|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2025/HS-ST
Ngày 04-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Cường.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Minh Hùng.
2. Ông Hoàng Văn Hùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Tiến Tùng – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm trực tiếp công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 đối với:
Bị cáo: TRẦN VĂN M – Sinh ngày: 11-7-1988 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Sán Chay; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Trần Văn N (Đã chết); Con bà: Đỗ Thị D - Sinh năm: 1961; Vợ: Trần Thị X - Sinh năm: 1989; Con: Có 03 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2024
Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Tốt.
Bị cáo Trần Văn M hiện đang tại ngoại theo Quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn số: 04/2025/HSST ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
- Người đại diện theo pháp luật của bị hại Triệu Vần P (đã chết): Chị Triệu Mùi M1 - Sinh năm: 2002; Địa chỉ: Xóm B, xã T, huyện B, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Văn T – Sinh năm: 1983. Địa chỉ: Thôn Q, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
+ Anh Triệu Quang H – Sinh năm: 1995. Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
+ Anh Nguyễn văn C – Sinh năm: 1981. Địa chỉ: Thôn L, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 06/01/2025, Trần Văn M, cư trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang điều khiển xe ô tô biển số đăng ký 22C-063.46 chở hàng (bình nóng lạnh) từ cửa hàng T1 thuộc thôn Q, xã S, huyện S, đi trả hàng cho các cửa hàng tại xã T, huyện S. Khoảng 10 giờ cùng ngày sau khi trả hàng xong, M điều khiển xe ô tô quay về cửa hàng T1 để tiếp tục lấy hàng đi trả cho các cửa hàng khác, M điều khiển xe ô tô đi ở phần đường bên phải với tốc độ khoảng 50km/h theo đường Quốc lộ 2C hướng tỉnh Tuyên Quang đi tỉnh Vĩnh Phúc, khi đến Km 57+400 Quốc lộ B thuộc thôn T, xã S, huyện S, M quan sát thấy phía trước cùng chiều cách khoảng 15m có một xe ô tô tải biển số đăng ký 22C-056.56 do anh Nguyễn Văn C, cư trú tại thôn L, xã Đ, huyện S điều khiển đi ở phần đường bên phải, đồng thời M phát hiện cách khoảng 20m có xe mô tô biển số đăng ký 21G1- 149.25 do Triệu Vần P, cư trú tại xóm B, xã T, huyện B, tỉnh Cao Bằng điều khiển đi ngược chiều đến, M bật xi nhan trái điều khiển xe ô tô đi sang phần đường bên trái, tăng tốc độ để vượt xe, khi xe ô tô do M điều khiển vượt đến ngang giữa thân xe ô tô tải do anh C điều khiển, lúc này xe mô tô do P điều khiển đi ngược chiều đến cách đầu xe ô tô do M điều khiển khoảng 02m. Do xe ô tô M điều khiển đi nhanh chiếm hết hoàn toàn phần đường của xe mô tô do P điều khiển, bị bất ngờ xe mô tô do P điều khiển bị đổ ra đường văng vào má lốp trước bên trái, P ngã ra đường bị bánh trước bên phải xe ô tô do M điều khiển cán qua người.
Hậu quả: Anh Triệu Vần P chết tại chỗ, xe mô tô bị hư hỏng.
Biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 11 giờ 10 phút ngày 06/01/2025 tại Km 57+400, Quốc lộ B, thuộc thôn T, xã S, huyện S, thể hiện: Khám nghiệm theo hướng Vĩnh Phúc đi Tuyên Quang. Lòng đường nơi xảy ra tai nạn rộng 7,93m, lề đường bên phải rộng 40cm, lề đường bên trái rộng 50cm. Tầm nhìn về 02 phía không bị hạn chế. Lấy mép ngoài vạch sơn màu trắng liền nét bên phải đường làm mép chuẩn để đo vuông góc đến các vị trí dấu vết. Vị trí số 01 (xác định là vị trí va chạm đầu tiên) là vùng vết cày trượt mặt đường đứt quãng dài 12,50m, rộng 95cm, sâu 0,3cm hướng Vĩnh Phúc đi Tuyên Quang, tâm đầu vùng vết cách mép chuẩn 1,60cm, cuối vùng vết trùng với đầu để chân trước bên trái của xe mô tô biển số 21G1-149.25.
