|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 28/02/2025
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Đình Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Lan.
2. Bà Nguyễn Thị Huệ.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Thiện - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang không tham gia phiên tòa (Theo công văn số 02 ngày 12/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang).
Trong ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 412/2024/TLST-HNGĐ, ngày 23/12/224 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/01/2025; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 153/2025/TB-TA ngày 14/02/2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1974
Địa chỉ: SN F, TDP G, phường D, thành phố B.
* Bị đơn: Chị Phan Thị Bằng G, sinh năm 1975
Địa chỉ: Đường T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng.
(Anh Dũng, chị G đều có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ghi ngày 04 tháng 12 năm 2024, bản tự khai nguyên đơn là anh Nguyễn Văn D trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Năm 1998, sau một thời gian tìm hiểu, được sự nhất trí của 2 bên gia đình. Anh và chị G có tổ chức lễ cưới theo truyền thống địa phương và về chung sống với nhau như vợ chồng. Ngày 23/11/2009, anh và chị Phan Thị Bằng G có đăng ký kết hôn tại UBND phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2021, anh chị phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân. Từ khi ly thân, anh chị không hỏi han, quan tâm, chăm sóc gì đến nhau. Thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh đề nghị Tòa án cho anh được ly hôn với chị Phan Thị Bằng G.
- Về con chung: anh và chị G có 02 con chung là cháu Nguyễn Phan Khánh V, sinh ngày 25/7/1999 và cháu Nguyễn Phan Bảo N, sinh ngày 26/10/2009. Đối với cháu Nguyễn Phan Khánh V đã trưởng thành anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi vợ chồng ly hôn, anh có nguyện vọng Tòa án giao cháu N cho chị G là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Dũng tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu N với mức 01 triệu/tháng kể từ tháng 01 năm 2025 cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung và công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Chị Phan Thị Bằng G là bị đơn trình bày: Về thời điểm chung sống, thời điểm đăng ký kết hôn và con chung chị G trình bày như anh D đã trình bày. Chị G xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn với anh Nguyễn Văn D. Về con chung: Chị đồng ý là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phan Bảo N. Về mức cấp dưỡng: Chị đồng ý với mức cấp dưỡng mà anh D trình bày.
- Về tài sản chung và công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Anh Nguyễn Văn D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, con chung với chị Phan Thị Bằng G. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, cụ thể là tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Anh Nguyễn Văn D và chị Phan Thị Bằng G có biên bản thỏa thuận lựa chọn Tòa án giải quyết việc ly hôn là Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
Anh Nguyễn Văn D cư trú tại phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn đều xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định xét xử vụ án vắng mặt đương sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, anh D và chị G có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường D, thành phố B ngày 23/11/2009. Do vậy, Hôn nhân của anh D và chị G phù hợp quy định pháp luật được coi là vợ chồng, hôn nhân hợp pháp.
Hội đồng xét xử xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng: Anh Dũng khởi kiện xin ly hôn chị G. Chị G đồng ý ly hôn anh D. Như vậy, mâu thuẫn giữa vợ chồng anh D và chị G đến nay đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Anh D1 và chị G có 02 con chung là cháu Nguyễn Phan Khánh V, sinh ngày 25/7/1999 và cháu Nguyễn Phan Bảo N, sinh ngày 26/10/2009. Đối với cháu Nguyễn Phan Khánh V đã trưởng thành anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi vợ chồng ly hôn, anh có nguyện vọng Tòa án giao cháu N cho chị G là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Dũng tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu N với mức 01 triệu/tháng kể từ tháng 01 năm 2025 cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi. Chị G đồng ý với quan điểm trình bày về giao con chung và mức cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy: Hiện nay cháu N đang sinh sống cùng với chị G tại Phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng và cháu N có nguyện vộng được sống chung cùng với chị G nên cần giao cháu Nguyễn Phan Bảo N cho chị G là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh Dũng tự nguyện cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Phan Bảo N mỗi tháng 1.000.000 đồng. Thời hạn cấp dưỡng từ tháng 01/2025 cho đến khi cháu Bảo N đủ 18 tuổi.
[2.3] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Không đương sự nào yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Anh Nguyễn Văn D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 217; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn D được ly hôn chị Phan Thị Bằng G.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Phan Bảo N, sinh ngày 26/10/2009 cho chị Phan Thị Bằng G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Sau khi ly hôn anh D không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm non con chung không ai được cản trở anh D thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện vụ án khác về thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc vụ án thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định.
+ Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh Dũng tự nguyện cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Phan Bảo N mỗi tháng 1.000.000 đồng. Thời hạn cấp dưỡng từ tháng 01/2025 cho đến khi cháu Bảo N đủ 18 tuổi.
- Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Anh Nguyễn Văn D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0002244 ngày 20/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang. Anh D1 còn phải tiếp tục thi hành án số tiền 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
- Về quyền kháng cáo:
- Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Dương Đình Hưng |
Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 23/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh D xin ly hôn chị Gi
