|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ-TP ĐÀ NẴNG Bản án số: 23/2025/HS-ST Ngày: 06/03/2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Lê Thị Thu Ba. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Trần Minh Tám |
| Ông Lê Hà |
Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Công Hồng Lĩnh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Phạm Thị Lệ T; tên gọi khác: Không, giới tính: Nữ; Sinh ngày: 11/7/1969, tại tỉnh Phú Thọ; Nơi thường trú: Tổ 34, phường Hòa Thuận Tây, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng; Nơi ở hiện nay: 224 Lý Nhân Tông, phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông, trình độ học vấn: Lớp 12/12;
Con ông Phạm Bình M và bà: Hán Thị N, đều đã chết. Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ tư;
Chồng Phan Thanh H (đã ly hôn). Có 02 người con sinh năm 1990.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị thực hiện biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 30/11/2024 tại trại tạm giam Công an thành phố Đà Nẵng. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Ông Nguyễn Đông Q - Sinh năm: 1973 – Địa chỉ: 39 Đào Duy Anh, phường Thạc Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt không có lý do.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Nguyễn Thị Thanh T – Sinh năm: 1971 – Địa chỉ: 08 Phạm Thế Hiển, phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt không có lý do.
2/ Ông Nguyễn Văn L - Sinh năm: 1965 - Địa chỉ: Tổ 5, thôn Giáng Đông, xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
3/ Ông Nguyễn Thúy Q - Sinh năm: 1992 - Địa chỉ: Chung cư An Lộc, phường 17, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 04/4/2022, Phạm Thị Lệ T có nhu cầu thuê xe mô tô để sử dụng làm phương tiện đi lại và tìm trên mạng biết ông Nguyễn Đông Q có kinh doanh dịch vụ cho thuê xe mô tô theo ngày nên liên hệ thuê 01 (một) xe mô tô. Sau khi thỏa thuận, ông Q mang xe mô tô hiệu Honda Lead, màu đen, biển kiểm soát 43D1-350.11 đến giao cho Thu tại địa chỉ 15 Cồn Dầu 9, phường Hoà Xuân, quận Cẩm lệ, thành phố Đà Nẵng rồi ký hợp đồng thuê xe với giá thuê là 80.000đ (tám mươi nghìn đồng)/ngày và thoả thuận miệng thanh toán tiền thuê theo kỳ 10 (mười) ngày một lần. Cùng ngày, do con dâu của T là bà Nguyễn Thuý Q cũng có nhu cầu thuê xe để làm phương tiện đi lại nên T tiếp tục liên hệ ông Q thuê thêm 01 (một) chiếc xe mô tô. Sau đó, T đến nhà ông Q tại 39 Đào Duy Anh, phường Thạc Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng nhận chiếc xe mô tô hiệu Honda Lead, màu đỏ đen, biển kiểm soát 43D1- 815.64 và ký hợp đồng thuê xe với nội dung thỏa thuận tương tự như trên.
Đến tháng 7/2022, do cần tiền tiêu xài cá nhân nên T nảy sinh ý định đem 02 (hai) chiếc xe mô tô của ông Q đi cầm cố để vay tiền. T mang xe Honda Lead, màu đen, biển kiểm soát 43D1-350.11 đến cầm cố cho bà Nguyễn Thị Thanh T vay số tiền 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng). Sau đó, đến ngày 20/7/2022, T tiếp tục mang chiếc xe Honda Lead, màu đỏ đen, biển kiểm soát 43D1-815.64 đến cầm cố cho ông Nguyễn Văn L vay số tiền 8.000.000đ (tám triệu đồng). Số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) vay từ ông L, bà T, T đã tiêu xài cá nhân hết.
Đầu tháng 8/2022, mặc dù đã mang xe cầm cố cho người khác nhưng khi ông Q liên lạc yêu cầu thanh toán tiền thuê thì T vẫn nói với ông Q đang sử dụng hai chiếc xe mô tô trên. T đã trả tiền thuê xe cho ông Q đến hết ngày 15/8/2022. Sau đó, do không có tiền chuộc xe nên T cắt liên lạc với ông Q, bà T và ông L rồi bỏ đi khỏi địa phương. Qua định vị gắn trên xe, ông Q biết được vị trí các chiếc xe mô tô nên tìm đến đòi lại và trình báo cơ quan Công an.
Quá trình điều tra, Phạm Thị Lệ T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
* Vật chứng tạm giữ: 01 (một) xe mô tô Honda Lead màu đen BKS 43D1-350.11, số khung: 085037, số máy: 0141151; 01 (một) xe mô tô Honda Lead màu đỏ - đen BKS 43D1-815.64, số khung: 4517FY868485, số máy: JF45E0935177. Ngày 29/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê đã trả lại cho ông Nguyễn Đông Q theo Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 81/QĐ-CSĐT.
