Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/HS-ST

Ngày 28 tháng 02 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Tuấn Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vi Văn Định
Ông Nguyễn Bá Điền

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Mã Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/ QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: LÊ VĂN T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;
    Sinh ngày 23 tháng 4 năm 1993 tại thị xã P, tỉnh Phú Thọ;
    Nơi thường trú: Khu A, xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ;
    Nơi ở trước khi bị bắt: Phòng 301, Nhà nghỉ 1990, khu A, xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ;
    Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Công giáo;
    Nghề nghiệp: Lao động tự do;
    Đoàn thể, đảng phái: Không;
    Trình độ học vấn: Lớp 8/12;
    Bố đẻ: Lê Cu B, đã chết;
    Mẹ đẻ: Trần Thị T1, sinh năm 1970;
    Vợ: Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1995;
    Chỗ ở: Xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ;
    Con: Có 01 con, sinh năm 2023;
    Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2016/HSST ngày 10/3/2016 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xử phạt Lê Văn T 07 năm tù, tịch thu 1.500.000 đồng, án phí 200.000 đồng về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 07/6/2016 T nộp án phí 200.000 đồng và tịch thu 1.500.000 đồng, T chấp hành xong án phạt tù ngày 24/5/2021.
    Tiền sự: Không.
    Bị cáo bị bắt từ ngày 24/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P (có mặt);
  2. Họ và tên: VŨ THỊ HỒNG N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ;
    Sinh ngày 10 tháng 10 năm 1985 tại thành phố N, tỉnh Nam Định;
    Nơi thường trú: Khu đô thị T, phường M, quận H, thành phố Hà Nội;
    Nơi ở trước khi bị bắt: Số D, ngõ G N, phường N, quận Đ, TP ..
    Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;
    Nghề nghiệp: Lao động tự do;
    Đoàn thể, đảng phái: Không;
    Trình độ học vấn: Lớp 12/12;
    Bố đẻ: Vũ Xuân N, sinh năm 1959;
    Mẹ đẻ: Ngô Thị Hồng G, sinh năm 1963;
    Chồng: Trần Việt T2, đã chết;
    Con: Có 01 con, sinh năm 2010;
    Tiền án, tiền sự: Không;
    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/9/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P (có mặt);
  3. Họ và tên: ĐẶNG VĂN D1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;
    Sinh ngày 26 tháng 6 năm 1996 tại huyện H, tỉnh Thái Bình;
    Nơi thường trú: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình;
    Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;
    Nghề nghiệp: Lao động tự do;
    Đoàn thể, đảng phái: Không;
    Trình độ học vấn: Lớp 9/12;
    Bố đẻ: Đặng Văn C (tên khác Đặng Quang C1), sinh năm 1968;
    Mẹ đẻ: Trần Thị T3, sinh năm 1968;
    Vợ: Hà Thị L, sinh năm 1997;
    Con: Có 01 người con, sinh năm 2023;
    Tiền án, tiền sự: Không;
    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/9/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P (có mặt);
  4. Họ và tên: NGUYỄN HOÀNG H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;
    Sinh ngày 11 tháng 4 năm 1997 tại tỉnh Yên Bái;
    Nơi thường trú: Tổ B, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái;
    Nơi ở trước khi bị bắt: Số nhà I, xóm B, thôn Đ, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội;
    Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không;
    Nghề nghiệp: Lao động tự do;
    Đoàn thể, đảng phái: Không;
    Trình độ học vấn: Lớp 7/12;
    Bố đẻ: Nguyễn Hoàng D2, đã chết;
    Mẹ đẻ: Đặng Thị H1, đã chết;
    Vợ, con: Chưa có;
    Tiền án, tiền sự: Không.
    Nhân thân:
    • + Bản án hình sự sơ thẩm số 41/2015/HSST ngày 02/7/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xử phạt Nguyễn Hoàng H 02 năm tù, về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, 09 tháng tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt chung là 02 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2014. Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng H và bị cáo Bùi văn C2 liên đới bồi thường cho bị hại số tiền 3.920.000 đồng, trong đó mỗi bị cáo phải bồi thường 1.960.000 đồng; án phí hình sự 200.000 đồng, án phí dân sự 200.000 đồng. Bản án bị kháng nghị.
    • + Bản án hình sự phúc thẩm số 26/2015/HSPT ngày 28/9/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái xử phạt Nguyễn Hoàng H 03 năm tù, về tội “Cướp tài sản”, 09 tháng tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật”. Tổng hợp hình phạt chung là 03 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/12/2014. Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng H và bị cáo Bùi Văn C2 liên đới bồi thường cho bị hại số tiền 3.920.000 đồng, trong đó mỗi bị cáo phải bồi thường 1.960.000 đồng; án phí hình sự 200.000 đồng, án phí dân sự 200.000 đồng. Bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 23/7/2018, nộp án phí hình sự, dân sự xong ngày 22/11/2016; khoản bồi thường dân sự bị hại không có đơn yêu cầu thi hành án đến nay đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P (có mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 12 giờ 20 phút ngày 24/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) về ma túy Công an tỉnh P kiểm tra phòng 301, nhà nghỉ 1990 thuộc khu A, xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ phát hiện trong phòng có 03 người gồm: Lê Văn T, sinh năm 1993, trú tại khu A, xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 2003, trú tại khu E, thị trấn H, huyện H, tỉnh Phú Thọ; Lê Sao M, sinh năm 2003, trú tại khu I, thị trấn H, huyện H, tỉnh Phú Thọ.

Quá trình kiểm tra phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Văn T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Khi bắt quả tang thu giữ của T 02 gói nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm bịt kín, bên trong 02 gói nilon đều có chất rắn dạng tinh thể màu trắng (T khai là ma túy đá của T). Tiến hành khám xét phòng 301, nhà nghỉ 1990 tạm giữ của T: 01 túi giả da màu đen bên trong có 01 bộ dụng cụ tự chế để sử dụng ma túy; 01 chiếc cân điện tử màu bạc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xám, đã qua sử dụng, kèm 01 thẻ sim số 0989902266; 01 điện thoại nhãn hiệu OnePlus, màu đen, bị hỏng màn hình, kèm thẻ sim số 0964958393.

Tiến hành trưng cầu giám định tại Phòng K1 Công an tỉnh P đối với số chất rắn trong 02 gói nilon thu giữ khi bắt quả tang Lê Văn T. Tại bản Kết luận giám định số 754 ngày 29/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh P kết luận: Chất rắn là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 0,655 gam.

