Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HOA LƯ

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/HSST

Ngày 24 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Tú Anh

Ông Phạm Kim Thành

Thư ký phiên toà: Ông Đinh Huy Hiệp – Thẩm tra viên Toà án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Lê Quang Đạt - Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2025/TLST - HS ngày 15/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST-HS ngày 12/02/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Anh D, sinh năm 1988 tại tỉnh Phú Thọ. Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Tổ A, khu T, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Đỗ Kim N và con bà Trần Thị D1 (Đã chết); Vợ: Phạm Thị Thủy T; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án: Tại bản án số 172/2020/HS-PT ngày 09/10/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt Đỗ Anh D 03 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Ra trại ngày 06/10/2022; Tiền sự: Chưa có; Nhân thân: Tại bản án số 177/2006/HSST ngày 28/6/2006, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt Đỗ Anh D 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” (Đã được xóa án tích); Tại bản án số 142/2010/HSST ngày 30/7/2010, Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt Đỗ Anh D 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ra trại ngày 13/03/2011 (Đã được xóa án tích); Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 01/10/2024, chuyển tạm giam ngày 10/10/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay (Có mặt tại phiên toà).

Bị hại: Chị Bùi Thị D2, sinh năm 1990. Vắng mặt.

Trú tại: Thôn E, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình.

Người làm chứng: Anh Kiều Văn Đ, sinh năm 2000. Vắng mặt

Trú tại: xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

Chị Đỗ Thị Phương T1, sinh năm 1997. Vắng mặt.

Trú tại: Phố M, phường N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình.

Ông Đỗ Văn P, sinh năm 1962. Vắng mặt.

Trú tại: Phố M, phường N, thành phố H, tỉnh Ninh Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Anh D có mối quan hệ tình cảm với chị Bùi Thị D2 sinh năm 1990 trú tại thôn E, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình nhưng sau đó hai bên xảy ra mâu thuẫn và đã chia tay. Chiều ngày 18/9/2024, Đỗ Anh D đi đến thành phố N (Nay là thành phố H) tìm gặp chị D2. Khoảng 22 giờ 15 phút cùng ngày, chị D2 đang ở tại phòng 505, khách sạn K, địa chỉ tại số nhà D, đường T, phố K, phường N, thành phố N (là nơi chị D2 thuê trọ) nói chuyện cùng anh Trần Đăng M (sinh ngày 04/9/2007 trú tại xã X, huyện N, tỉnh Ninh Bình) là bạn của chị D2. Khi D về đến thành phố N thì D thuê xe taxi đi đến khách sạn K và đi bộ lên tầng 5 để tìm gặp chị D2. Khi vào phòng 505 gặp chị D2 thì D dùng tay túm tóc và tát nhiều phát vào vùng đầu chị D2. Sau đó D giật lấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max của chị D2 đang cầm trên tay trái. D nói với chị D2 “Mày đi ra đây nói chuyện với tao” rồi dùng tay phải quàng cổ kéo chị D2 ra ngoài, đi xuống dưới tầng hầm của khách sạn. D kéo chị D2 xuống tầng hầm để xe của khách sạn K, đến chân cầu thang thì D dùng tay tát chị D2. Lúc này chị Đỗ Thị Phương T1 (sinh ngày 30/01/1997 trú tại phố M, phường N, thành phố N) là quản lý của khách sạn cùng ông Đỗ Văn P sinh năm 1962 (bố của chị T1) nhìn thấy can ngăn, chị D2 hô hoán “Chị T1 ơi cứu em” thì D bỏ chị D2 ra rồi cầm chiếc điện thoại của chị D2 đi ra cửa khách sạn ném xuống nền vỉa hè trước làm chiếc điện thoại của chị D2 bị hư hỏng, vỡ màn hình, vỡ miếng dán cường lực, cong khung viền và vỡ mặt lưng. Đỗ Anh D đứng chửi bới chị D2, sau đó nhặt chiếc điện thoại của chị D2 mang lên xe taxi đi lên thành phố Hà Nội. Sau đó D đưa chiếc điện thoại cho anh Kiều Văn Đ sinh ngày 21/2/2000 (trú tại xã V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc) là chủ quán điện thoại D quen biết nhờ anh Đồng thay màn hình để sử dụng. Anh Đ thay màn hình xong thì đưa lại chiếc điện thoại cho D. Đến ngày hôm sau thì D đưa lại chiếc điện thoại cho anh Đ và nói với anh Đ sửa chiếc điện thoại trên, nếu chi phí đắt quá thì bán đi. Do chiếc điện thoại D đưa cho anh Đ bị hư hỏng nhiều bộ phận, chi phí sửa chữa đắt nên anh Đ không sửa. Anh Đồng tháo màn hình D nhờ thay hộ trước đó, lắp lại màn hình bị vỡ của chiếc điện thoại và giữ lại không bán chiếc điện thoại cho ai. Sau khi Cơ quan điều tra triệu tập làm việc thì anh Đ đã tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max vỡ màn hình, vỡ miếng dán cường lực, cong khung viền và vỡ mặt lưng cho Cơ quan điều tra.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 60/KL-HĐĐGTS ngày 01/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max có trị giá 13.000.000 đồng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 61/KL-HĐĐGTS ngày 04/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N kết luận: 01 màn hình điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max có trị giá 7.500.000 đồng, 01 miếng dán cường lực màn hình điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max trị giá 50.000 đồng, 01 bộ vỏ điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max trị giá 1.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản sau định giá là 9.050.000 đồng.

