|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 23/2025/HS-ST Ngày: 03-3-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO-TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thanh Sơn
- Các Hội thẩm nhân dân:
- -Bà Phạm Thị Ngọc Vân
- -Bà Bùi Thị Thu Nhi
- - Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thoảng–Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Nguyễn Minh N- Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án xét xử số 09/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2025/HSST- QĐ ngày 24/02/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: CAO THỊ HỒNG P1; Giới tính: Nữ
-Sinh ngày 28/8/1992, tại tỉnh Tiền Giang.
-Căn cước công dân số: [...]; cấp ngày 20/8/2021; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội -Bộ C.
- Tên gọi khác: Không
Nơi cư trú và chổ ở: Số A Đ phường H(Nay là phường B), thành phố M, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Bán vé số; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Cao Thanh H, sinh năm 1970 và bà Trần Thị Thu T, sinh năm 1969; Bị cáo có chồng tên Phan Văn H1, sinh năm 1987 và 03 người con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền sự: không; Tiền án: không
Bị cáo tại ngoại (Có mặt tại phiên tòa)
*Người bị hại:
- Anh Lê Hồng P, sinh năm 1991(Vắng mặt)
- Nơi cư trú: Số F N, khu phố G, phường H(nay là phường B), thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Tắc Minh T1, sinh năm 1966(Vắng mặt)
- Anh Nguyễn Phước T2, sinh năm 1991(Vắng mặt)
- Anh Nguyễn Thanh Vũ H2, sinh năm 1994(Vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị Bé N1, sinh năm 1979(Vắng mặt)
- Ông Trần Minh T3, sinh năm 1957(Vắng mặt)
- Bà Huỳnh Thị H3, sinh năm 1971(Vắng mặt)
- Chị Trần Thị Thanh T4, sinh năm 1987(Vắng mặt)
Nơi cư trú: Số F N, khu phố G, phường H(nay là phường B), thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Nơi cư trú: Số A Đ, phường H(nay là phường B), thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Nơi cư trú: khu phố B, phường I, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Nơi cư trú: Ấp Bình Tịnh, xã Bình Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Chỗ ở: ấp Bình Lợi, xã Tân Mỹ Chánh, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
Nơi cư trú: Số H ấp M, xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Nơi cư trú: Số A Đ, phường H(nay là phường B), thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Nơi cư trú: ấp 2, xã Đạo Thạnh, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
Chỗ ở: Số 12/2C Đinh Bộ Lĩnh, phường 8 (nay là phường 2), thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
* Người làm chứng:
- Chị Nguyễn Thị Bích T5, sinh năm 1999(Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị T6, sinh năm 1966(Vắng mặt)
- Bà Trần Thị Thu T, sinh năm 1969(Vắng mặt)
Nơi cư trú: Số A Đ, phường H(nay là phường B), thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Nơi cư trú: Số A Đ, phường H(nay là phường B), thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Nơi cư trú: Số A Đ, khu phố D, phường H(nay là phường B), thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do quen biết, Cao Thị Hồng P1 thường xuyên đến nhà bà Tắc Minh T1, sinh năm 1966, cư trú số F, khu phố G, Phường B(Phường H cũ), thành phố M, tỉnh Tiền Giang chơi nên P1 biết được nơi bà T1 cất giấu tiền. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 06/9/2024, bà T1 đến nhà P1 tại số A Đ, Phường B(Phường H cũ), thành phố M để trò chuyện với bà Trần Thị Thu T, sinh năm 1969 là mẹ ruột và cư trú cùng địa chỉ với P1. Khi đến, bà T1 có để xâu chìa khóa (gồm 01 chia khóa cửa nhà, 02 chìa khóa xe máy, 02 chìa khóa tủ, 01 chìa khóa nhà nấm) trên thùng xốp nên P1 này sinh ý định vào nhà bà T1 trộm tài sản. Lợi dụng lúc bà T1 không để ý, P1 lấy xâu chìa khóa rồi điều khiển xe đạp điện nhãn hiệu BMX màu đen chạy đến nhà bà T1 mở cửa chính đi vào trong phòng ngủ lấy cắp số tiền 14.000.000 đồng (gồm 28 tờ mệnh giá 500.000 đồng) của anh Lê Hồng P, sinh năm 1991 là con ruột và cư trú cùng địa chỉ với bà T1 gửi bà T1 cất giữ dùm bỏ vào túi đeo chéo P1 đang mang trên người quay trở về nhà, để lại xâu chìa khóa vào chỗ cũ rồi đi bán vé số. Số tiền lấy cắp được P1 đã trả nợ cho 06 người với tổng số tiền 5.100.000 đồng, số tiền còn lại P1 tiêu xài cá nhân hết. Sau đó, anh P phát hiện bị mất số tiền trên nên tố giác đến cơ quan Công an.
Vật chứng thu giữ trong vụ án:
- - 01 xe đạp điện nhãn hiệu BMX màu đen đặc điểm xe bánh mâm, không rỗ để đồ trước yên sau màu đen, carte màu trắng tình trạng xe sử dụng bình thường.
- - 01 túi xách mang màu tím cà dài khoảng 18cm, rộng khoảng 16cm, đáy cao khoảng 08cm nhãn hiệu JELSHI.
- - 01 áo màu tím lợt có mũ theo áo dạng áo khoát tay dài không nhãn hiệu.
- - 01 quần dài màu xám không nhãn hiệu.
- - 01 đôi dép kẹp màu vàng không nhãn hiệu.
- - Dữ liệu điện tử: 01 đĩa CD bên trong có chứa đoạn video, ghi hình liên quan đến vụ mất trộm tài sản xảy ra tại địa chỉ F N, Khu phố G, Phường B (Phường H cũ), thành phố M, tỉnh Tiền Giang (chuyển trong hồ sơ vụ án).
Tại bản cáo trạng số 07/CT- VKS- HS ngày 06/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Cao Thị Hồng P1 về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như cáo trạng, phân tích các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm.
*Về vật chứng đề nghị tuyên:
- -Tịch thu tiêu hủy đồ dùng cá nhân của bị cáo không còn giá trị sử dụng gồm:
- +01 túi xách mang màu tím cà dài khoảng 18cm, rộng khoảng 16cm, đáy cao khoảng 08cm nhãn hiệu JELSHI.
- + 01 áo màu tím lợt có mũ theo áo dạng áo khoát tay dài không nhãn hiệu.
- + 01 quần dài màu xám không nhãn hiệu.
- + 01 đôi dép kẹp màu vàng không nhãn hiệu.
- - Đối với xe đạp điện nhãn hiệu BMX màu đen mà P1 sử dụng để đi trộm cắp tài sản là của anh Nguyễn Phước T2, sinh năm 1991, cư trú số A Đ, Phường B (Phường H cũ), thành phố M, tỉnh Tiền Giang cho mượn làm phương tiện đi lại. Anh T2 không biết bị cáo sử dụng xe để đi trộm cắp tài sản và yêu cầu được nhận lại xe nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh T2 là có cơ sở. Đề nghị ghi nhận.
- *Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường số tiền 14.000.000 đồng cho bị hại Lê Hồng P. Anh P đã nhận lại tiền và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Đề nghị ghi nhận
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Cao Thị Hồng P1 khai nhận: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 06/9/2024, bà T1 đến nhà bị cáo tại số A Đ, Phường B (Phường H cũ), thành phố M để trò chuyện với bà Trần Thị Thu T, sinh năm 1969 là mẹ ruột và cư trú cùng địa chỉ với bị cáo. Khi phát hiện bà T1 có để xâu chìa khóa (gồm 01 chia khóa cửa nhà, 02 chìa khóa xe máy, 02 chìa khóa tủ, 01 chìa khóa nhà nấm) trên thùng xốp nên bị cáo này sinh ý định vào nhà bà T1 lấy cắp tài sản. Lợi dụng lúc bà T1 không để ý, bị cáo lấy xâu chìa khóa rồi điều khiển xe đạp điện nhãn hiệu BMX màu đen chạy đến nhà bà T1 mở cửa chính đi vào trong phòng ngủ trộm số tiền 14.000.000 đồng (gồm 28 tờ mệnh giá 500.000 đồng) của anh Lê Hồng P, sinh năm 1991 (là con ruột và cư trú cùng địa chỉ với bà T1 gửi bà T1 cất giữ dùm) bỏ vào túi đeo chéo bị cáo đang mang trên người quay trở về nhà, để lại xâu chìa khóa vào chỗ cũ rồi đi bán vé số. Số tiền chiếm đoạt được bị cáo đã trả nợ cho 06 người với tổng số tiền 5.100.000 đồng, số tiền còn lại bị cáo tiêu xài cá nhân hết.Với thời gian, phương thức, thủ đoạn, phương tiện thực hiện tội phạm và vật chứng bị thu giữ đúng như nội dung bản cáo trạng truy tố đối với bị cáo.
[3] Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, những người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của anh Lê Hồng P là 14.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận, bị cáo phạm tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, tác động xấu đến tình hình trật tự và an toàn xã hội ở địa phương nơi xảy ra vụ án. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng với ý thức tham lam. Vì muốn có tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân bị cáo đã thực hiện tội phạm, thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, cố ý chiếm đoạt tài sản của người khác để phục vụ nhu cầu cá nhân. Vì vậy cần xét xử bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội và răn đe giáo dục phòng ngừa chung, ngăn chặn việc phát sinh tội phạm này đang có chiều hướng gia tăng trên địa bàn dân cư.
[5] Tuy nhiên xét thấy bị cáo đã khắc phục bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho người bị hại, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được áp dụng tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Không cần thiết cách ly bị cáo với xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt sau này.
[6] Đối với các khoản tiền bị cáo đã trả nợ cho bà Tắc Minh T1, anh Nguyễn Thanh Vũ H2, chị Nguyễn Thị Bé N1, ông Trần Minh T3, bà Huỳnh Thi H4, chị Trần Thị Thanh T4 từ nguồn tiền bị cáo chiếm được của anh P. Tuy nhiên bị cáo đã khắc phục hậu quả trả lại toàn bộ số tiền cho anh P. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng:
- -01 túi xách mang màu tím cà dài khoảng 18cm, rộng khoảng 16cm, đáy cao khoảng 08cm nhãn hiệu JELSHI bị cáo sử dụng đựng tiền chiếm doạt của anh P là vật chứng của vụ án; 01 áo màu tím lợt có mũ theo áo dạng áo khoát tay dài không nhãn hiệu; 01 quần dài màu xám không nhãn hiệu; 01 đôi dép kẹp màu vàng không nhãn hiệu là tư trang cá nhân bị cáo, bị cáo không yêu cầu nhận lại, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với xe đạp điện nhãn hiệu BMX màu đen mà bị cáo sử dụng để đi trộm cắp tài sản là của anh Nguyễn Phước T2, sinh năm 1991, ngụ số A Đ, Phường B (Phường H cũ), thành phố M, tỉnh Tiền Giang cho bị cáo mượn làm phương tiện đi lại. Anh T2 không biết bị cáo sử dụng xe để đi trộm cắp tài sản và yêu cầu được nhận lại xe nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh T2 là có cơ sở.Hội đồng xét xử ghi nhận ghi nhận.
- - Dữ liệu điện tử: 01 đĩa CD bên trong có chứa đoạn video, ghi hình liên quan đến vụ mất trộm tài sản xảy ra tại địa chỉ F N, Khu phố G, Phường B (Phường H cũ), thành phố M, tỉnh Tiền Giang (chuyển trong hồ sơ vụ án). Cần tiếp tục lưu giữ hồ sơ vụ án.
[8].Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường số tiền 14.000.000 đồng cho người bị hại anh Lê Hồng P. Anh P đã nhận lại tiền và không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự. Hội đồng xét xử ghi nhận.
[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Cao Thị Hồng P1 phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ điểm khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.
-Căn cứ Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
Xử phạt bị cáo Cao Thị Hồng P1 01 (một) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 03/3/2025.
Giao bị cáo Cao Thị Hồng P1 cho chính quyền địa phương Ủy ban nhân dân phường B, thành phố M, tỉnh Tiền Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì việc giám sát giáo dục bị cáo được thực hiện theo qui định tại Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
* Về trách nhiệm dân sự:
- - Ghi nhận người bị hại anh Lê Hồng P đã nhận lại số tiền 14.000.000(Mười bốn triệu) đồng không yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp về dân sự.
*Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- -Tịch thu tiêu hủy: 01 túi xách mang màu tím cà dài khoảng 18cm, rộng khoảng 16cm, đáy cao khoảng 08cm, dây đeo có chữ JELSHI bên trong không chứa vật gì, đã qua sử dụng; 01 áo màu tím lợt có mũ theo áo dạng áo khoát tay dài không nhãn hiệu; 01 quần dài màu xám không nhãn hiệu; 01 đôi dép kẹp màu vàng không nhãn hiệu.
- - Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M, tỉnh Tiền Giang đã trao trả cho anh Nguyễn Phước T2 01 xe đạp điện nhãn hiệu BMX màu đen
- - Tiếp tục lưu giữ hồ sơ vụ án dữ liệu điện tử: 01 đĩa CD bên trong có chứa đoạn video, ghi hình liên quan đến vụ mất trộm tài sản xảy ra tại địa chỉ F N, Khu phố G, Phường B (Phường H cũ), thành phố M, tỉnh Tiền Giang (chuyển trong hồ sơ vụ án).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13.01.2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang).
(Theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 02/12/2024)
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ bản án được Tòa án tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGÔ THANH SƠN |
Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO-TỈNH TIỀN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 23/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO-TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cao Thị Hồng P1 - Trộm cắp tài sản