Tại cơ quan điều tra, Lê Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:

Trong thời gian tháng 02/2024, T mua ma túy của Lê Mạnh L1, sinh năm 1992, trú tại khu A, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ 02 lần, cụ thể:

Lần 1. Khoảng 21 giờ một ngày giữa tháng 02/2024, T gọi điện bằng zalo cho L1 (tên nick zalo của T là “Thanh Tũn”, T không nhớ tên nick zalo của L1) để hỏi mua 500.000 đồng tiền ma túy đá, L1 bảo T chuyển tiền, T đồng ý, L1 gửi số tài khoản cho T (T không nhớ số tài khoản) và hẹn địa điểm mua bán tại nhà L1. Sau đó, T chuyển 500.000 đồng từ tài khoản số 1234519388888 mang tên T mở tại ngân hàng Q (MB) đến tài khoản L1 yêu cầu, chuyển tiền xong, T đi taxi đến nhà L1. Tại phòng ngủ của L1, L1 đưa cho T 01 túi nilon màu trắng có mép dán, bên trong có ma túy đá (không xác định được khối lượng), T cầm túi ma túy đá đi về, số ma túy đá này T sử dụng một mình hết.

Lần 2. Khoảng 23 giờ, một ngày cuối tháng 02/2024, T gọi điện bằng zalo cho L1 hỏi mua 500.000 đồng tiền ma túy đá, L1 hẹn đến nhà L1. Sau đó, T đi taxi một mình đến cổng nhà L1. Tại đây, L1 đưa cho T 01 túi nilon màu trắng có mép dán, bên trong chứa ma túy đá (không xác định được khối lượng), T cầm túi ma túy đá và đưa cho L1 500.000 đồng rồi đi về, số ma túy đá này T sử dụng một mình hết.

Khoảng 22h, một ngày giữa tháng 02/2024, T gọi điện bằng zalo cho một người phụ nữ tên L2 khoảng 30 tuổi, ở trọ tại khu vực phường K, quận T, thành phố Hà Nội (không nhớ địa chỉ cụ thể) hỏi mua 2.000.000 đồng tiền ma túy đá (T không nhớ tên nick zalo của L2), L2 bảo T chuyển tiền, T đồng ý, L2 gửi số tài khoản qua zalo cho T (T không nhớ số tài khoản) và hẹn địa điểm mua bán tại nhà trọ của L2, T đồng ý, rồi chuyển tiền từ tài khoản của T mở tại ngân hàng Q (MB) đến tài khoản L2 gửi. Chuyển tiền xong T đi taxi đến nhà trọ của L2 (L2 gửi vị trí nhà trọ qua zalo cho T). Tại nhà trọ của L2, L2 đưa cho T 01 túi nilon màu trắng có mép dán, bên trong có ma túy đá (không xác định được khối lượng), T cầm túi ma túy đá đi về và sử dụng một mình hết.

- Vào buổi chiều một ngày trong tháng 04/2024, Nguyễn Văn T4, sinh năm 1992, trú tại số nhà A, đường H thuộc xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang gọi điện bảo lên chơi với T (T4 là bạn của T), T bảo đang ở nhà nghỉ A2 thuộc xã V, thị xã P. Khoảng 2 tiếng sau, T4 đến nhà nghỉ 1990 và thuê phòng để nghỉ, sau đó gọi T đến phòng T4 thuê. Tại đây, T4 đưa cho T 01 túi ketamin (không xác định được khối lượng) và bảo thử hàng nếu được thì tiến hành mua bán với nhau, T cầm túi ketamin này về sử dụng thấy chất lượng kém nên bảo T4 đi về còn có gì sẽ liên lạc sau, sau đó T không liên lạc gì với T4 nữa. Số ketamin này, T đã sử dụng một mình hết.

- Trong thời gian từ đầu tháng 01/2024 đến ngày 22/5/2024, T nhiều lần mua ma túy đá Methamphetamine của Vũ Thị Hồng N1, sinh năm 1985, trú tại đô thị T city thuộc phường V, quận H, thành phố Hà Nội, hiện ở trọ tại số D, ngõ G N, phường N, quận Đ, thành phố Hà Nội, T nhớ 04 lần mua như sau:

Lần 1: Khoảng 22 giờ, một ngày cuối tháng 3/2024, T gọi điện bằng zalo cho N1 (tên nick zalo của T là “Thanh Tũn”, tên nick zalo của N1 là “N V”) hỏi mua nửa hộp 5 (tức 2,5 gam) ma túy đá Methamphetamine, N1 nói giá 3.000.000 đồng và bảo T chuyển tiền (số tài khoản của N1, T đã có từ trước), T đồng ý, N1 nhắn cho T 01 số điện thoại (T không còn nhớ số) và dặn khi nào đến khu đô thị T city thì gọi vào số này để lấy ma túy. T bảo sẽ nhờ Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1997, trú tại tổ B, phường H, TP ., tỉnh Yên Bái, hiện ở trọ tại thôn Đ, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội đến lấy ma túy hộ cho T, N1 đồng ý.

Sau đó T gọi zalo cho Nguyễn Hoàng H (tên nick zalo của H là “Hoàng H”) nhờ H đi đến khu đô thị T city lấy ma túy T mua của N1 cho T mang về nhà trọ của H để T đến lấy mang về để “đẩy” (đẩy ở đây là bán), H đồng ý. Sau đó, T gửi cho H số điện thoại mà N1 đã gửi lúc trước để H liên lạc lấy ma túy. Sau đó H đi lấy ma túy như thế nào T không biết.

Sau khi gọi cho H xong, T gọi zalo cho Nguyễn Văn K (tên nick zalo của K là “T”), sinh năm 1992, trú tại khu V, xã V, thị xã P là bạn của T làm nghề lái xe taxi, T thuê K chở xuống nhà H (không nói đi lấy ma túy), K nói tiền taxi hết 1.100.000 đồng, T đồng ý. Khoảng 10 phút sau, K đón T ở ngã 3 gần nhà T và lái xe đưa T đến gần nhà trọ của H, lúc này khoảng gần 24 giờ. T bảo K ngồi trong xe taxi đợi còn T xuống xe đi vào nhà trọ của H. Tại sân nhà trọ của H, H đưa cho T 01 bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 gói được cuốn bằng băng dính màu đen, T gỡ bỏ băng dính màu đen ra thì bên trong có 01 túi nilon màu trắng có mép dán, bên trong túi nilon có 2,5 gam ma túy đá. T lấy 01 ít ma túy đá ra đưa cho H (để trả công cho H) rồi đi quay lại chỗ xe taxi của K và đi về.

Lần 2: Khoảng 22 giờ, một ngày đầu tháng 4/2024, T mua của N1 2,5 gam ma túy đá Methamphetamine với giá là 3.000.000 đồng với diễn biến mua bán như lần 1. Lần này Nguyễn Hoàng H vẫn là người đi lấy ma túy giúp cho T để Thanh bán và được T trả công như lần 1. K vẫn là người lái xe taxi chở T đi nhưng không biết là T đi lấy ma túy.

Lần 3: Vào buổi tối, một ngày cuối tháng 4/2024, T gọi zalo cho N1 để hỏi mua ma túy đá Methamphetamine, N1 nói chưa có. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày N1 gọi điện lại cho T bảo ngày hôm sau mới có ma túy đá. Đến khoảng 11 giờ trưa ngày hôm sau, T gọi zalo cho N1 hỏi mua 03 gam ma túy đá, N1 nói giá 4.500.000 đồng và bảo T chuyển tiền rồi liên hệ với một người tên D2 để lấy ma túy. N gửi số điện thoại của D2 cho T qua zalo (T chỉ nhớ 03 số cuối là 444). Khoảng 11 giờ 45 phút cùng ngày, T gọi điện cho D2 để lấy ma túy, D2 hẹn T ở hầm gửi xe T khu đô thị T, T chuyển 4.500.000 đồng từ tài khoản số 1234519388888 của T mở tại ngân hàng Q đến tài khoản số 0934309339 của N1 mở tại ngân hàng Q và đi đến chỗ hẹn với D2. Khoảng 10 phút sau D2 gọi lại cho T, T nói đang ở chỗ hẹn. Sau đó, D2 gặp và đưa cho T 01 vỏ bao thuốc Thăng Long bên trong có 03 gam ma túy đá (ma túy đá được đựng trong 01 túi nilon màu trắng có mép dán và quấn băng dính màu đen bên ngoài), T cầm rồi đi về.

Lần 4: Khoảng 03h00 sáng ngày 22/5/2024, T nhắn tin cho N1 hỏi mua ma túy, N1 nói phải trả nợ 2.000.000 đồng tiền vay trước đó thì mới bán. Khoảng 30 phút sau T chuyển cho N1 2.000.000 đồng. Đến khoảng 06h30 cùng ngày, N1 gọi điện cho T thì T hỏi 2,5 gam ma túy đá, N1 nói giá 3.000.000 đồng và bảo T chuyển tiền rồi đến khu vực T city để lấy ma túy, T đồng ý. Sau đó T chuyển cho N1 3.000.000 đồng từ tài khoản của T đến tài khoản của N1, chuyển tiền xong T đi đến điểm hẹn lấy ma túy. Khoảng 11 giờ cùng ngày, T gọi zalo cho N1 nói đang ở hầm để xe T8 T9, N1 bảo đợi để N1 bảo D2 cầm ma túy đá giao cho T. Một lúc sau, D2 gặp và đưa cho T 01 vỏ bao thuốc Thăng Long bên trong có 2,5 gam ma túy đá (ma túy đá đựng trong 01 túi nilon màu trắng có mép dán và quấn băng dính màu đen bên ngoài), T cầm rồi đi về.

Số ma túy mua của N1 về T sử dụng, bán lẻ, trả công cho Nguyễn Hoàng H (02 lần như nêu trên) và bị thu giữ khi bắt quả tang. T bán ma túy cho nhiều người, đến nay T nhớ bán cho những người sau:

- Bán cho Nguyễn Văn K (là lái xe taxi chở T đi lấy ma túy của H) 02 lần, cụ thể như sau:

Lần 1: Vào một ngày cuối tháng 3/2024 (tương ứng lần 1 T mua ma túy của N1 và nhờ H đi lấy). Sau khi K chở T từ nhà H về đến gần nhà T, T trả cho K 800.000 đồng tiền taxi và bảo nợ 300.000 đồng, K đồng ý. Đến trưa ngày hôm sau, K gọi điện bằng zalo cho T để đòi tiền, T nói chưa có tiền nhưng có một ít ma túy đá lấy thì trừ nợ luôn (T biết K là người sử dụng ma túy đá), K đồng ý, T hẹn gặp ở ngã 3 gần nhà T. Sau đó, T lấy một ít ma túy đá trong số ma túy đá H đưa cho T hôm trước ra cho vào 01 gói nilon màu trắng và mang đưa cho K rồi đi về.

Lần 2: Vào một ngày đầu tháng 4/2024 (tương ứng lần 2 T mua ma túy của N1 và nhờ H đi lấy). Sau khi K chở T từ nhà H về đến gần nhà T, T trả cho K 900.000 đồng tiền taxi và bảo nợ 200.000 đồng. K bảo T nếu cón ma túy đá thì đưa cho K trừ nợ luôn. T lấy một ít ma túy đá trong số ma túy đá H đưa cho vào 01 gói nilon màu trắng và mang đưa cho K rồi xuống xe đi về.

- Bán cho Ma Văn A, sinh năm 1985, trú tại khu E, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ 02 lần, cụ thể như sau:

Lần 1: Khoảng 18h00, một ngày cuối tháng 3/2024, A gọi zalo cho T (T không nhớ tên nick zalo của A) hỏi mua 500.000 đồng tiền ma túy đá, T hẹn gặp ở gần nhà nghỉ H5 thuộc xã H, thị xã P. Khoảng 10 phút sau, tại điểm hẹn, A đưa cho T 500.000 đồng, T cầm tiền và chỉ chỗ giấu ma túy đá ở ven đường cách chỗ T đứng khoảng 2 mét để Anh nhặt.

Lần 2: Khoảng 18h00, một ngày đầu tháng 04/2024, T bán cho Anh 01 túi ma túy đá giá 500.000 đồng với diễn biến và địa điểm mua bán như lần 1.

- Bán cho Cù Văn H3, sinh năm 1996, trú tại khu G, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ nhiều lần nhưng nhớ 02 lần, cụ thể như sau:

Lần 1: Khoảng 21h00 ngày 22/5/2024, H3 gọi zalo cho T (nick zalo của H3 là “Thử rồi biết”) hỏi mua 700.000 đồng tiền ma túy đá, T hẹn gặp tại đầu cầu N thuộc xã H, thị xã P. Khoảng 20 phút sau, H3 gọi cho T, T hướng dẫn H3 đi cách đầu cầu N khoảng 03 km về phía thị xã P, T đứng chờ ở ven đường. Một lúc sau H3 đến và đưa cho T 700.000 đồng, T cầm tiền rồi đưa cho H3 02 gói ma túy đá và bảo giá 1.000.000 đồng, H3 bảo cho nợ 300.000 đồng trả sau rồi H3 cầm ma túy đi luôn. Số tiền 300.000 đồng đến nay H3 vẫn nợ T.

Lần 2: Khoảng 20 giờ ngày 23/5/2024, H3 gọi zalo cho T hỏi mua 1.000.000 đồng tiền ma túy đá và bảo T chia làm 02 gói như hôm trước, T đồng ý và bảo H3 chuyển tiền vào tài khoản số 1234519388888 mang tên “LE VAN THANH” mở tại ngân hàng Q (MB). Sau đó H3 chuyển 1.000.000 đồng từ tài khoản số [...] mang tên “NGUYEN THI THUY” mở tại ngân hàng V1 (tài khoản của vợ của H3 nhưng do H3 sử dụng) đến tài khoản của T. Nhận được tiền T lấy 02 gói ma túy đá cho vào một vỏ bao thuốc Thăng Long màu vàng rồi giấu tại chân biển chỉ đường ở đầu cầu N và gọi điện chỉ chỗ giấu ma túy cho H3 đến lấy.