Biên bản kiểm tra nồng độ cồn hồi 10 giờ 25 phút, ngày 06/01/2025 tại Km57+400 Quốc lộ B, thuộc thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang đối với Trần Văn M, không có nồng độ cồn.
Biên bản xét nghiệm tìm chất ma tuý hồi 06 giờ 30 phút ngày 07/01/2025 tại Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang đối với Trần Văn M, âm tính với chất ma tuý.
Tại Kết luận giám định tử thi số 145/KL-KTHS ngày 14-01-2025 của Phòng K Công an tỉnh T đối với tử thi T2 kết luận:
- - Các kết quả chính: Kết quả khám nghiệm:
- + Vùng mặt, ngực, bụng, lưng, hai tay, hai chân có các vết bầm tím, sây sát, rách da.
- + Chấn thương 1/3 dưới xương tay phải.
- + Chấn thương đè ép ngực, bụng: Ngực biến dạng, bên phải thấp hơn so với bên trái. Các xương sườn hai bên gãy phức tạp ở nhiều vị trí. Khoang ngực hai bên chứa nhiều máu loãng lẫn cục máu đông, sống lượng khoảng 1800 gram. Hai phổi xẹp, xung huyết; bề mặt hai phổi có các vết dập, rách nhu mô. Khí phế quản xung huyết, trong lòng chứa dịch bọt màu hồng. Khoang màng ngoài tim rách. Tim kích thước bình thường, bề mặt thượng tâm mạc xung huyết, buồng tim không có máu. Ổ bụng chứa nhiều máu loãng lẫn cục máu đông, số lượng khoảng 1200 gram. Gan dập, vỡ nhu mô nham nhở thành nhiều mảnh. Mạc treo và một số quai ruột bầm dập, tụ máu.
- - Kết quả xét nghiệm, giám định khác:
- + Test nhanh HIV, HBsAg, HCV với máu tử thi cho kết quả âm tính.
- + Vi thể:
- Tim: Xung huyết.
- Phổi: Đụng dập, chảy máu nhu mô phổi.
- Gan: Hồng cầu tự do trong nhu mô gan.
- Kết quả khác: Không.
- Kết luận: Nguyên nhân chết: Mất máu cấp do chấn thương đè ép ngực, bụng.
- Kết luận khác:Vị trí, đặc điểm thương tích trên thân thể đã mô tả ở trên.
- + Cơ chế gây thương tích: Các thương tích trên tử thi Triệu Vần P do bị va đập, tì nén, đè ép trực tiếp với vật tày có khối lượng lớn gây ra.
Kết luận giám định mô bệnh học (vi thể) số 147/KL-KTHS ngày 13-01-2025 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Tim: Xung huyết. Phổi: Đụng dập, chảy máu nhu mô phổi. Gan: Hồng cầu tự do trong nhu mô gan.
Tại Kết luận giám định số 149/KL-KTHS ngày 14-01-2025 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu máu của tử thi Triệu Vần P không có cồn (Ethanol).
Tại Kết luận giám định số 150/KL-KTHS ngày 14-01-2025 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Không tìm thấy các chất ma túy thường gặp trong mẫu máu của tử thi Triệu Vần P.
Tại Kết luận giám định số 169/KL-KTHS ngày 23-01-2025 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:
- + Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong tệp tin video gửi giám định.
- + Vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện thuộc phần đường bên phải theo hướng di chuyển của xe mô tô (hoặc xe gán máy). Vị trí va chạm giữa xe ô tô và người điều khiển xe mô tô (hoặc xe gán máy) thuộc phần đường bên phải theo hướng di chuyển của xe mô tô (hoặc xe gán máy). Diễn biến sự việc, chiều hướng di chuyển của các phương tiện liên quan đến tai nạn được thể hiện chi tiết trong bản ảnh giám định kèm theo.
Kết luận giám định số 168/KL-KTHS ngày 23-01-2025 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:
- + Vết tì trượt kim loại tại đầu tay nắm lái bên phải và vết gãy tại đầu tay phanh bên phải xe mô tô biển số 21G-149.25 hình thành do va chạm với các dấu vết mài miết, trượt xước nhựa tại mặt trước bên trái ba đờ sốc trước đầu ô tô biển số 22C-063.46 tạo lên là phù hợp. Vét mài miết, trượt xước tại mặt trước chắn bùn bánh trước xe mô tô biển số 21G1-149.25 hình thành do va chạm với dấu vết mài miết, trượt xước, mất bụi tại vị trí tương ứng dòng chữ “SAFETY” tại má ngoài lốp trước bên trái xe ô tô biển số 22C-063.46 tạo lên là phù hợp.
- + Vị trí va chạm đầu tiên trên hiện trường giữa xe mô tô biển số 21G1-149.25 và xe ô biển biển số 22C-063.46 tại phía trước điểm đầu vùng vết cày đứt quãng và thuộc phần đường bên phải theo hướng Vĩnh Phúc đi Tuyên Quang là phù hợp.
Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 22-01-2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S kết luận, giá trị thiệt hại của xe mô tô, nhãn hiệu HONDA, biển số 21G1-149.25 màu sơn đen xanh là 1.220.000 đồng (Một triệu hai trăm hai mươi nghìn đồng).
Kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 22-01-2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S kết luận, giá trị thiệt hại của xe ô tô nhãn hiệu ISUZU, biển số 22C-063.46 màu sơn trắng là 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng).
Tại cáo trạng số: 28/CT-VKS ngày 11 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Văn M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang thực hành quyền công tố, có quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Văn M. Đưa ra chứng cứ đánh giá mức độ hành vi phạm tội và thái độ thành khẩn khai báo của bị cáo cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đề nghị với HĐXX:
Về tội danh: Tuyên bị cáo Trần Văn M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn M từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Trần Văn M về Ủy ban nhân dân Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm về phần trách nhiệm dân sự. Do vậy, không đề nghị HĐXX xem xét, giải quyết.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng:
- - 01 mũ bảo hiểm thu của tử thi Triệu Vần P.
- - 01 quần bò màu xám thu của tử thi Triệu Vần P.
- - 01 quần đùi tối màu thu của tử thi Triệu Vần P.
- - 01 áo khoác màu đen thu của tử thi Triệu Vần P.
- - 01 áo phông cộc tay màu đen thu của tử thi Triệu Vần P.
- - 01 áo nỉ dài tay màu đen thu của tử thi Triệu Vần P.
(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 25/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang).
Về án phí và quyền kháng cáo: Theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo Trần Văn M nhất trí với quan điểm của Kiểm sát viên đưa ra tại phiên tòa.
Quyền của bị cáo được nói lời sau cùng: Bị cáo Trần Văn M đã nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo rất ân hận về hành vi của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo để được hòa nhập với gia đình, cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo khai phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 06/01/2025 tại Km 57+400 Quốc lộ B thuộc thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Trần Văn M, cư trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô biển số đăng ký 22C-063.46 theo hướng tỉnh Tuyên Quang đi tỉnh Vĩnh Phúc, khi vượt xe ô tô đi phía trước cùng chiều không đảm bảo các điều kiện về an toàn (vượt khi có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt) đã xảy ra va chạm với xe mô tô biển số đăng ký 21G1- 149.25 do Triệu Vần P, cư trú tại xóm B, xã T, huyện B, tỉnh Cao Bằng điều khiển đi ngược chiều. Hậu quả Triệu Vần P chết tại chỗ.
Bị cáo Trần Văn M là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo không tuân thủ đúng quy định khi tham gia giao thông đường bộ và vi phạm vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 14 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 (vượt khi có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt) dẫn đến xảy ra tai nạn, với lỗi vô ý, hậu quả chết một người. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến an toàn và sự hoạt động bình thường của các phương tiện tham gia giao thông đường bộ được pháp luật hình sự bảo vệ. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Trần Văn M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 như Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt khi lượng hình theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[3] Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Văn M không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Trần Văn M có nghề nghiệp chính là lái xe; sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi của mình; việc tiếp tục cho bị cáo làm công việc lái xe không gây nguy hại cho xã hội hoặc không tạo điều kiện cho bị cáo phạm tội mới nên HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Tính chất và mức độ của hành vi phạm tội: Tai nạn giao thông là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội. Nhà nước và địa phương thường xuyên tuyên truyền các quy định của Luật Giao thông đường bộ trên các phương tiện thông tin đại chúng. Hành vi bị cáo không không tuân thủ đúng quy định khi tham gia giao thông gây tai nạn, dẫn đến hậu quả làm chết một người là nguy hiểm cho xã hội. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết lên mức án phù hợp với tính chất, mức độ và hậu quả mà bị cáo đã gây ra để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm này nhằm hạn chế tối đa tai nạn giao thông theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Trần Văn M có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, địa chỉ cư trú rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, HĐXX nhận thấy không cần dùng biện pháp cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo theo khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự và Điều 2 Văn bản hợp nhất số: 02/VBHP-TANDTC ngày 07-9-2022 của Tòa án nhân dân tối cao là phù hợp và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Văn M đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại Triệu Vần P số tiền 215.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm gì về phần trách nhiệm dân sự. Do vậy, HĐXX không xem xét, giải quyết.
[7] Về vật chứng:
- - Ngày 16-01-2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang đã trả lại 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu ISUZU, số loại NPR85KE4, loại xe tải thùng kín, màu sơn trắng, biển số đăng ký 22C-063.46, số khung: R85KJV100640, số máy: 3R09414JJ1, xe cũ đã qua sử dụng cho anh Lê Văn T là chủ sở hữu hợp pháp.
- - Ngày 16-01-2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang đã trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WINNERX, màu sơn Đen Xanh, biển số đăng ký 21G1-149.25, số máy: KC34E1083962, số khung: 3703KY041248, xe cũ đã qua sử dụng bị hư hỏng do tai nạn cho chị Triệu Mùi M1 là người đại diện cho bị hại Triệu Vần P.
- - Ngày 25-02-2025, Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đã trả lại giấy phép lái xe hạng A2 số [...] mang tên Triệu Vần P; giấy chứng nhận đăng ký số 009703 của xe mô tô biển số 21G1-149.25 cho chị Triệu Mùi M1 là người đại diện cho bị hại Triệu Vần P.
- - Ngày 04-3-2025, Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đã trả lại: 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] mang tên Trần Văn M; 01 giấy chứng nhận đăng ký số 014362 của xe ô tô biển số 22C-063.46; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô biển số 22C-063.46; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe ô tô biển số 22C-063.46 cho bị cáo Trần Văn M. Các tài sản trên đã được trả lại cho chủ sở hữu và đại diện hợp pháp của chủ sở hữu.
Chủ sở hữu và đại diện hợp pháp của chủ sở hữu không có ý kiến đề nghị gì đối với những tài sản trên. Do vậy, HĐXX xem xét, giải quyết.
- Đối với 01 mũ bảo hiểm, 01 quần bò màu xám, 01 quần đùi tối màu, 01 áo khoác màu đen, 01 áo phông cộc tay màu đen, 01 áo nỉ dài tay màu đen của tử thi Triệu Vần P. HĐXX xét thấy đây là các vật chứng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn M phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, khoản 1 Điều 23 theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 “quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
[9] Quyền kháng cáo: Bị cáo; Người đại diện của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
[10] Về hành vi tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, HĐXX nhận thấy Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên đã thực hiện hành vi, quyết định tố tụng về khởi tố vụ án, khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn với bị cáo, ra quyết định truy tố; thu thập chứng cứ tài liệu, vật chứng đã khách quan, phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Về tội danh và hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Trần Văn M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm, tính từ ngày tuyên án (ngày 04-3-2025).
Giao bị cáo Trần Văn M về Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính Quyển địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó. Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị sử dụng:
- - 01 mũ bảo hiểm thu của tử thi Triệu Vần P.
- - 01 quần bò màu xám thu của tử thi Triệu Vần P.
- - 01 quần đùi tối màu thu của tử thi Triệu Vần P.
- - 01 áo khoác màu đen thu của tử thi Triệu Vần P.
- - 01 áo phông cộc tay màu đen thu của tử thi Triệu Vần P.
- - 01 áo nỉ dài tay màu đen thu của tử thi Triệu Vần P.
(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 25/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, khoản 1 Điều 23 theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 “Quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”. Buộc bị cáo Trần Văn M phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo Trần Văn M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 04-3-2025).
Người đại diện theo pháp luật của bị hại Triệu Vần P là chị Triệu Mùi M1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T-M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Việt Cường |
Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự)
- Số bản án: 23/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