Tại bản Kết luận định giá lại tài sản số 29/KL-HĐĐGTS ngày 04/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Ninh Bình kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max có trị giá 13.000.000 đồng.

Tại bản Kết luận định giá lại tài sản số 31/KL-HĐĐGTS ngày 04/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Ninh Bình kết luận: 01 màn hình điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max có trị giá 8.000.000 đồng, 01 miếng dán cường lực màn hình điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max trị giá 50.000 đồng, 01 bộ vỏ điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max trị giá 1.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản sau định giá là 9.550.000 đồng.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 146/KLTTCT-TTPY ngày 04/12/2024 của Trung tâm P1 - Sở Y kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Bùi Thị D2 là 0%.

Tổng giá trị tài sản Đỗ Anh D đã chiếm đoạt của chị Bùi Thị D2 là 13.000.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 12/CT-VKSNDTPHL ngày 13/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư đã truy tố bị cáo Đỗ Anh D về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Đỗ Anh D phạm tội “Cướp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Anh D từ 04 (B) năm tù đến 04 (Bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 01/10/2024.

Bị cáo phải nộp nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Anh D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; không có ý kiến gì với Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư.

Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tội danh: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai người của bị hại, người làm chứng, bản kết luận định giá tài sản và những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 22 giờ 20 phút ngày 18/9/2024, tại khách sạn K có địa chỉ tại số nhà D, đường T, phố K, phường N, thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình. Bị cáo Đỗ Anh D có hành vi sử dụng tay túm tóc, tát và đánh vào đầu chị Bùi Thị D2, sau đó chiếm đoạt chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max trị giá 13.000.000 đồng của chị D2 thì bị phát hiện.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Việc truy tố, đưa ra xét xử, buộc bị cáo phải chịu trách nhịêm hình sự là cần thiết. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 168. Tội cướp tài sản

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

................................................

[3] Xét về nhân thân; tình tiết tăng nặng; giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đỗ Anh D phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt: Hội đồng xét xử thấy cần buộc bị cáo phải chịu mức hình phạt tù cách ly xã hội một thời gian tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện mới có đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời răn đe phòng ngừa chung.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max vỡ màn hình, vỡ miếng dán cường lực, cong khung viền và vỡ mặt lưng. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của chị Bùi Thị D2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại cho chị D2 là có căn cứ, đúng quy định. Sau khi nhận lại tài sản, chị D2 không yêu cầu, đề nghị Đỗ Anh D phải bồi thường đối với hư hỏng của chiếc điện thoại cũng như đối với việc bị Đỗ Anh D gây thương tích nên vấn đề trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Bị cáo bị tuyên là có tội nên phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời gian luật định.

[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Anh D phạm tội “Cướp tài sản”.

    Căn cứ khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Đỗ Anh D 04 (B) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 01/10/2024.

  2. Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đỗ Anh D phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng). Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TANDtỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSNDTP Hoa Lư;
  • - Chi Cục THADS thành phố Hoa Lư;
  • - Công an thành phố Hoa Lư;
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình;
  • - THA hình sự
  • - Bị cáo; Người liên quan;
  • - Lưu HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HSST ngày 24/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ - TỈNH NINH BÌNH về cướp tài sản

  • Số bản án: 23/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ - TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Anh D phạm tội cướp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger