|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2025/DS-ST
Ngày 27-02-2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Văn Cường;
2. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Giang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 24 và 27 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 686/2024/TLST-DS ngày 07/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 494/2024/QĐXXST-DS ngày 18/11/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N1; địa chỉ: Số B- B C, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Quang T; địa chỉ: Lầu F, Số D L, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 05/8/2024); (Có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1972 và bà Chu Thị H, sinh năm 1974; địa chỉ: Số F đường N, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Nguyễn Thị Soi N; địa chỉ: Số F đường N, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
2/ Cháu Nguyễn Như Ý, sinh năm 2015; địa chỉ: Số F đường N, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1972 và bà Chu Thị H, sinh năm 1974; địa chỉ: Số F đường N, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, là cha, mẹ ruột. (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 11/7/2024, lời khai trong quá trình tố tụng, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng TMCP N1 (sau đây gọi tắt là ngân hàng) và ông Nguyễn Văn K và bà Chu Thị H có ký Hợp đồng tín dụng từng lần số: 0002/2023/901-TD-CV ngày 06/01/2023, Giấy nhận nợ số: 01/GNN-0002/2023/901-TD-CV ngày 06/01/2023 với nội dung: Số tiền vay: 1.290.000.000 đồng; Thời hạn vay: 12 tháng; Lãi suất: 14,2%/năm, lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần; Mục đích vay: Vay mua sắm trang thiết bị nội thất.
Thực hiện theo Hợp đồng tín dụng đã ký, Ngân hàng TMCP N1 đã giải ngân cho ông K và bà H số tiền vay 1.290.000.000 đồng theo Giấy nhận nợ số: 01/GNN-0002/2023/901-TD-CV ngày 06/01/2023. Khoản vay có tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số: 2132, tờ bản đồ số: 59 tọa lạc khu phố T, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương), diện tích: 163,1 m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 160612, vào sổ cấp GCN số CS08513 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 24/09/2015, cập nhập biến động ngày 21/12/2015 và ngày 11/02/2020 theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: 0179/2020/901-BĐ ngày 28/12/2020; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản số 01/SD-0179/2020/901-BĐ ngày 29/12/2021; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản số 02/SD-0179/2020/901-BĐ ngày 06/01/2023.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông K và bà H đã thanh toán cho Ngân hàng TMCP N1 tổng số tiền 354.363.853 đồng, trong đó nợ gốc 153.931.702 đồng, nợ lãi 200.432.151 đồng. Kể từ ngày 15/12/2023 ông K và bà H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh. Tính đến ngày 27/02/2025, ông K và bà H còn nợ Ngân hàng TMCP N1 tổng số tiền 1.452.325.849 đồng, trong đó: Nợ gốc: 1.136.068.298 đồng, lãi trong hạn: 748.458 đồng, lãi chậm trả: 85.304 đồng, lãi quá hạn: 315.423.789 đồng. Vì vậy, Ngân hàng TMCP N1 yêu cầu ông K và bà H thanh toán số tiền còn nợ nêu trên và tiền lãi phát sinh từ ngày 28/02/2025 cho đến khi trả xong khoản nợ. Trường hợp ông K và bà H không thanh toán được toàn bộ số tiền nợ cho Ngân hàng TMCP N1 thì Ngân hàng TMCP N1 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: 0179/2020/901-BĐ ngày 28/12/2020; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản số 01/SD-0179/2020/901-BĐ ngày 29/12/2021; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản số 02/SÐ-0179/2020/901-BĐ ngày 06/01/2023 giữa Ngân hàng TMCP N1 với ông K và bà H để thu hồi nợ.