Việc T liên lạc (điện thoại, zalo) mua và bán ma túy với những người nêu ở trên, sau khi mua bán xong T đều đã xóa hết dữ liệu. Quá trình T bán ma túy không được lợi nhuận bằng tiền mà chỉ được ma túy để sử dụng.

Tiến hành triệu tập Nguyễn Văn K để làm việc. Tại cơ quan CSĐT, K khai nhận có 02 lần K chở T đi đến nhà bạn ở gần sân bay N thuộc huyện S, thành phố Hà Nội rồi đi về luôn cả 02 lần này T đều nợ tiền taxi (K không biết chở T đi lấy ma túy). Mỗi lần như vậy T trả nợ bằng 01 gói ma túy đá giá từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng (phù hợp với lời T khai). Số ma túy đá này K sử dụng một mình hết.

Tiến hành triệu tập Cù Văn H3 để làm việc. Tại cơ quan CSĐT, H3 khai nhận nhiều lần mua ma túy đá của T nhưng nhớ cụ thể 02 lần mua được 04 gói ma túy đá (không xác định được khối lượng) của Lê Văn T (phù hợp với lời khai của T). Số ma túy đá này H3 sử dụng một mình hết.

Tiến hành triệu tập Ma Văn A nhưng Anh không có mặt ở địa phương.

Căn cứ lời khai của Lê Văn T, ngày 28/6/2024, Cơ quan CSĐT tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Hoàng H. Khi khám xét thu giữ của H: 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Hoàng H; 01 cóng thủy tinh tự chế; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen đã cũ kèm theo 02 thẻ sim số 0768289397 và số 0326179231. Triệu tập H để làm việc, tại cơ quan điều tra H khai nhận:

Từ cuối tháng 03/2024 đến đầu tháng 04/2024 có 02 lần H đi lấy ma túy đá T mua của N1 từ khu đô thị T city thuộc phường V, quận H, TP Hà Nội rồi mang về nhà trọ của H, sau đó đưa lại cho T và được T trả công bằng ma túy đá (phù hợp với lời T khai). H biết T mua ma túy về để “đẩy” tức là bán. Việc đi lấy ma túy giúp T ngoài được T trả công bằng ma túy thì H còn được T cho tiền chơi game. Số ma túy T trả công cho H, H sử dụng một mình hết.

Trong 2 lần đi lấy hộ ma túy cho T thì H đều liên lạc vào số điện thoại do T gửi. Khi H gọi điện thì có một nam thanh niên (không biết là ai) nghe điện thoại và chỉ chỗ giấu ma túy để H đến nhặt. Ma túy được giấu trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long để ở gốc cây trong khu đô thị T city. Lịch sử liên lạc (số điện thoại và zalo) giữa H với T, H với người giao ma túy của N1 thì H đều đã xóa và vứt bỏ sim điện thoại sau khi biết tin T bị bắt.

Căn cứ lời khai của Lê Văn T, ngày 19/9/2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Thị Hồng N1. Khi khám xét thu giữ của N1:

  • - 02 túi nilon màu đỏ có chữ Ferrari, bên trong 02 túi này đều có chất bột màu cam thu giữ trong ngăn kéo tủ tivi trong phòng khách nhà N1 (N1 khai là 02 túi ma túy nước vui).
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone, màu vàng, đã qua sử dụng, kèm 01 thẻ sim số 0961973434.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone, màu trắng, đã qua sử dụng, kèm 01 thẻ sim số 0934309339.
  • - 01 Căn cước công dân mang tên Vũ Thị Hồng N1.

Tiến hành trưng cầu giám định tại Phòng K1 Công an tỉnh P số chất bột màu cam trong 02 túi nilon thu giữ nêu trên. Kết quả: Chất bột màu cam chứa trong 02 túi nilon có tổng khối lượng là 10,718 gam, là ma túy, loại Ketamin.

Triệu tập Vũ Thị Hồng N1 để làm việc. Tại cơ quan điều tra N1 khai nhận:

- Vào khoảng tháng 7/2024, Đỗ Anh T5, sinh năm 1992, nhà ở phố T, phường Q, quận H, TP . (là em xã hội) đến nhà N1 chơi, T5 nói có hàng mới (nước vui) bán chạy và cho N1 02 gói để N1 bán thử. Sau đó N1 cất 02 túi ma tuý nước vui này trong ngăn kéo tủ trong phòng khách nhà trọ của N1 để bán nhưng chưa kịp bán thì bị thu giữ.

- Trong thời gian từ đầu tháng 11/2023 đến đầu tháng 4/2024, N1 nhiều lần mua ma túy của một người tên là H4, khoảng 30 tuổi, nhà ở quận Đ, TP Hà Nội (không biết địa chỉ cụ thể). Đến nay nhớ 02 lần như sau:

- Lần 1: Vào khoảng đầu tháng 11/2023, N1 gọi zalo cho H4 (Nick zalo của N1 là “N V”, N1 không nhớ nick zalo của H4) hỏi mua 05 gam ma túy đá, H4 nói giá 5.000.000 đồng, N1 bảo trả bằng tiền mặt, H4 đồng ý, hẹn gặp ở đoạn đường cạnh cửa hàng V2, phố T, quận Đ, thành phố Hà Nội và bảo cho người khác giao ma tuý cho N1, N1 đồng ý. Khoảng 30 phút sau, N1 đến tại điểm hẹn thì có 01 nam thanh niên đeo khẩu trang, đi xe máy đến đưa N1 01 gói giấy màu trắng, bên trong có 01 túi nilon màu trắng chứa ma tuý đá, N1 đưa người này 5.000.000 đồng và cầm gói ma tuý đi luôn.

- Lần 2. Vào khoảng đầu tháng 4/2024, N1 mua của H4 10 gam ma tuý đá giá 10.000.000 đồng với diễn biến và địa điểm mua bán như lần 1. Lần này H4 vẫn cho một nam thanh niên khác bịt khẩu trang và đi xe máy ra giao ma túy cho N1.

Số ma tuý đá mua được của H4 về N1 tự áng chừng bằng mắt rồi cho vào các túi nilon nhỏ, sau đó quấn băng dính đen bên ngoài các túi ma tuý đó và để trong túi giả da có khóa kéo để ở góc tường, ban công phía sau phòng trọ của N1.

Quá trình N1 bán ma túy, N1 không trực tiếp đi giao ma túy mà thuê Phạm Hoàng T6, sinh năm 1996, nhà ở huyện Đ, tỉnh Thái Bình (không biết địa chỉ cụ thể) và Đặng Văn D1, sinh năm 1996, trú tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình đi giao ma túy thay cho N1. N thuê T6 từ đầu tháng 11/2023 đến giữa tháng 04/2024. N thuê D1 từ cuối tháng 04/2024 đến cuối tháng 05/2024. Quá trình T6 và D1 tham gia bán ma túy cho N1 được N1 nuôi ăn, cho ở và trả công từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng tùy theo quãng đường di chuyển khi đi giao ma túy nếu đi gần thì không tính công. Thỉnh thoảng N1 còn cho ma túy đá để T6 và D1 sử dụng (không xác định được khối lượng và nằm trong số ma túy đá N1 mua của H4).

N bán ma túy cho nhiều người không biết tên, tuổi địa chỉ. N1 chỉ nhớ bán ma túy đá Methamphetamine cho Lê Văn T (bị can cùng vụ) nhiều lần trong thời gian từ đầu tháng 01/2024 đến ngày 22/5/2024, cụ thể 04 lần bán được tổng số 10,5 gam ma túy đá Methamphetamine cho Lê Văn T. Trong 04 lần bán ma túy cho T thì N1 bảo D1 đi giao cho T 02 lần và bảo T6 giao cho Nguyễn Hoàng H để H đưa cho T 02 lần (phù hợp với lời khai của T).

Lịch sử liên lạc (số điện thoại và zalo) mua bán ma túy với những người nêu trên N1 đã xóa sau khi biết tin T bị bắt, N1 vứt bỏ hết những đồ vật có liên quan đến ma túy trong đó có chiếc túi giả da N dùng để đựng ma túy.

Trong 04 lần N1 bán ma túy cho Thanh N2 khai được lãi 3.000.000 đồng. Số tiền này N2 đã chi tiêu cá nhân hết.

Căn cứ lời khai của Vũ Thị Hồng N1, Cơ quan CSĐT triệu tập Đặng Văn D1 để xét hỏi. Tại Cơ quan CSĐT, D1 khai nhận: Trong thời gian từ cuối tháng 04/2024 đến cuối tháng 05/2024, D1 đi giao ma túy cho N1 và được N1 nuôi ăn, cho ở, trả công, cho ma túy đá sử dụng. D1 đã giao ma túy cho nhiều người nhưng không biết là ai, ở đâu. D1 chỉ nhớ có 02 lần D1 giao ma túy đá cho Lê Văn T (phù hợp với lời khai của N1 và T). Số ma túy đá N1 cho D1 đã sử dụng một mình hết.

Quá trình tham gia bán ma túy cho N1, D1 xác định được lãi 2.000.000 đồng, số tiền này D1 đã chi tiêu cá nhân hết.

Căn cứ lời khai của Lê Văn T, ngày 28/6/2024, Cơ quan điều tra thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn T4. Quá trình khám xét tạm giữ của T4:

  • - 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn T4.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu đen kèm 01 thẻ sim số 0965.105.247.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu vàng, kèm 01 thẻ sim số 0976.687.292.
  • - 11 túi nilon màu trắng có mép dán, bên trong đều chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng được đựng trong một túi nilon màu trắng có quai.

Tiến hành trưng cầu giám định tại Phòng K1 Công an tỉnh P số chất rắn trong 11 túi nilon thu giữ nêu trên. Tại bản kết luận giám định số 908/KL-KLGĐ ngày 03/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh P kết luận: Số chất rắn trong 11 túi nilon thu giữ của T4 không phải là ma túy, có tổng khối lượng là 29,232 gam.

Triệu tập Nguyễn Văn T4 để làm việc. Tại cơ quan điều tra T4 khai nhận: Trường Q1 từ khoảng năm 2019 khi cùng chấp hành án phạt tù tại Trại giam T9, Bộ C4. Sau khi ra tù T4 và T thường xuyên liên lạc với nhau và đến nhà nhau chơi. Trong đó: Vào buổi chiều một ngày trong tháng 04/2024, T4 lên chơi với T và thuê phòng nghỉ tại nhà nghỉ 1990 thuộc xã V, thị xã P để nghỉ. T có đến phòng của T4 chơi rồi về, không có việc T4 mang ma túy ketamin lên cho T thử như lời T đã khai. Đối với 11 túi nilon chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng cơ quan điều tra thu giữ khi khám xét chỗ ở của T4 là 11 túi phèn chua.

Cáo trạng số 06/CT-VKSPT-P1, ngày 09/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ truy tố:

Vũ Thị Hồng N1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự (BLHS);

Lê Văn T, Nguyễn Hoàng H, Đặng Văn D1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 BLHS;

Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo và thể hiện thái độ ăn năn hối cải.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ vẫn giữ quan điểm truy tố và đề nghị:

Tuyên bố: Vũ Thị Hồng N1, Lê Văn T, Nguyễn Hoàng H, Đặng Văn D1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, p khoản 2 Điều 251, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS đối với Vũ Thị Hồng N1.

Xử phạt bị cáo Vũ Thị Hồng N1 từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/9/2024.

Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS đối với Lê Văn T.

Xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/5/2024.

Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS đối với Nguyễn Hoàng H, Đặng Văn D1.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng H từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/6/2024.

Xử phạt Đặng Văn D1 từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/9/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 BLHS, kho ản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS.

Đề nghị xử lý vật chứng:

Truy thu của: N số tiền 13.500.000 đồng, T số tiền 1.700.000 đồng do phạm tội mà có để sung quỹ nhà nước.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng:

  • - 01 bì giấy niêm phong, dán kín số 754/KL-KTHS của Phòng K1 - Công an tỉnh P, trên bì ghi: “Trả lại: 0,461 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, trong mẫu vật thu giữ của Lê Văn T, sinh năm 1993, NTT: Khu A, xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ”.
  • - 01 bì giấy niêm phong, dán kín số 1294/KL-KTHS của Phòng K1 - Công an tỉnh P, trên bì ghi: “Trả lại: 9,552 gam chất bột màu cam cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, trong mẫu vật thu giữ của Vũ Thị Hồng N1, sinh năm 1985, NTT: Khu đô thị T, phường M, quận H, thành phố Hà Nội”.
  • - 01 bì số 908/KL-KTHS của Phòng K1 - Công an tỉnh P.
  • - 01 túi xách giả da màu đen đã cũ, có quai đeo màu đen, mặt trước có chữ “Jeep-BULUO” của Lê Văn T.
  • - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá tự chế của Lê Văn T.
  • - 02 thẻ sim số 0989902266 và 0964958393 của Lê Văn T.
  • - 01 cóng thủy tinh tự chế của Nguyễn Hoàng H.
  • - 02 thẻ sim số 0768289397 và 0326179231 của Nguyễn Hoàng H.
  • - 02 thẻ sim số 0961973434 và 0934309339 của Vũ Thị Hồng N1.
  • - 01 thẻ sim số 0384275444 của Đặng Văn D1.

Tịch thu để sung quỹ nhà nước:

  • - 01 cân điện tử màu bạc đã qua sử dụng của Lê Văn T.
  • - 01 điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Iphone, màu xám, số Imei: 353889102138350 của Lê Văn T.
  • - 01 điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Oneplus, màu đen, màn hình điện thoại hỏng không xem được số Imei của Lê Văn T.
  • - 01 điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Oppo, màu đen, số Imei: 866876064140730 của Nguyễn Hoàng H.
  • - 01 điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Iphone, màu vàng, số Imei: 356681113336363 của Vũ Thị Hồng N1.
  • - 01 điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Iphone, màu trắng, số Imei: 990002760091528 của Vũ Thị Hồng N1.
  • - 01 điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Iphone, màu trắng, số Imei: 358809058223746 của Đặng Văn D1.

Trả lại:

  • - Nguyễn Hoàng H 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Hoàng H.
  • - Vũ Thị Hồng N1 01 thẻ căn cước công dân mang tên Vũ Thị Hồng N1.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các Bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ.

Các Bị cáo không tranh luận về tội danh cũng như bào chữa về phần hình phạt.

Các Bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để được cải tạo sớm trở về gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong khoảng thời gian từ đầu tháng 01 năm 2024 đến ngày 24 tháng 5 năm 2024, các bị cáo đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy tại địa bàn thành phố Hà Nội và tỉnh Phú Thọ. Cụ thể như sau:

Vũ Thị Hồng N1 nhiều lần bán trái phép chất ma túy cho Lê Văn T, kết quả điều tra xác định N1 đã 04 lần bán trái phép chất ma túy cho Lê Văn T, với tổng khối lượng 10,5 gam ma túy đá Methamphetamine, thu được tổng số tiền 13.500.000 đồng, N1 còn tàng trữ 10,718 gam chất ma túy Ketamine, mục đích để bán.

Lê Văn T mua của Vũ Thị Hồng N1 tổng số 10,5 gam ma túy đá Methamphetamine để bán và sử dụng, T đã 02 lần bán trái phép tổng số 04 túi ma túy đá Methamphetamine (không xác định được khối lượng) cho Cù Văn H3 với tổng số tiền 2.000.000 đồng, T cho H3 nợ 300.000 đồng, mới thu được số tiền 1.700.000 đồng và 02 lần dùng 02 gói ma túy đá Methamphetamine để thanh toán tiền cước xe taxi cho Nguyễn Văn K, lần thứ nhất 01 gói tương đương số tiền 300.000 đồng, lần thứ hai 01 gói ma túy tương đương số tiền 200.000 đồng. Ngoài ra bị cáo còn tàng trữ 0,655 gam ma túy Methamphetamine mục đích để bán.

Nguyễn Hoàng H đã đồng phạm với Lê Văn T 02 lần giúp Lê Văn T mua tổng số 05 gam ma túy Methamphetamine của Vũ Thị Hồng N1 về để Thanh bán, sau đó T đã bán ma túy cho nhiều người và 02 lần dùng 02 gói ma túy đá Methamphetamine để thanh toán tiền cước xe taxi cho Nguyễn Văn K, lần thứ nhất 01 gói tương đương số tiền 300.000 đồng, lần thứ hai 01 gói ma túy tương đương số tiền 200.000 đồng, H được T trả công bằng ma túy để sử dụng.

Nguyễn Văn D3 đã đồng phạm với Vũ Thị Hồng N1 02 lần giúp Vũ Thị Hồng N1 mang ma túy bán trái phép cho Lê Văn T, tổng số 5,5 gam chất ma túy Methamphetamine, tiền mua ma túy Lê Văn T trả cho Vũ Thị Hồng N1, D3 không được hưởng lợi.

[2] Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nhau về phương thức, số lần, địa điểm giao dịch mua bán ma tuý và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, kết luận giám định, biên bản khám xét, lời khai của các bị cáo trong vụ án tại Cơ quan CSĐT và tại phiên tòa. Do vậy có đủ cơ sở để kết luận các hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo Bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Điều 251 BLHS: Tội mua bán trái phép chất ma tuý.

  1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý thì bị phạt tù từ 02 đến 07 năm.
  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
    • b) Phạm tội 02 lần trở lên.
    • i)..., Methamphetamine... có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;
    • p) Có 02 chất ma tuý trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này”.

[3] Tính chất của vụ án là rất nguy hiểm, chỉ vì mục đích hám lợi để có tiền chi tiêu cá nhân và sử dụng ma túy cho bản thân, nên các bị cáo đã mua ma túy với mục đích sử dụng và bán lại kiếm lợi nhuận. Hành vi đó của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy, các chất gây nghiện của nhà nước. Ma túy để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, nhất là các loại ma túy mới hiện nay, là mầm mống phát sinh các loại tệ nạn, tội phạm, ảnh hưởng lớn đến trật tự trị an xã hội. Đã có nhiều vụ án được đưa ra xét xử và có hình phạt nghiêm khắc nhưng tình hình mua bán trái phép chất ma túy với số lượng lớn vẫn còn diễn ra phức tạp, ở nhiều địa phương. Vì vậy phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật để giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong toàn xã hội hiện nay.

[4] Xét nhân thân các bị cáo thấy rằng:

[4.1] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

[4.2] Trong quá trình điều tra bị cáo Vũ Thị Hồng N1 đã tích cực hợp tác với Cơ quan CSĐT, khai ra đồng phạm Đặng Văn D1 giúp N1 bán trái phép chất ma túy. Bố đẻ bị cáo là ông Vũ Xuân N được tặng thưởng nhiều Huân huy chương kháng chiến vì có nhiều thành tích trong phục vụ Q2 là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

[4.3] Trong quá trình điều tra bị cáo Lê Văn T đã tự thú đối với lần bán trái phép chất ma túy cho Cù Văn H3 và dùng ma túy thanh toán tiền cước xe cho Nguyễn Văn K, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 BLHS.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Lê Văn T phải chịu tình tiết Tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

[4.4] Các bị cáo Đặng Văn D1 có bố đẻ là ông Đặng Quang C1 được tặng Bằng khen do hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong quân đội. Bị cáo Nguyễn Hoàng H có bà nội Hoàng Thị N3 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhì năm 1997, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

[4.5] Bị cáo H tham gia trong vụ án đồng phạm với bị cáo T, bị cáo D1 đồng phạm với bị cáo N1, thấy rằng vai trò của các bị cáo H, D1 là giản đơn. Số lượng ma tuý bị cáo N1 phạm tội lớn với 2 loại ma tuý, đã bán cho T 4 lần, do vậy mức án của bị cáo sẽ cao hơn T. Bị cáo H có nhân thân xấu hơn bị cáo D1 nên mức hình phạt sẽ cao hơn D1. Sau khi cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo và mức hình phạt quy định. Do vậy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội một thời gian thích hợp để cải tạo sớm trở thành người có ích cho gia đình và xã hội sau này.

