000 đồng = 8.800.000 đồng.
Tiếp đó, đến 17 giờ cùng ngày, T2 nhắn tin cho H với nội dung là: “Đề.272_232_686_898_393_898_393_x50k.343_484_141"191_696_464_565_707 595 454 040 252 585 101 606 787 282 474 898 353 303 808 x35", “Đầu đít 7, 8 x 25k. Đầu đít 9 x 50k”, H nhắn tin trả lời “Ok” nghĩa là đồng ý.
Nghĩa là, H bán cho T2 các số đề 27, 72, 23, 32, 68, 86, 89, 98, 39, 93, 89, 98, 39, 93 mỗi số là 50.000 đồng; 34, 43, 48, 84, 14, 41, 19, 91, 69, 96, 46, 64, 56, 65, 70, 07, 59, 95, 45, 54, 04, 40, 25, 52, 58, 85, 10, 01, 60, 06, 78, 87, 28, 82, 47, 74, 89, 98, 35, 53, 30, 03, 80, 08 mỗi số là 35.0000 đồng; các số đề đầu đít 7 (gồm các số 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79, 07, 17, 27, 37, 47, 57, 67, 77, 87, 97), các số đề đầu đít 8 (gồm các số 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89, 08, 18, 28, 38, 48, 58, 68, 78, 88, 98) mỗi số là 25.000 đồng; các số đề đầu đít 9 (gồm các số 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 09, 19, 29, 39, 49, 59, 69, 79, 89, 99) mỗi số là 50.000 đồng. Tổng là 4.240.000 đồng, nhưng H chỉ lấy của T2 3.604.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền T2 mua số lô, số đề của H ngày 30 tháng 10 năm 2023 là: 13.040.000 đồng.
Kết quả T2 trúng số lô 74 = 400 điểm = 32.000.000 đồng; số đề 84 = 60.000 đồng = 4.800.000 đồng; tổng tiền trúng lô, đề = 36.800.000 đồng.
T2 đã thanh toán cho H 12.404.000 đồng. Số tiền chênh lệch T2 không phải trả H là 636.000 đồng. Sau khi tính thắng thua thì H còn nợ T2 là: 36.800.000 đồng - 12.404.000 đồng = 24.396.000 đồng.
Khoảng 21 giờ 46 phút cùng ngày, H nhắn tin cho T2 với nội dung “Duo =24395", nghĩa là H nợ T2 số tiền thắng thua là 24.395.000 đồng, số tiền này H đã làm tròn từ 24.396.000 đồng thành 24.395.000 đồng.
Ngày 31 tháng 10 năm 2023, H sử dụng tài khoản ngân hàng A của H số 2801205281111 chuyển khoản số tiền trên đến tài khoản ngân hàng B2 số 44410000158454 của T2. Hai bên đã thanh toán đủ tiền cho nhau.
Như vây, tổng số tiền đánh bạc giữa T2 và H ngày 30 tháng 10 năm 2023 là: 13.040.000 đồng + 36.800.000 đồng = 49.840.000 đồng.
2. Ngày 30 tháng 10 năm 2023, Nguyễn Thị H1 mua số lô, số đề của Trương Thị H, thỏa thuận như sau: H bán cho H1 01 điểm lô với giá 21.800 đồng, còn với số đề thì cứ 100.000 đồng thì H chỉ lấy của H1 83.000 đồng. Nếu H1 trúng 01 điểm lô thì H1 được trả 80.000 đồng, với số đề thì cứ 1.000 đồng tiền thắng đề thì H1 trả 80.000 đồng, cụ thể:
Hồi 17 giờ 28 phút, H1 nhắn tin cho H với nội dung là: “Lô - 030-090-939-292-141-080 mc 10 đ 00-33-191-66 mc 20 đ 44-99 mc 50 đ 11-22 55-77-88 mc 10₫ đề 020, 22, 262, 272, 232, 252, 060, 070, 030, 050, 676, 636, 656, 737, 353, 33, 575 mc 50 nghin 434,121,242,040,66 mc 20 nghin”, “Đề 00, 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08, 09, 10, 13, 20, 23, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 43, 50, 53, 60, 63, 70, 73, 80, 83, 90, 93 mc 30 nghìn”, “Ghi cho chau lô 101 mc 40đ nua nhé”, “Lo 70x20d 07.464x10d”, H nhắn tin trả lời “Ok” nghĩa là đồng ý.
Nghĩa là, H bán cho H1 các số lô 03, 30, 09, 90, 93, 39, 29, 92, 14, 41, 08, 80 mỗi số 10 điểm; 00, 33, 19, 91, 66 mỗi số 20 điểm; 44, 99 mỗi số 50 điểm; 11, 22, 55, 77, 88 mỗi số 10 điểm; 10, 01 mỗi số 40 điểm; 70 là 20 điểm; 07, 46, 64 mỗi số 10 điểm. Tổng là 500 điểm x 21.800 đồng = 10.900.000 đồng.
H bán cho H1 các số đề 02, 20, 22, 26, 62, 27, 72, 23, 32, 25, 52, 06, 60, 07, 70, 03, 30, 05, 50, 67, 76, 63, 36, 65, 56, 73, 37, 35, 53, 33, 57, 75 mỗi số là 50.000 đồng; 43, 34, 12, 21, 24, 42, 04, 40, 66 mỗi số là 20.000 đồng; 00, 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08, 09, 10, 13, 20, 23, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 43, 50, 53, 60, 63, 70, 73, 80, 83, 90, 93 mỗi số là 30.000 đồng. Tổng là 2.860.000 đồng, nhưng H chỉ lấy của H1 2.373.800 đồng.