Trường hợp sau khi xử lý tài sản bảo đảm mà vẫn không đủ trả nợ, ông Nguyễn Văn K, bà Chu Thị H có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP N1 đến khi thanh toán xong các khoản nợ.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 31/10/2024, bị đơn ông Nguyễn Văn K và bà Chu Thị H trình bày:
Vợ chồng ông K và bà H có ký Hợp đồng tín dụng từng lần số: 0002/2023/901-TD-CV ngày 06/01/2023, Giấy nhận nợ số: 01/GNN-0002/2023/901-TD-CV ngày 06/01/2023; Hợp đồng thế chấp tài sản số: 0179/2020/901-BĐ ngày 28/12/2020; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản số 01/SD-0179/2020/901-BĐ ngày 29/12/2021; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản số 02/SÐ-0179/2020/901-BĐ ngày 06/01/2023 để vay Ngân hàng TMCP N1 số tiền 1.290.000.000 đồng; Thời hạn vay: 12 tháng; Lãi suất: 14,2%/năm, lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần; Mục đích vay: Vay mua sắm trang thiết bị nội thất.
Tài sản đảm bảo cho khoản vay là Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số: 2132, tờ bản đồ số: 59, tọa lạc khu phố T, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương), diện tích: 163,1 m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 160612, vào số cấp GCN số CS08513 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 24/09/2015, cập nhập biến động ngày 21/12/2015 và ngày 11/02/2020. Tính đến ngày 11/7/2024, vợ chồng ông K và bà H còn nợ Ngân hàng TMCP N1 tổng số tiền 1.322.598.655 đồng, trong đó: nợ gốc 1.197.528.201 đồng, nợ lãi 125.070.454 đồng.
Do tình hình kinh tế khó khăn nên ông K và bà H không thanh toán đúng hạn cho ngân hàng. Nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông K và bà H thanh toán nợ thì ông K và bà H xin thời hạn đến ngày 15/01/2025 để tất toán khoản vay. Trường hợp, ông K và bà H không thanh toán cho Ngân hàng theo đúng thời hạn nêu trên thì đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết vụ án.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 31/10/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Soi N trình bày:
Bà Nguyễn Thị Soi N cùng bố mẹ là ông Nguyễn Văn K và bà Chu Thị H sinh sống trên quyền sử dụng đất hiện thế chấp cho Ngân hàng TMCP N1, tuy nhiên bà N không có liên quan cũng như không đầu tư gì trên đất mà chỉ ở nhờ nhà bố mẹ. Đề nghị Tòa án không đưa bà N vào tham gia tố tụng trong vụ án.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 31/10/2024, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Nguyễn Như Ý là ông Nguyễn Văn K và bà Chu Thị H trình bày:
Ông K và bà H là cha mẹ ruột của cháu Nguyễn Như Ý, ông K và bà H thống nhất với lời khai với tư cách là bị đơn trong vụ án.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ: Quyền sử dụng đất diện tích 163,1 m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 160612, vào sổ cấp GCN số CS08513 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 24/09/2015, cập nhập lần cuối ngày 11/02/2020. Tài sản trên đất gồm có: 01 nhà ở riêng lẻ loại 01 tầng có kết cấu nền gạch men, tường gạch xây tô sơn nước (bên trong có ốp gạch men lững), khung cột gạch, trần thạch cao, cửa kính khung nhôm, cửa kính cường lực, cửa sắt cuốn, mái tôn, gác gỗ bên trong.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:
Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn đồng thời là người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Nguyễn Như Ý là ông Nguyễn Văn K và bà Chu Thị H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Soi N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt tất cả các đương sự nêu trên là đúng quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Bị đơn đồng thời là người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Nguyễn Như Ý là ông Nguyễn Văn K và bà Chu Thị H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Soi N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Nội dung vụ án:
[2.1] Ngân hàng TMCP N1 cấp tín dụng cho ông Nguyễn Văn K và bà Chu Thị H theo Hợp đồng tín dụng từng lần số: 0002/2023/901-TD-CV ngày 06/01/2023, Giấy nhận nợ số: 01/GNN-0002/2023/901-TD-CV ngày 06/01/2023 với nội dung: Số tiền vay: 1.290.000.000 đồng; Thời hạn vay: 12 tháng; Lãi suất: 14,2%/năm, lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần; Mục đích vay: Vay mua sắm trang thiết bị nội thất. Thực hiện theo Hợp đồng tín dụng đã ký, Ngân hàng TMCP N1 đã giải ngân cho ông K và bà H số tiền vay theo Giấy nhận nợ số: 01/GNN-0002/2023/901-TD-CV ngày 06/01/2023. Kể từ thời điểm giải ngân ngày 06/01/2023 cho đến nay bị đơn chỉ mới thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền 354.363.853 đồng, trong đó nợ gốc là 153.931.702 đồng, nợ lãi là 200.432.151 đồng. Dư nợ đến thời điểm hiện tại 1.452.325.849
đồng. Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng TMCP N1 khởi kiện yêu cầu ông K và bà H phải thanh toán nợ vay. Bị đơn ông K và bà H thống nhất với nguyên đơn về việc ký kết Hợp đồng tín dụng từng lần số: 0002/2023/901-TD-CV ngày 06/01/2023 và giấy nhận nợ số: 01/GNN-0002/2023/901-TD-CV ngày 06/01/2023. Tuy nhiên, do tình hình kinh tế khó khăn nên bị đơn không thể thanh toán nợ đúng hạn cho Ngân hàng. Nay đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N1 thì ông K và bà H đồng ý. Tuy nhiên, ông K và bà H đề nghị Ngân hàng TMCP N1 cho ông K và bà H đến ngày 15/01/2025 để thanh toán nợ và giải chấp tài sản.
[3] Xét, Hợp đồng tín dụng từng lần số: 0002/2023/901-TD-CV ngày 06/01/2023 được ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn thể hiện ý chí tự nguyện thỏa thuận của các bên, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải thực hiện. Thực hiện hợp đồng Ngân hàng TMCP N1 giải ngân cho ông K và bà H số tiền vay 1.290.000.000 đồng theo giấy nhận nợ số: 01/GNN-0002/2023/901-TD-CV ngày 06/01/2023. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông K và bà H đã vi phạm nghĩa vụ, không thanh toán nợ đầy đủ, đúng hạn, do đó khoản vay đã chuyển thành khoản nợ quá hạn từ ngày 15/12/2023. Tại biên bản lấy lời khai, bị đơn thống nhất số tiền còn nợ của nguyên đơn, do tình hình kinh tế khó khăn nên đề nghị Ngân hàng cho bị đơn thời gian đến ngày 15/01/2025 để thanh toán nợ, xóa thế chấp. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại đã quá thời hạn gia hạn nhưng bị đơn vẫn không thể thanh toán được nợ vay. Do, bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo đúng với thỏa thuận đã ký kết với Ngân hàng N1. Vì vậy, Ngân hàng N1 yêu cầu ông K và bà H phải thanh toán nợ phát sinh theo Hợp đồng tín dụng từng lần số: 0002/2023/901-TD-CV ngày 06/01/2023, tính đến ngày 27/02/2025 số tiền 1.452.325.849 đồng, trong đó: Nợ gốc: 1.136.068.298 đồng, lãi trong hạn: 748.458 đồng, lãi chậm trả: 85.304 đồng, lãi quá hạn: 315.423.789 đồng. Ngoài ra, bị đơn còn phải tiếp tục thanh toán cho nguyên đơn tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
[4] Hợp đồng thế chấp tài sản số: 0179/2020/901-BĐ ngày 28/12/2020; được công chứng tại Văn phòng C, số công chứng 7394 quyển số 12 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/12/2020 và được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C, tỉnh Bình Dương ngày 29/12/2020. Theo đó, tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất diện tích 163,1 m², thuộc thửa đất số 2132, tờ bản đồ số: 59 tọa lạc khu phố T, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 160612, vào sổ cấp GCN số CS08513 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 24/09/2015, cập nhập biến động lần cuối ngày 11/02/2020. Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ tài sản trên đất gồm có 01 nhà ở riêng lẻ loại 01 tầng
có kết cấu nền gạch men, tường gạch xây tô sơn nước (bên trong có ốp gạch men lững), khung cột gạch, trần thạch cao, cửa kính khung nhôm, cửa kính cường lực, cửa sắt cuốn, mái tôn, gác gỗ bên trong. Quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền trên đất nêu trên là tài sản của ông Nguyễn Văn K và bà Chu Thị H. Theo đó, ông K và bà H đã sử dụng tài sản trên của mình để đảm bảo khoản vay tại Ngân hàng TMCP N1. Xét, Hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên thể hiện sự tự nguyện của các bên, không trái đạo đức, không trái pháp luật, tuân thủ quy định về hình thức và được đăng ký giao dịch đảm bảo đúng quy định của pháp luật nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải thực hiện. Do đó, trường hợp ông K và bà H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng N1 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất nêu trên để thu hồi nợ là phù hợp.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
[6] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn đã đóng tạm ứng toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ với số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng). Do đó, ông K và bà L phải có trách nhiệm trả lại cho nguyên đơn số tiền nguyên đơn đã tạm ứng.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch trên tổng số tiền phải trả cho nguyên đơn theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa chữa, bổ sung năm 2017; các Điều 299 và 323 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào các Điều 92, 144, 147, 228 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1 đối với ông Nguyễn Văn K và bà Chu Thị H về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
1.1. Buộc ông Nguyễn Văn K và bà Chu Thị H thanh toán cho Ngân hàng N1 số tiền còn nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng từng lần số: 0002/2023/901-TD-CV ngày 06/01/2023 tính đến ngày 27/02/2025 là 1.452.325.849đ (một tỷ bốn
trăm năm mươi hai triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn tám trăm bốn mươi chín đồng), trong đó:
- + Nợ gốc: 1.136.068.298đ (một tỷ một trăm ba mươi sáu triệu không trăm sáu mươi tám nghìn hai trăm chín mươi tám đồng);
- + Nợ lãi trong hạn: 748.458đ (bảy trăm bốn mươi tám nghìn bốn trăm năm mươi tám đồng).
- + Nợ lãi quá hạn: 315.423.789đ (ba trăm mười lăm triệu bốn trăm hai mươi ba nghìn bảy trăm tám mươi chín đồng).
- + Lãi chậm trả: 85.304đ (tám mươi lăm nghìn ba trăm lẻ bốn đồng).
Tiền lãi được tiếp tục tính từ ngày 28/02/2025 cho đến khi ông Nguyễn Văn K và bà Chu Thị H trả xong khoản nợ theo mức lãi suất thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng từng lần số: 0002/2023/901-TD-CV ngày 06/01/2023.
1.2. Trường hợp ông Nguyễn Văn K và bà Chu Thị H không thanh toán số tiền trên thì Ngân hàng N1 được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ bao gồm: Quyền sử dụng đất diện tích 163,1 m², thuộc thửa đất số 2132, tờ bản đồ số 59, tọa lạc khu phố T, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 160612, vào sổ cấp GCN số CS08513 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 24/09/2015, cập nhập biến động lần cuối ngày 11/02/2020; Tài sản trên đất: Nhà ở riêng lẽ loại 01 tầng có kết cấu nền gạch men, tường gạch xây tô sơn nước, bên trong có ốp gạch men lững), khung cột gạch, trần thạch cao, cửa kính khung nhôm, cửa kính cường lực, cửa sắt cuốn, mái tôn, gác gỗ bên trong.
2/ Chi phí tố tụng khác: Ông Nguyễn Văn K và bà Chu Thị H phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP N1 chi phí xem xét thẩm định tại chỗ với số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng).
3/ Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Văn K và bà Chu Thị H phải chịu 55.569.775đ (năm mươi lăm triệu năm trăm sáu mươi chín nghìn bảy trăm bảy mươi lăm đồng). Trả lại cho Ngân hàng N1 số tiền 25.838.980đ (hai mươi lăm triệu tám trăm ba mươi tám nghìn chín trăm tám mươi đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001640 ngày 30/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
4/ Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thương |
Bản án số 23/2025/DS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 23/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP N - Nguyễn Văn K