* Tại Bản kết luận định giá tài sản ngày 30/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thanh Khê kết luận:
- - 01 (một) xe mô tô Honda Lead màu đen BKS 43D1-350.11, số khung: 085037, số máy: 0141151, đăng ký lần đầu ngày 28/4/2014 có giá trị: 12.400.000 đồng;
- - 01 (một) xe mô tô Honda Lead màu đỏ - đen BKS 43D1-815.64, số khung: 4517FY868485, số máy: JF45E0935177, đăng ký lần đầu ngày 12/7/2017 có giá trị 19.200.000 đồng.
Tổng giá trị các tài sản trên là 31.600.000 đồng (Ba mươi mốt triệu, sáu trăm nghìn đồng).
* Về trách nhiệm dân sự.
- - Người bị hại Nguyễn Đông Q đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
- - Bà Nguyễn Thị Thanh T yêu cầu T trả lại số tiền 7.000.000 đồng. Ông Nguyễn Văn L yêu cầu T trả lại số tiền 8.000.000 đồng. Hiện nay, bà T, ông L đã nhận đủ số tiền nêu trên và không có yêu cầu gì.
Quá trình điều tra bị cáo Phạm Thị Lệ T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội trên.
Từ những nội dung trên tại Cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Phạm Thị Lệ T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Lệ T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 178, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Thị Lệ Thu từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường và không yêu cầu gì thêm nên không đề cập đến
Tại phiên tòa bị cáo Phạm Thị Lệ T nói lời nói sau cùng Bị cáo đã biết lỗi, hối hận về hành vi của mình và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng (Công an quận Thanh Khê cũ), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng (Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê cũ) Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra, xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo Phạm Thị Lệ T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 04/4/2022 tại địa chỉ 39 Đào Duy Anh, phường Thạc Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, Phạm Thị Lệ T đã thuê 02 (hai) chiếc xe mô tô hiệu Honda Lead, biển kiểm soát 43D1-350.11 và biển kiểm soát 43D1-815.64 của ông Nguyễn Đông Q để sử dụng, tổng giá trị của hai chiếc xe là 31.600.000 đồng. Đến tháng 7/2022, Phạm Thị Lệ T chiếm đoạt 02 chiếc xe này rồi đem đi cầm cố để vay tiền của bà Nguyễn Thị Thanh T và ông Nguyễn Văn L tiêu xài cá nhân.
Như vậy, Cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 20/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thì thấy:
Bị cáo là người có sức khỏe, có việc làm nhưng vì muốn có tiền tiêu xài và trả nợ nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, lợi dụng việc ông Q đã tin tưởng cho bị cáo thuê xe rồi chiếm đoạt tài sản đem đi cầm cố để lấy tiền tiền xài. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội, nên bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với
hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm mục đích răn đe, giáo dục.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Phạm Thị Lệ T đã thực hiện 02 lần hành vi cầm cố xe vào tháng 7/2022 nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng tặng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Phạm Thị Lệ T có thái độ thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải, đã tự nguyện khắc phục hoàn toàn hậu quả cho bị hại, người bị hại ông Nguyễn Đông Q có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cha bị cáo là ông Phạm Bình M được tặng thưởng huân chương chiến công hạng nhì, mẹ bị cáo có thời gian tham gia giao công hỏa tuyến. Nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự khi lượng hình cho bị cáo.
[5] Hình phạt bổ sung: Hiện nay bị cáo việc làm không ổn định, không có tài sản gì nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại đủ số tiền bồi thường và không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không đề cập đến.
[7] Án phí HSST: Bị cáo Phạm Thị Lệ T phải chịu theo quy định của pháp luật.
[8] Vấn đề khác: Đối với Nguyễn Thuý Q được Phạm Thị Lệ T giao xe mô tô biển kiểm soát 43D1-815.64 để sử dụng nhưng không biết việc T chiếm đoạt chiếc xe này mang đi cầm cố cho bà Nguyễn Thị Thanh T để vay tiền nên Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê không xem xét xử lý là có cơ sở.
Đối với bà Nguyễn Thị Thanh T, ông Nguyễn Văn L nhận cầm cố xe mô tô từ Phạm Thị Lệ T nhưng không biết là tài sản do T chiếm đoạt của ông Nguyễn Đông Q và khi có yêu cầu bà T, ông L đã tự nguyện giao nộp nên Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê không xử lý đối với bà T, ông L về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội được mà có là có cơ sở. Tuy nhiên, hành vi “nhận cầm cố tài sản nhưng chưa đăng ký kinh doanh” của bà T, ông L là hành vi vi phạm hành chính nhưng do đã hết thời hiệu xử lý nên CQĐT Công an quận Thanh Khê không đề cập
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, và điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị Lệ T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
2. Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị Lệ T 09 (chín) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” Thời gian chấp hành hình phạt kể từ ngày 30/11/2024.
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy địnhvề mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phạm Thị Lệ T phải chịu với số tiền là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
4. Án xử sơ thẩm, công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 06/03/2024.
Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu Ba |
Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 23/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Lệ T