- Đến 17 giờ 53 phút, H1 tiếp tục nhắn tin cho H với nội dung: “Lo 303.99.33.x10d.090.939.x5d”, “Lô 96.53x10d đề 16.61.19.9117.71x50ng dàu dít 1x50ng”, H nhắn tin trả lời “Ok” nghĩa là đồng ý.
Nghĩa là, H bán cho H1 các số lô 30, 03, 99, 33 mỗi số là 10 điểm; 09, 90, 93, 39 mỗi số là 05 điểm; 96, 53 mỗi số là 10 điểm; Tổng là 80 điểm x 21.800 đồng = 1.744.000 đồng.
H bán cho H1 các số đề 16, 61, 19, 91, 17, 71 mỗi số là 50.000 đồng; các số đề đầu đít 1 (gồm các số 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 01, 11, 21, 31, 41, 51, 61, 71, 81, 91) mỗi số là 50.000 đồng. Tổng là 1.300.000 đồng, nhưng H chỉ lấy của H1 1.079.000 đồng.
Hồi 7 giờ 57 phút, H1 nhắn tin cho H với nội dung là: “Lo 505.191.44x10d 35.99.232x5d.de 121.707.151.x 30ng”, H nhắn tin trả lời là “Ok” nghĩa là đồng ý.
Nghĩa là, H bán cho H1 các số lô 50, 05, 19, 91, 44 mỗi số là 10 điểm; 35, 99, 23, 32 mỗi số là 05 điểm; tổng là 70 điểm x 21.800 đồng = 1.526.000 đồng.
H bán cho H1 các số đề 12, 21, 70, 07, 15, 51 mỗi số là 30.000 đồng. Tổng là 180.000 đồng, nhưng H chỉ lấy của H1 149.400 đồng.
Hồi 18h12, H1 nhắn tin cho H với nội dung là: “De dàu dít 6x20ng”, H nhắn tin trả lời là “Ok” nghĩa là đồng ý.
Nghĩa là, H bán cho H1 các số đề đầu đít 6 (gồm các số 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 06, 16, 26, 36, 46, 56, 66, 76, 86, 96) mỗi số là 20.000 đồng. Tổng là 400.000 đồng, nhưng H chỉ lấy của H1 332.000 đồng.
Tổng số tiền H bán các số lô, số đề cho H1 ngày 30 tháng 10 năm 2023 là: 10.900.000 đồng + 2.860.000 đồng + 1.744.000 đồng + 1.300.000 đồng + 1.526.000 đồng + 180.000 đồng + 400.000 đồng = 18.910.000 đồng. Thực tế tiền H1 phải trả theo thỏa thuận là 18.104.200 đồng. H1 đã trả tiền H.
Kết quả H1 trúng số lô 03 về 02 lần là 20 điểm, 09 là 10 điểm, 19 là 20 điểm, 44 là 50 điểm, 99 là 50 điểm, 22 là 10 điểm, 01 về 02 lần là 80 điểm, 03 về 02 lần là 20 điểm, 99 là 10 điểm, 09 là 05 điểm, 53 là 10 điểm, 50 là 10 điểm, 19 là 10 điểm, 44 là 10 điểm, 99 là 05 điểm, 23 là 05 điểm. Tổng là 325 điểm = 26.000.000 đồng. H đã trả tiền trúng cho H1.
Như vây, tổng số tiền đánh bạc giữa H và H1 ngày 30 tháng 10 năm 2023 là: 18.910.000 đồng + 26.000.000 đồng = 44.910.000 đồng.
II. Hành vi tổ chức đánh bạc:
1. Hành vi tổ chức đánh bạc ngày 30 tháng 10 năm 2023 của Trương Thị H chuyển số lô, đề cho Trần Thị D, cụ thể:
D với H nhắn tin qua zalo, Hải lưu trong danh bạ Zalo có tên là “C Dung”. Bản thân D sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, màu xanh ngọc, số IMEI 1: 862173064234877, số IMEI 2: 862173064234869, bên trong lắp sim số thuê bao 0947.071.168 đăng nhập vào tài khoản Zalo có tên là “Kim Dung”, đăng ký bằng sim số thuê bao 0947.071.168 nhắn tin đến tài khoản Zalo Dung lưu trong danh bạ là “Hải 74” của H để bán các số lô, số đề cho H. D bán cho H 01 điểm lô = 21.800 đồng, còn với số đề thì cứ 100.000 đồng thì D chỉ lấy của H 83.000 đồng. Nếu H trúng 01 điểm lô thì H được trả 80.000 đồng, với số đề thì cứ 1.000 đồng tiền đề thắng thì H được trả 80.000 đồng. H đã chuyển bảng lô, đề cho D, cụ thể như sau:
Hồi 16 giờ 06 phút, H nhắn tin cho D với nội dung là: “Lô 74x380đ”, “Đề.272_232_686_898_393_898_393_898_393x50k.343_484_141”191_696_464_565_707_595_454_040_252_585_101_606_787_282_474_898_353_303_808 x35k”, “Đầu đít 7_8_x20k. Đầu đít 9x40k”, D nhắn tin trả lời là “Q” nghĩa là đồng ý.
Nghĩa là, H mua của D các số lô 74 là 380 điểm = 8.284.000 đồng.
H mua của D các số đề 27, 72, 23, 32, 68, 86, 89, 98, 39, 93, 89, 98, 39, 93 mỗi số là 50.000 đồng; 34, 43, 48, 84, 14, 41, 19, 91, 69, 96, 46, 64, 56, 65, 70, 07, 59, 95, 45, 54, 04, 40, 25, 52, 58, 85, 10, 01, 60, 06, 78, 87, 28, 82, 47, 74, 89, 98, 35, 53, 30, 03, 80, 08 mỗi số là 35.000 đồng; các số đề đầu 7 (gồm các số 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79), các số đề đầu 8 gồm các số (80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89), các số đề đít 7 (gồm các số 07, 17, 27, 37, 47, 57, 67, 77, 87, 97), các số đề đít 8 (gồm các số 08, 18, 28, 38, 48, 58, 68, 78, 88, 98) mỗi số là 20.000 đồng; các số đề đầu 9 (gồm các số 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99), các số đề đít 9 (gồm các số 09, 19, 29, 39, 49, 59, 69, 79, 89, 99) mỗi số là 40.000 đồng. Tổng là 3.840.000 đồng, nhưng D chỉ lấy H số tiền là 3.187.200 đồng.
Hồi 17 giờ 08 phút, H tiếp tục nhắn tin cho D với nội dung: “Lo 53.96x15d; 35.69x5d đề 19.91.99.17.71.x20n 16.61x50n”, D nhắn tin trả lời là “4” nghĩa là đồng ý Nghĩa là, H mua của D các số lô 53, 96 mỗi số là 15 điểm; 35, 69 mỗi số là 05 điểm; tổng là 40 điểm = 872.000 đồng.
H mua của D các số đề 19, 91, 99, 17, 71 mỗi số là 20.000 đồng; 16, 61 mỗi số là 50.000 đồng. Tổng là 200.000 đồng, nhưng D chỉ lấy H = 166.000 đồng.
– Hồi 17 giờ 32 phút, H nhắn tin cho D với nội dung là: “Lô -030-090-939-292-141-080 mc 5 đ 00-33-191-66 mc 20 đ 44-99 mc 50 đ 11-22-55-77-88 mc 5 đ đề 020,22,262,272,232,252,060,070030,050,676,636,656,737, 353,33, 575 mc 50 nghin 434,121,242,040,66 mc 20 nghin”, D nhắn tin trả lời là “5” nghĩa là đồng ý.
Nghĩa là, H mua của D các số lô 03, 30, 09, 90, 93, 39, 29, 92, 14, 41, 08, 80 mỗi số là 05 điểm; 00, 33, 19, 91, 66 mỗi số là 20 điểm; 44, 99 mỗi số là 50 điểm; 11, 22, 55, 77, 88 mỗi số là 05 điểm; tổng là 285 điểm = 6.213.000 đồng.
H mua của D các số đề 02, 20, 22, 26, 62, 27, 72, 23, 32, 25, 52, 06, 60, 07, 70, 03, 30, 05, 50, 67, 76, 63, 36, 65, 56, 73, 37, 35, 53, 33, 57, 75 mỗi số là 50.000 đồng; 43, 34, 12, 21, 24, 42, 04, 40, 66 mỗi số là 20.000 đồng. Tổng là 1.780.000 đồng, nhưng D chỉ lấy H số tiền là 1.477.400 đồng.
Hồi 17 giờ 32 phút, H nhắn tin cho D với nội dung là: “Đề 00, 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08, 09, 10, 13, 20, 23, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 43, 50, 53, 60, 63, 70, 73, 80, 83, 90, 93 mc 30 nghìn”, D nhắn tin trả lời là “6” nghĩa là đồng ý.
Nghĩa là, H mua của D các số đề 00, 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08, 09, 10, 13, 20, 23, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 43, 50, 53, 60, 63, 70, 73, 80, 83, 90, 93 mỗi số là 30.000 đồng. Tổng là 1.080.000 đồng, nhưng D chỉ lấy H số tiền là 896.400 đồng.
Hồi 17 giờ 33 phút, H nhắn tin cho D với nội dung là: “lô 101 mc 40đ", "Lo 70x20d 07.464x10d”, D nhắn tin trả lời là “8” nghĩa là đồng ý.
Nghĩa là, H mua của D các số lô 10, 01 mỗi số là 40 điểm; 70 là 20 điểm; 07, 46, 64 mỗi số là 10 điểm; tổng là 130 điểm = 2.834.000 đồng.
-Hồi 17 giờ 33 phút, H nhắn tin cho D với nội dung là: “Lô 05/50 /47/74X5Д, D nhắn tin trả lời là “9” nghĩa là đồng ý.
Nghĩa là, H mua của D các số lô 05, 50, 47, 74 mỗi số là 05 điểm; tổng là 20 điểm = 436.000 đồng.
Hồi 17 giờ 39 phút, H nhắn tin cho D với nội dung là: “Lô83v38.91v19.20v02.05v50.mọi con 20đ”, D nhắn tin trả lời là “10” nghĩa là đồng ý.
Nghĩa là, H mua của D các số lô 83, 38, 91, 19, 20, 02, 05, 50 mỗi số là 20 điểm; tổng là 160 điểm = 3.488.000 đồng.
Hồi 17 giờ 54 phút, H nhắn tin cho D với nội dung là: “Lô 96.53x10d đề 16.61.19.9117.71x50ng dàu dít 1x40ng 15.51x25n”, D nhắn tin trả lời là “11” nghĩa là đồng ý.
Nghĩa là, H mua của D các số lô 96, 53 mỗi số là 10 điểm; tổng là 20 điểm = 436.000 đồng.
H mua của D các số đề 16, 61, 19, 91, 17, 71 mỗi số là 50.000 đồng; các số đề đầu 1 (gồm các số 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19), các số đề đít 1 (gồm các số 10, 11, 21, 31, 41, 51, 61, 71, 81, 91) mỗi số là 40.000 đồng; 15, 51 mỗi số là 25.000 đồng. Tổng là 1.150.000 đồng, nhưng D chỉ lấy H = 954.500 đồng.
Hồi 17 giờ 59 phút, H nhắn tin cho D với nội dung là: “Lo 03.30x5đ”, “Lo 505.191.44x10d 35.99.232x5d.de 121.707.151.x30ng”, D nhắn tin trả lời là “13” nghĩa là đồng ý.
Nghĩa là, H mua của D các số lô 03, 30 mỗi số là 05 điểm; 50, 05, 19, 91, 44 mỗi số là 10 điểm; 35, 99, 23, 32 mỗi số là 05 điểm; tổng là 80 điểm = 1.744.000 đồng.
H mua của D các số đề 12, 21, 70, 07, 15, 51 mỗi số là 30.000 đồng. Tổng là 180.000 đồng, nhưng D chỉ lấy H 149.400 đồng.
- Hồi 18 giờ 02 phút, H nhắn tin cho D với nội dung là: “Để 191 x20 79 x20 393x10 292 x15 91 x30 69 x10 99 x10”, D nhắn tin trả lời là “14” nghĩa là đồng ý.
Nghĩa là, H mua của D các số đề 19, 91 mỗi số là 20.000 đồng; 79 là 20.000 đồng; 39, 93 mỗi số là 10.000 đồng; 29, 92 mỗi số là 15.000 đồng; 91 là 30.000 đồng; 69, 99 mỗi số là 10.000 đồng. Tổng là 160.000 đồng, nhưng D chỉ lấy H 132.800 đồng.
-Khoảng 18 giờ 02 phút, H nhắn tin cho D với nội dung: “Dê 93 x20 95 x30 59 x10”, D nhắn tin trả lời là “15” nghĩa là đồng ý.
Nghĩa là, H mua của D các số đề 93 là 20.000 đồng; 95 là 30.000 đồng; 59 là 10.000 đồng. Tổng là 60.000 đồng, nhưng D chỉ lấy H 49.800 đồng.
- Hồi 18 giờ 16 phút, H nhắn tin cho D với nội dung là: “Đề 16.61.66.56.65x 10n”, D nhắn tin trả lời là “16” nghĩa là đồng ý.
Nghĩa là, H mua của D các số đề 16, 61, 66, 56, 65 mỗi số là 10.000 đồng. Tổng là 50.000 đồng, nhưng D chỉ lấy H 41.500 đồng.
- Hồi 18 giờ 20 phút, H nhắn tin cho D với nội dung là: “Đề đầu dit 0x20n”, D nhắn tin trả lời là “17” nghĩa là đồng ý.
Nghĩa là, H mua của D các số đề đầu 0 (gồm các số 00, 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08, 09), các số đề đít 0 (gồm các số 00, 10, 20, 30, 40, 50, 60, 70, 80, 90) mỗi số là 20.000 đồng. Tổng là 400.000 đồng, nhưng D chỉ lấy H 332.000 đồng.
Như vậy, ngày 30 tháng 10 năm 2023, tổng số tiền H chuyển bảng các số lô, số đề cho D là 33.207.000 đồng, H trả D số tiền thực tế là 31.694.000 đồng. H hưởng lợi 1.513.000 đồng. (Trong đó: Số lô, đề H bán cho T2 chuyển D là 11.471.200 đồng; số lô, đề H bán cho H1 chuyển D là 14.445.200 đồng; H tự mua số lô, đề với D là 5.777.600 đồng)
Kết quả H trúng các số lô, đề sau:
Trúng số lô 74 là 380 điểm, số lô 53 là 15 điểm, số lô 03 về 02 lần là 10 điểm, số lô 09 là 05 điểm, số lô 19 là 20 điểm, số lô 44 là 50 điểm, số lô 99 là 50 điểm, số lô 22 là 05 điểm, số lô 01 về 02 lần là 80 điểm, số lô 50 là 05 điểm, số lô 74 là 05 điểm, số lô 83 về 03 lần là 60 điểm, số lô 19 là 20 điểm, số lô 50 là 20 điểm, số lô 53 là 10 điểm, số lô 03 về 02 lần là 10 điểm, số lô 50 là 10 điểm, số lô 19 là 10 điểm, số lô 44 là 10 điểm, số lô 99 là 05 điểm, số lô 23 là 05 điểm. Tổng Hải trúng là 785 điểm = 62.800.000 đồng.
H trúng số đề 84 là 55.000 đồng = 4.400.000 đồng.
Tổng số tiền H trúng các số lô, số đề ngày 30 tháng 10 năm 2023 là: 62.800.000 đồng + 4.400.000 đồng = 67.200.000 đồng. H và D đã thanh toán cho nhau bằng tiền mặt.
Ngày 30 tháng 10 năm 2023, Trương Thị H có hành vi bán số lô, đề cho Hồ Thị T2 và Nguyễn Thị H1, sau đó chuyển một phần cho Trần Thị D. Trương Thị H còn giữ lại số lô, đề bán cho T2 và H1 tổng số tiền bán số lô, đề là 11.001.000 đồng, trong đó: số tiền mua số lô, số đề là 4.601.000 đồng, tiền trúng 6.400.000 đồng, cụ thể như sau:
Các số lô, đề H bán cho T2 nhưng H giữ lại, không chuyển cho D, gồm:
- - Số lô 74 là 20 điểm, thành tiền là 440.000 đồng.
- - Các số đề đầu 7 (gồm các số 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79), các số đề đầu 8 gồm các số (80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89), các số đề đít 7 (gồm các số 07, 17, 27, 37, 47, 57, 67, 77, 87, 97), các số đề đít 8 (gồm các số 08, 18, 28, 38, 48, 58, 68, 78, 88, 98) mỗi số là 5.000 đồng; các số đề đầu 9 (gồm các số 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99), các số đề đít 9 (gồm các số 09, 19, 29, 39, 49, 59, 69, 79, 89, 99) mỗi số là 10.000 đồng. Tổng là 400.000đ, nhưng tôi chỉ lấy của chị T2 số tiền là 340.000₫.
Tổng số tiền H bán các số lô, số đề cho chị T2 không chuyển D là 840.000 đồng.
Kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày thì với các số, lô đề trên T2 thắng số lô 74 là 20 điểm = 1.600.000 đồng; số đề 84 là 5.000 đồng, thành tiền là 400.000 đồng. Tổng là 2.000.000 đồng. Tổng số tiền H đánh bạc riêng với T2 không chuyển bảng là 840.000 + 2.000.000 = 2.840.000 đồng.
(2). Đối với số lô, đề của H1 mua của H không chuyển cho D, gồm:
- - Các số lô 03, 30, 09, 90, 93, 39, 29, 92, 14, 41, 08, 80 mỗi số là 05 điểm; 11, 22, 55, 77, 88 mỗi số là 05 điểm; tổng là 85 điểm = 1.853.000 đồng.
- - Các số lô 30, 03, 99, 33 mỗi số là 10 điểm; 09, 90, 93, 39 mỗi số là 05 điểm; tổng là 60 điểm = 1.308.000 đồng.
- - Các số đề đầu 1 (gồm các số 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19), các số đề đít 1 (gồm các số 01, 11, 21, 31, 41, 51, 61, 71, 81, 91) mỗi số là 10.000 đồng. Tổng là 200.000 đồng, nhưng chỉ lấy 166.000 đồng.
- - Các số đề đầu 6 (gồm các số 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69), các số đề đít 6 (gồm các số 06, 16, 26, 36, 46, 56, 66, 76, 86, 96) mỗi số là 20.000 đồng. Tổng là 400.000 đồng, nhưng chỉ lấy 332.000 đồng.
Tổng số tiền H (bán số lô, số đề cho H1) không chuyển D 3.761.000 đồng, tiền thực tế trả là 3.659.000 đồng.
Kiểm tra kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày thì H1 trúng số lô 03 về 02 lần là 10 điểm, 09 là 05 điểm, 22 là 05 điểm, 03 về 02 lần là 20 điểm, 99 là 10 điểm, 09 là 05 điểm; tổng là 55 điểm = 4.400.000 đồng.
Tổng số tiền đánh bạc giữa H và H1 ngày 30 tháng 10 năm 2023 (không chuyển D) = 8.161.000 đồng, tiền thực tế là 8.059.000 đồng.
Như vậy, số tiền tổ chức đánh bạc của Trương Thị H ngày 30 tháng 10 năm 2023 là 111.408.000 đồng. T6 lợi bất chính là 1.513.000 đồng.
2. Hành vi tổ chức đánh bạc ngày 30 tháng 10 năm 2023 chuyển bảng số lô, đề của Trần Thị D cho Nguyễn Thị T.
Sau khi Trần Thị D bán các số lô, số đề trên cho Trương Thị H, thì D có ghi các số lô, số đề này ra 01 tờ giấy A4 và sử dụng chiếc điện thoại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, màu xanh ngọc có số thuê bao điện thoại 0947.071.xxx của Trần Thị D và gọi điện cho Nguyễn Thị T để chuyển toàn bộ số lô, số đề trên cho T, với giá 21.700 đồng/01 điểm lô, số đề thì cứ 100.000 đồng thì T chỉ lấy 83.000 đồng. Cụ thể như sau:
Số lô 74 là 380 điểm, thành tiền 8.246.000 đồng;
Số đề 27, 72, 23, 32, 68, 86, 89, 98, 39, 93, 89, 98, 39, 93 mỗi số là 50.000 đồng; 34, 43, 48, 84, 14, 41, 19, 91, 69, 96, 46, 64, 56, 65, 70, 07, 59, 95, 45, 54, 04, 40, 25, 52, 58, 85, 10, 01, 60, 06, 78, 87, 28, 82, 47, 74, 89, 98, 35, 53, 30, 03, 80, 08 mỗi số là 35.000 đồng; các số đề đầu 7 (gồm các số 70, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77, 78, 79), các số đề đầu 8 gồm các số (80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89), các số đề đít 7 (gồm các số 07, 17, 27, 37, 47, 57, 67, 77, 87, 97), các số đề đít 8 (gồm các số 08, 18, 28, 38, 48, 58, 68, 78, 88, 98) mỗi số là 20.000 đồng; các số đề đầu 9 (gồm các số 90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99), các số đề đít 9 (gồm các số 09, 19, 29, 39, 49, 59, 69, 79, 89, 99) mỗi số là 40.000 đồng. Tổng là 3.840.000 đồng, nhưng T chỉ lấy Dung 3.187.200 đồng.
- - Các số lô 53, 96 mỗi số là 15 điểm; 35, 69 mỗi số là 05 điểm; tổng là 40 điểm = 868.000 đồng.
- - Các số đề 19, 91, 99, 17, 71 mỗi số là 20.000 đồng; 16, 61 mỗi số là 50.000 đồng. Tổng là 200.000 đồng, nhưng chỉ lấy 166.000 đồng.
- - Các số lô 03, 30, 09, 90, 93, 39, 29, 92, 14, 41, 08, 80 mỗi số là 05 điểm; 00, 33, 19, 91, 66 mỗi số là 20 điểm; 44, 99 mỗi số là 50 điểm; 11, 22, 55, 77, 88 mỗi số là 05 điểm; tổng là 285 điểm = 6.184.500 đồng.
- - Các số đề 02, 20, 22, 26, 62, 27, 72, 23, 32, 25, 52, 06, 60, 07, 70, 03, 30, 05, 50, 67, 76, 63, 36, 65, 56, 73, 37, 35, 53, 33, 57, 75 mỗi số là 50.000 đồng; 43, 34, 12, 21, 24, 42, 04, 40, 66 mỗi số là 20.000 đồng. Tổng là 1.780.000 đồng, nhưng chỉ lấy 1.477.400 đồng.
- - Các số đề 00, 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08, 09, 10, 13, 20, 23, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 43, 50, 53, 60, 63, 70, 73, 80, 83, 90, 93 mỗi số là 30.000 đồng. Tổng là 1.080.000 đồng, nhưng chỉ lấy 896.400 đồng.
- - Các số lô 10, 01 mỗi số là 40 điểm; 70 là 20 điểm; 07, 46, 64 mỗi số là 10 điểm; tổng là 130 điểm = 2.821.000 đồng.
- - Các số lô 05, 50, 47, 74 mỗi số là 05 điểm; tổng là 20 điểm = 434.000 đồng.
- - Các số lô 83, 38, 91, 19, 20, 02, 05, 50 mỗi số là 20 điểm; tổng là 160 điểm = 3.472.000 đồng.
- - Các số lô 96, 53 mỗi số là 10 điểm; tổng là 20 điểm = 434.000 đồng.
- - Các số đề 16, 61, 19, 91, 17, 71 mỗi số là 50.000 đồng; các số đề đầu 1 (gồm các số 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19), các số đề đít 1 (gồm các số 10, 11, 21, 31, 41, 51, 61, 71, 81, 91) mỗi số là 40.000 đồng; 15, 51 mỗi số là 25.000 đồng. Tổng là 1.150.000 đồng, nhưng chỉ lấy 954.500 đồng.
- - Các số lô 03, 30 mỗi số là 05 điểm; 50, 05, 19, 91, 44 mỗi số là 10 điểm; 35, 99, 23, 32 mỗi số là 05 điểm; tổng là 80 điểm = 1.736.000 đồng.
- - Các số đề 12, 21, 70, 07, 15, 51 mỗi số là 30.000 đồng. Tổng là 180.000 đồng, nhưng chỉ lấy 149.400 đồng.
- - Các số đề 19, 91 mỗi số là 20.000 đồng; 79 là 20.000 đồng; 39, 93 mỗi số là 10.000 đồng; 29, 92 mỗi số là 15.000 đồng; 91 là 30.000 đồng; 69, 99 mỗi số là 10.000 đồng. Tổng là 160.000 đồng, nhưng chỉ lấy 132.800 đồng.
- - Các số đề 93 là 20.000 đồng; 95 là 30.000 đồng; 59 là 10.000 đồng. Tổng là 60.000 đồng, nhưng chỉ lấy số tiền là 49.800 đồng.
- - Các số đề 16, 61, 66, 56, 65 mỗi số là 10.000 đồng. Tổng là 50.000 đồng, nhưng chỉ lấy 41.500 đồng.
- - Các số đề đầu 0 (gồm các số 00, 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08, 09), các số đề đít 0 (gồm các số 00, 10, 20, 30, 40, 50, 60, 70, 80, 90) mỗi số là 20.000 đồng. Tổng là 400.000 đồng, nhưng chỉ lấy 332.000 đồng.
Như vậy, ngày 30/10/2023, tổng số tiền D mua các số lô, số đề của T là 33.095.500 đồng, D đã trả T số tiền thực tế là 31.582.500 đồng. D mua của thủy là 21.700 đồng/1 điểm lô, bán cho H là 21.800 đồng/1 điểm lô, mỗi điểm D hưởng lợi 100 đồng, D hưởng lợi (1115 điểm lô = 111.500 đồng). đề thì 100.000 đồng lấy 83.000 đồng không hưởng lợi đồng nào.
Kết quả mở thưởng thì D trúng:
+ Trúng số lô 74 là 380 điểm, số lô 53 là 15 điểm, số lô 03 về 02 lần là 10 điểm, số lô 09 là 05 điểm, số lô 19 là 20 điểm, số lô 44 là 50 điểm, số lô 99 là 50 điểm, số lô 22 là 05 điểm, số lô 01 về 02 lần là 80 điểm, số lô 50 là 05 điểm, số lô 74 là 05 điểm, số lô 83 về 03 lần là 60 điểm, số lô 19 là 20 điểm, số lô 50 là 20 điểm, số lô 53 là 10 điểm, số lô 03 về 02 lần là 10 điểm, số lô 50 là 10 điểm, số lô 19 là 10 điểm, số lô 44 là 10 điểm, số lô 99 là 05 điểm, số lô 23 là 05 điểm; Tổng là 785 điểm = 62.800.000 đồng.
+ Số đề 84 là 55.000 đồng = 4.400.000 đồng.
Tổng Số tiền D trúng số lô, số đề của T là: 62.800.000 đồng + 4.400.000 đồng = 67.200.000 đồng. (T đã trả D tiền thắng, thua trực tiếp bằng tiền mặt)
Như vậy, tổng số tiền Tổ chức đánh bạc giữa D với T ngày 30/10/2023 là: 33.095.500 đồng + 67.200.000 đồng + 111.500 đồng (số tiền D hưởng lợi) =100.407.000 đồng.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:
- - Thu giữ của Trương Thị H: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno8T, màu tím than, số IMEI 1: 963126062189732, số IMEI 2: 863126062189724.
- - Thu giữ của Nguyễn Thị H1: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A32, màu tím, số IMEI 1: 355870669612282, số IMEI 2: 357848359612281.
- - Thu giữ của Trần Thị D: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, màu xanh ngọc, số IMEI 1: 862173064234877, số IMEI 2: 862173064234869 + số tiền 1.000.000 đồng do bị can D giao nộp, D khai nhận là số tiền đánh bạc.
- - Thu giữ của Nguyễn Thị T: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5, màu đen, số IMEI 1: 863944047909671, số IMEI 2: 863944047909663; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen, số IMEI: 355355081918640 + số tiền 31.000.000 đồng do bị can T giao nộp, T khai nhận là số tiền đánh bạc.
- - Tạm giữ của Hồ Thị T2: số tiền 36.800.000 đồng do bị can T2 giao nộp, T2 khai nhận số tiền này H trúng lô và mua số lô, số đề đánh bạc.
Kết quả trưng cầu giám định:
Ngày 08/12/2023, Cơ quan điều tra Công an thành phố P ra Quyết định trưng cầu giám định số 486/QĐ-ĐCSHS trưng cầu Phòng K1, Công an tỉnh V tiến hành giám định kỹ thuật số điện tử đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A32, màu tím, số IMEI 1: 355870669612282, số IMEI 2: 357848359612281 thu giữ của Nguyễn Thị H1.
Ngày 05/3/2024, Phòng K1, Công an tỉnh V ra Bản kết luận giám định số 594/KL-KTHS kết luận: Không tìm thấy dữ liệu là tin nhắn ứng dụng Zalo giữa tài khoản Zalo có tên là “H” với tài khoản Zalo có tên là “Chị hai” trên điện thoại gửi giám định trong thời gian ngày 30/10/2023.
Ngày 08/12/2023, Cơ quan điều tra Công an thành phố P ra Quyết định trưng cầu giám định số 487/QĐ-ĐCSHS trưng cầu Phòng K1, Công an tỉnh V tiến hành giám định kỹ thuật số điện tử đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, màu xanh ngọc, số IMEI 1: 862173064234877, số IMEI 2: 862173064234869, bên trong lắp sim số thuê bao 0947.071.168 thu giữ của Trần Thị D.
Ngày 05/3/2024, Phòng K1, Công an tỉnh V ra Bản kết luận giám định số 595/KL-KTHS kết luận: Không tìm thấy dữ liệu là tin nhắn ứng dụng Zalo giữa tài khoản Zalo có tên là “Kim D1” với tài khoản Z có tên là “Hai 74” trên điện thoại gửi giám định trong thời gian ngày 30/10/2023.
- Ngày 18/12/2023, Cơ quan điều tra Công an thành phố P có Văn bản số 1093/CV-ĐCSHS gửi đến Ban Thanh tra – Kiểm toán, Tập đoàn C2 (V1) đề nghị cung cấp thông tin về số thuê bao 0363.987.528. Đến ngày 29/01/2024, Cơ quan điều tra Công an thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc đã nhận được Văn bản trả lời của Ban Thanh tra – Kiểm toán, Tập đoàn C2 (V1) xác định chủ thuê bao số 0363.987.528 là Nguyễn Thị T, sinh ngày 29/4/1968, có địa chỉ phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Ngày 18/12/2023, Cơ quan điều tra Công an thành phố P có Văn bản số 1094/CV-ĐCSHS gửi đến V2 đề nghị cung cấp thông tin về số thuê bao 0947.071.168. Đến ngày 31/12/2023, V2 đã có Văn bản trả lời gửi đến Cơ quan điều tra Công an thành phố P xác định chủ thuê bao số 0947.071.168 là Trần Thị D, sinh ngày 04/5/1960, có địa chỉ tổ C, phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc.
Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 102/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị T, Trần Thị D, Trương Thị H phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Hồ Thị T2, Nguyễn Thị H1 phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thị D 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trương Thị H 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hồ Thị T2 01 (Một) năm 07 (Bảy) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H1 01 (Một) năm 05 (Năm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; xử lý vật chứng, quyết định án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 05/10/2024 bị cáo Nguyễn Thị T kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt; ngày 07 và 08/10/2025 các bị cáo Nguyễn Thị H1, Hồ Thị T2, Trương Thị H và Trần Thị D kháng cáo với nội dung xin hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Nguyễn Thị H1, Hồ Thị T2, Trương Thị H và Trần Thị D giữ nguyên nội dung kháng cáo; bị cáo Nguyễn Thị T thay đổi nội dung kháng cáo xin hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Thị T, Trần Thị D, Trương Thị H, Hồ Thị T2 và Nguyễn Thị H1 vì các bị cáo đã tự nguyện nộp xong khoản tiền phạt bổ sung, tiền truy thu và án phí sơ thẩm theo quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị T, Trần Thị D, Trương Thị H, Hồ Thị T2 và Nguyễn Thị H1. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 102/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc theo hướng cho các bị cáo Nguyễn Thị T, Trần Thị D, Trương Thị H, Hồ Thị T2 và Nguyễn Thị H1 được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị T, Trần Thị D, Trương Thị H, Hồ Thị T2 và Nguyễn Thị H1 làm trong thời hạn luật định được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thị T thay đổi nội dung kháng cáo xin hưởng án treo. Yêu cầu thay đổi kháng cáo của bị cáo là hợp pháp nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì, do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung vụ án: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm các bị cáo Nguyễn Thị T, Trần Thị D, Trương Thị H, Hồ Thị T2 và Nguyễn Thị H1 đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo T, D, H, T2 và H1 tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau; phù hợp với vật chứng của vụ án; phù hợp các kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ căn cứ để kết luận vào ngày 30 tháng 10 năm 2023, Nguyễn Thị T, Trần Thị D và Trương Thị H đã có hành vi tổ chức đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề cho Hồ Thị T2 và Nguyễn Thị H1 qua gọi điện thoại và tin nhắn Z. Trong đó tổng số tiền bán số lô, số đề của Nguyễn Thị T và Trần Thị D là 100.407.000 đồng; của Trương Thị H là 111.484.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc bằng hình thức mua số lô số đề của Hồ Thị T2 là 49.840.000 đồng; của Nguyễn Thị H1 là 44.910.000 đồng.
[4] Về tội danh: Với hành vi nêu trên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Thị T, Trần Thị D và Trương Thị H về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Hồ Thị T2 và Nguyễn Thị H1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[5] Xét kháng cáo của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng:
Đối với nhóm bị cáo phạm tội tổ chức đánh bạc: Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với cả ba bị cáo Nguyễn Thị T, Trần Thị D và Trương Thị H; ngoài ra còn áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo D đó là bị cáo D thờ cúng anh trai liệt sỹ là đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo T mức hình phạt 02 năm 09 tháng tù, bị cáo D 02 năm 06 tháng tù và bị cáo H 02 năm 03 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như vai trò phạm tội của từng bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng. Tại phiên tòa phúc thẩm cả ba bị cáo đều xuất trình tài liệu chứng cứ mới thể hiện các bị cáo đã nộp toàn bộ số tiền truy thu, tiền phạt bổ sung và án phí theo quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm. Ngoài ra, bị cáo T và bị cáo H còn có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính duy nhất trong gia đình; bị cáo H là mẹ đơn thân, con còn nhỏ và đang điều trị bệnh u tuyến giáp. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà các bị cáo được hưởng. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng các tình tiết giảm nhẹ nêu trên cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.
Đối với nhóm bị cáo đánh bạc: Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đối với cả hai bị cáo Hồ Thị T2 và Nguyễn Thị H1; ngoài ra còn áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là bị cáo T2 có bố đẻ là thương binh hạng 1/9; bị cáo H1 ra đầu thú là đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo T2 mức hình phạt 01 năm 07 tháng tù và bị cáo H1 01 năm 05 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như vai trò phạm tội của từng bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng. Tại phiên tòa phúc thẩm cả hai bị cáo đều xuất trình tài liệu chứng cứ mới thể hiện các bị cáo đã nộp tiền toàn bộ số tiền truy thu, tiền phạt bổ sung và án phí theo quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà các bị cáo được hưởng. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng các tình tiết giảm nhẹ nêu trên cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.
Trước khi phạm tội các bị cáo T, D, H, T2 và H1 đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng; được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ; các bị cáo đã khắc phục xong toàn bộ số tiền truy thu, tiền phạt bổ sung và án phí theo quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm; các bị cáo đều là phụ nữ, tuổi đã cao, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bản thân các bị cáo là lao động chính nên đáng được khoan hồng. Thấy rằng, hành vi phạm tội của các bị cáo chỉ là nhất thời do thiếu hiểu biết pháp luật, có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự và các bị cáo đều có khả năng tự cải tạo tại địa phương, việc cho các bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn trên địa bàn và cũng không ảnh hưởng đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay. Vì vậy, không cần thiết bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam mà cho các bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định và giao cho chính quyền địa phương nơi thường trú giám sát, giáo dục như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đủ để răn đe, phòng ngừa cũng như tạo điều kiện giúp các bị cáo có cơ hội được tự cải tạo, sửa chữa sai lầm và tiếp tục làm việc để chăm lo cho gia đình là phù hợp.
[6] Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo; sửa bản án sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt theo yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị T, Trần Thị D, Trương Thị H, Hồ Thị T2 và Nguyễn Thị H1.
[7] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm.
[8] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị T, Trần Thị D, Trương Thị H, Hồ Thị T2 và Nguyễn Thị H1. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 102/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về biện pháp chấp hành hình phạt.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị T, Trần Thị D, Trương Thị H phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Hồ Thị T2, Nguyễn Thị H1 phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Thị D 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trương Thị H 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Hồ Thị T2 01 (Một) năm 07 (Bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (Ba) năm 02 (Hai) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H1 01 (Một) năm 05 (Năm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (Hai) năm 10 (Mười) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao các bị cáo Nguyễn Thị T và Trần Thị D cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; các bị cáo Trương Thị H, Hồ Thị T2 và Nguyễn Thị H1 cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thị T, Trần Thị D, Trương Thị H, Hồ Thị T2 và Nguyễn Thị H1 mỗi người phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Xác nhận các bị cáo đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thanh Danh |
Bản án số 23/2025/HS-PT ngày 06/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về tổ chức đánh bạc và đánh bạc
- Số bản án: 23/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T và đồng phạm, phạm tội Tổ chức đánh bạc và đánh bạc