[5] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 251 BLHS có quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

[6] Theo biên bản xác minh tài sản đối với các bị cáo của Cơ quan CSĐT và tại phiên tòa đã xác định:

  • Bị cáo T đang sống cùng gia đình, không đăng ký kê khai tài sản không có tài sản riêng.
  • Bị cáo N1 không đăng ký kê khai tài sản với UBND phường nơi bị cáo cư trú nên không có thông tin về tài sản.
  • Bị cáo H đang ở cùng bà nội, không đứng tên tài sản gì.
  • Bị cáo D1 đang ở cùng bà nội, D1 không đứng tên tài sản, không có tài sản riêng.

Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7] Đối với Phạm Hoàng T6 là người N1 khai giúp sức cho N1 bán ma túy. Do N1 không xác định được nơi thường trú và nơi ở hiện tại của T6 nên Cơ quan điều tra không xác định được T6, khi nào xác minh làm rõ thì xử lý sau.

[8] Đối với Đỗ Anh T5 là người N khai cho N1 02 túi ketamin để N1 bán. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh và triệu tập nhưng không xác định được nơi ở của T5 ở đâu nên chưa làm rõ được. Khi nào xác minh làm rõ hành vi của T5 thì xử lý sau.

[9] Đối với người đàn ông tên H4 và người thanh niên mang ma túy của H4 giao cho N1 mà N1 khai. Do N1 không xác định được họ tên đầy đủ của những người này nên cơ quan điều tra không đủ căn cứ xác minh làm rõ.

[10] Đối với Nguyễn Văn T4 là người T khai đưa cho T 01 túi ma túy ketamin để “thử hàng”. Quá trình làm việc T4 khai nhận có quen biết, có đến chơi với T nhưng không có việc T4 mang ma túy ketamin cho T thử. Bản thân T4 khi test ma túy cho kết quả âm tính. T khai chỉ có T và T4 biết việc này, không có ai khác biết. Do vậy, Cơ quan CSĐT chưa đủ căn cứ để xử lý đối với T4.

[11] Đối với Lê Mạnh L1 là người T khai bán ma túy cho T. Cơ quan CSĐT tiến hành xác minh và nhiều lần triệu tập nhưng L1 không có mặt ở địa phương, không xác định được L1 đang làm gì. Đối với người phụ nữ tên L2 do T không xác định chính xác được họ tên, địa chỉ cụ thể của L2 nên không đủ căn cứ xác minh, làm rõ.

[12] Đối với Lê Sao M và Nguyễn Thị Thu H2 là người ở cùng với Lê Văn T khi cơ quan Công an kiểm tra bắt quả tang T. Quá trình làm việc M và H2 đều khai nhận không biết việc T cất giấu và sử dụng ma túy. Khi test ma túy đối với M và H2 đều cho kết quả âm tính nên Cơ quan CSĐT không đề cập hình thức xử lý đối với M và H2.

[13] Đối với Ma Văn A là người T khai mua ma túy của T. Cơ quan CSĐT tiến hành xác minh và nhiều lần triệu tập nhưng Anh không có mặt ở địa phương, không xác định được Anh đang làm gì, ở đâu nên chưa làm rõ được. Khi nào xác minh làm rõ hành vi của Anh thì xử lý sau.

[14] Đối với Cù Văn H3 và Nguyễn Văn K là người mua ma túy của Lê Văn T để sử dụng. Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh P ra quyết định xử lý hành chính đối với H3 và K về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Khoản 1, Điều 23, Mục 2, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2023 của Chính phủ. Hình thức: Phạt tiền; Mức phạt: 2.000.000đ ( Hai triệu đồng) đối với H3 và 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) đối với K.

[15] Về xử lý vật chứng vụ án:

[15.1] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, T khai sử dụng 02 số điện thoại là 0989.902.xxx và 0964.958.393 để liên lạc mua bán ma túy, kết quả điều tra xác định: Chủ thuê bao số điện thoại 0989.902.xxx là Nguyễn Thị Kim D, sinh ngày 25/12/1995, trú tại khu B, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Chủ thuê bao số điện thoại 0964.958.xxx là Lê Văn T7, sinh ngày 24/09/1993, trú tại xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Nguyễn Thị Kim D khai nhận là vợ của Lê Văn T, D cho T mượn số điện thoại đăng ký tên của D để T dùng liên lạc cá nhân. D không biết việc T sử dụng số điện thoại đó để liên lạc mua bán ma túy. Do vậy Cơ quan CSĐT không đề cập hình thức xử lý đối với D. Đối với Lê Văn T7 vắng mặt tại địa phương, Cơ quan CSĐT chưa làm rõ được việc T7 có liên quan đến Lê Văn T hay không. Khi nào xác minh làm rõ hành vi của T7 thì xử lý sau.

[15.2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, N1 khai sử dụng 02 số điện thoại là 0961.973.xxx và 0934.309.339 để liên lạc mua bán ma túy. Kết quả điều tra xác định chủ thuê bao hai số điện thoại là Nguyễn Đình A1, sinh ngày 26/10/1982, trú tại H L, phường K, quận T, TP .. Anh khai nhận là người đăng ký chủ thuê bao 02 số điện thoại 0961.973.xxx, 0934309339 và sử dụng một thời gian. Sau đó Al đưa cho N1 02 số điện thoại này để N1 dùng liên lạc cá nhân. Anh không biết việc N1 sử dụng 02 số điện thoại đó để liên lạc mua bán ma túy. Do vậy Cơ quan CSĐT không đề cập hình thức xử lý đối với Nguyễn Đình A1.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT đã thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, vật chứng như sau:

- Tạm giữ của Lê Văn T: 01 túi giả da màu đen bên trong có 01 bộ dụng cụ tự chế để sử dụng ma túy; 01 chiếc cân điện tử màu bạc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xám, đã qua sử dụng, kèm 01 thẻ sim số 0989902266; 01 điện thoại nhãn hiệu OnePlus, màu đen, bị hỏng màn hình, kèm thẻ sim số 0964958393.

Kết quả điều tra xác định: 01 túi giả da màu đen bên trong có 01 bộ dụng cụ tự chế để sử dụng ma túy; 01 chiếc cân điện tử màu bạc là các vật dụng của T để sử dụng ma túy; 02 chiếc điện thoại của T sử dụng liên lạc cá nhân và mua bán ma túy.

- Tạm giữ của Nguyễn Hoàng H: 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Hoàng H; 01 cóng thủy tinh tự chế; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen đã cũ kèm theo 02 thẻ sim số 0768289397 và số 0326179231.

Kết quả điều tra và tại phiên tòa xác định: các đồ vật, giấy tờ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội.

- Tạm giữ của Vũ Thị Hồng N1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone, màu vàng, đã qua sử dụng, kèm 01 thẻ sim số 0961973434; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone, màu trắng, đã qua sử dụng, kèm 01 thẻ sim số 0934309339; 01 căn cước công dân mang tên Vũ Thị Hồng N1.

Kết quả điều tra và tại phiên tòa xác định: N1 sử dụng 02 chiếc điện thoại trên để liên lạc mua bán ma túy, 01 căn cước công dân mang tên Vũ Thị Hồng N1 là giấy tờ tùy thân của bị cáo.

- Tạm giữ của Đặng Văn D1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng, đã qua sử dụng, số imei 358809058223746, kèm 01 thẻ sim số 0384275444.

Kết quả điều tra và tại phiên tòa xác định: D1 sử dụng chiếc điện thoại này liên lạc bán ma túy giúp Vũ Thị Hồng N1.

- Tạm giữ của Nguyễn Văn T4: 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn T4, 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu đen kèm 01 thẻ sim số 0965.105.247, 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu vàng, kèm 01 thẻ sim số 0976.687.292, 11 túi nilon màu trắng có mép dán, bên trong đều chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng được đựng trong một túi nilon màu trắng có quai kết quả giám định không có chất ma túy. Ngày 04/7/2024 Cơ quan CSĐT đã trả lại Nguyễn Văn T4 các đồ vật trên, T4 đã nhận lại đồ vật, tài sản, không có đề nghị gì là phù hợp.

Thấy rằng:

  • - Vật chứng là ma tuý còn lại sau giám định là vật chứng bị cấm sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Vật chứng là 01 túi giả da màu đen bên trong có 01 bộ dụng cụ tự chế để sử dụng ma túy; 01 cóng thủy tinh tự chế thu giữ của các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Vật chứng là 01 chiếc cân điện tử màu bạc, các điện thoại đã thu giữ của các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu bán sung quỹ nhà nước.
  • - Vật chứng là các thẻ sim điện thoại thu giữ của các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nay không có giá trị sử dụng nên cần tịch tiêu hủy.
  • - Vật chứng là các căn cước công dân là giấy tờ tùy thân của các bị cáo, nên cần trả lại cho các bị cáo.

[12] Quá trình tiến hành các hoạt động tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình kiểm sát điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[13] Đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng điều luật, hình phạt, cũng như xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử tại phiên tòa nên được chấp nhận.

[14] Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b, p khoản 2 Điều 251, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS.

Tuyên bố: Vũ Thị Hồng N1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Vũ Thị Hồng N1 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/9/2024.

Căn cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS.

Tuyên bố: Lê Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn T 09 (Chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/5/2024.

Căn cứ điểm b, i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS.

Tuyên bố: Nguyễn Hoàng H, Đặng Văn D1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng H 08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/6/2024.

Xử phạt Đặng Văn D1 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/9/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Căn cứ Điều 45 BLHS, khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Truy thu của: Vũ Thị Hồng N1 số tiền 13.500.000đ (Mười ba triệu năm trăm nghìn đồng), Lê Văn T số tiền 1.700.000đ (Một triệu bảy trăm nghìn đồng).

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng:

  • - 01 bì giấy niêm phong, dán kín số 754/KL-KTHS của Phòng K1 - Công an tỉnh P, trên bì ghi: “Trả lại: 0,461 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, trong mẫu vật thu giữ của Lê Văn T, sinh năm 1993, NTT: Khu A, xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ”.
  • - 01 bì giấy niêm phong, dán kín số 1294/KL-KTHS của Phòng K1 - Công an tỉnh P, trên bì ghi: “Trả lại: 9,552 gam chất bột màu cam cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, trong mẫu vật thu giữ của Vũ Thị Hồng N1, sinh năm 1985, NTT: Khu đô thị T, phường M, quận H, thành phố Hà Nội”.
  • - 01 bì giấy niêm phong, dán kín số 908/KL-KTHS của Phòng K1 - Công an tỉnh P, trên bì ghi: “Trả lại: 24,660 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng, cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, trong mẫu vật thu giữ của Nguyễn Văn T4, sinh năm 1989, NTT: Thôn G, xã C, huyện L, tỉnh Hà Nam”.
  • - 01 túi xách giả da màu đen đã cũ, có quai đeo màu đen, mặt trước có chữ "Jeep-BULUO” của Lê Văn T.
  • - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá tự chế của Lê Văn T.
  • - 02 thẻ sim số 0989902266 và 0964958393 của Lê Văn T.
  • - 01 cóng thủy tinh tự chế của Nguyễn Hoàng H.
  • - 02 thẻ sim số 0768289397 và 0326179231 của Nguyễn Hoàng H.
  • - 02 thẻ sim số 0961973434 và 0934309339 của Vũ Thị Hồng N1.
  • - 01 thẻ sim số 0384275444 của Đặng Văn D1.

Tịch thu để sung quỹ nhà nước:

  • - 01 cân điện tử màu bạc đã qua sử dụng của Lê Văn T.
  • - 01 điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Iphone, màu xám, số Imei: 353889102138350 của Lê Văn T.
  • - 01 điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Oneplus, màu đen, màn hình điện thoại hỏng không xem được số Imei của Lê Văn T.
  • - 01 điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Oppo, màu đen, số Imei: 866876064140730 của Nguyễn Hoàng H.
  • - 01 điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Iphone, màu vàng, số Imei: 356681113336363 của Vũ Thị Hồng N1.
  • - 01 điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Iphone, màu trắng, số Imei: 990002760091528 của Vũ Thị Hồng N1.
  • - 01 điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu Iphone, màu trắng, số Imei: 358809058223746 của Đặng Văn D1.

Trả lại:

  • - Nguyễn Hoàng H 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Hoàng H.
  • - Vũ Thị Hồng N1 01 thẻ căn cước công dân mang tên Vũ Thị Hồng N1.

Theo biên bản giao, nhận vật chứng của Cơ quan CSĐT và Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ ngày 09/9/2024.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/20 16/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vũ Thị Hồng N1, Lê Văn T, Nguyễn Hoàng H, Đặng Văn D1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKS tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - PC 04 CA tỉnh Phú Thọ;
  • - PV 06 Công an tỉnh;
  • - Trại giam CA tỉnh Phú Thọ;
  • - Sở tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Cục THA dân sự tỉnh Phú Thọ;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, AV, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Tuấn Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 23/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Thị Hồng Nhung + đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger