Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÒN ĐẤT

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24/02/2025

Tranh chấp ly hôn và nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Nguyễn Thanh Huy;

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Nguyễn Thị Hồng Ánh;
  • Ông Nguyễn Văn Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mộng Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lương Thành Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 01/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2025 về tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 03/2025/QĐST-HNGĐ giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Trần Thị L, sinh năm: 1995. Địa chỉ: Tổ A, ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng T, sinh năm: 1983. Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang. Thường trú: Tổ 1, ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị L trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2013, chị và anh Nguyễn Hoàng T tự tìm hiểu, yêu thương, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh An Giang cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 129/2015, quyển số 01/2015, ngày 17/12/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị về sinh sống tại tổ A, ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Kiên Giang.

Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc, nhưng đến đầu năm 2024 giữa chị và anh T thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh T không lo làm ăn, bỏ mặc mẹ con chị. Chị đã cho anh T nhiều cơ hội để sửa đổi, nhưng anh T vẫn chứng nào tật nấy. Vì các lý do trên, chị nhận thấy vợ, chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa, chị muốn giải thoát cuộc hôn nhân này, để mỗi người có cuộc sống mới tốt hơn. Nên chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Hoàng T.

- Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau, chị và anh T có hai người con chung tên Nguyễn Nhật H, sinh ngày 16/01/2014 và Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh ngày 17/3/2016. Từ khi hai con sinh ra đã sinh sống với gia đình bên ngoại, do chị và gia đình bên ngoại nuôi dưỡng. Do đó, khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung đến trưởng thành. Chị không yêu cầu anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị L xác định quá trình chung sống giữa chị và anh T không có tài sản chung, nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Hoàng T trình bày tại bản tự khai ngày 08/01/2025 như sau:

Anh thống nhất với trình bày của chị L về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung. Đối với yêu cầu khởi kiện của chị L, anh có ý kiến như sau:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Anh đồng ý ly hôn với chị Trần Thị L.
  • - Về con chung: Quá trình chung sống với nhau, anh và chị L có hai người con chung tên Nguyễn Nhật H, sinh ngày 16/01/2014 và Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh ngày 17/3/2016. Anh yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung đến tuổi trưởng thành. Anh không yêu cầu chị L1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
  • - Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Anh và chị L1 không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa:

Chị Trần Thị L trình bày: Về hôn nhân: Chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng T; Về con chung: Chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con tên Nguyễn Nhật H, sinh ngày 16/01/2014 và Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh ngày 17/3/2016 đến tuổi trưởng thành. Chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Hội đồng xét xử (HĐXX) giải quyết.

Anh Nguyễn Hoàng T trình bày: Về hôn nhân: Anh đồng ý ly hôn với chị Trần Thị L; Về con chung: Anh yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con tên Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh ngày 17/3/2016 đến tuổi trưởng thành; anh đồng ý giao con tên Nguyễn Nhật H, sinh ngày 16/01/2014 cho chị L1 được nuôi dưỡng, không bên nào phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu HĐXX giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa trình bày như sau:

  • - Việc thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • - Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị L với anh Nguyễn Hoàng T.
  • - Về quan hệ con chung: Giao hai con chung tên Nguyễn Nhật H, sinh ngày 16/01/2014 và Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh ngày 17/3/2016 cho chị Trần Thị L được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con đến tuổi trưởng thành.
  • - Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu, nên HĐXX không giải quyết.
  • - Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị Trần Thị L và anh Nguyễn Hoàng T thống nhất là không có, nên đề nghị HĐXX không giải quyết.
  • - Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp án phí hôn nhân theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, HĐXX nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án chị Trần Thị L xin được ly hôn và nuôi con với anh Nguyễn Hoàng T. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn anh Nguyễn Hoàng T có nơi cư trú tại ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Kiên Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị L và anh Nguyễn Hoàng T tự tìm hiểu, yêu thương, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh An Giang cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 129/2015, quyển số 01/2015, ngày 17/12/2015. Như vậy, hôn nhân giữa chị L với anh T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu của chị L về việc xin ly hôn với anh T thấy rằng: Trong quá trình chung sống giữa chị L và anh T có phát sinh mâu thuẫn, mà theo trình bày của chị L là do anh T không lo làm ăn, bỏ mặc mẹ con chị. Chị đã cho anh T nhiều cơ hội để sửa đổi, nhưng anh T vẫn chứng nào tật nấy, nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, nên đầu năm 2024 chị L đi làm và đã chính thức sống ly thân với anh T. Chị L xác định trong thời gian chị và anh T sống ly thân với nhau, thì giữa chị và anh T không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa, cũng không thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành giải thích pháp luật và động viên để hai bên đoàn tụ gia đình, nhưng chị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với anh T. Đồng thời, anh T cũng có ý kiến đồng ý ly hôn với chị L.

Do đó, HĐXX áp dụng Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, ghi nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị L với anh Nguyễn Hoàng T.

[3.2] Về quan hệ con chung: Chị L và anh T có hai người con chung tên Nguyễn Nhật H, sinh ngày 16/01/2014 và Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh ngày 17/3/2016. Hiện tại con đang ở với chị L và gia đình bên ngoại, nên khi ly hôn chị L yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con đến tuổi trưởng thành, chị L không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.

Còn anh T cũng có trình bày, khi ly hôn yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con tên Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh ngày 17/3/2016 đến tuổi trưởng thành; anh T đồng ý giao con tên Nguyễn Nhật H, sinh ngày 16/01/2014 cho chị L1 được nuôi dưỡng, không bên nào phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

HĐXX xét thấy, từ khi hai cháu Nhật H và Ngọc H1 sinh ra, hai cháu sống bên ngoại, được sự yêu thương chăm sóc của gia đình bên ngoại, các cháu đã quen với cuộc sống có chị, có em, nếu xử giao một trong hai cháu cho anh T là tách hai cháu ra sống riêng ở đây, làm thay đổi hoàn cảnh, môi trường sống hiện tại của các cháu, sẽ không tốt cho các cháu. Đối với cháu Ngọc H1 là bé gái, đang trong giai đoạn phát triển về thể chất lẫn tâm, sinh lý nên rất cần sự trông nom, chăm sóc của người mẹ. Do đó, việc giao cháu Ngọc H1 cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Bên cạnh đó, hai cháu Nhật H và Ngọc H1 đều có tự khai mong muốn sống với mẹ.

Tại phiên tòa chị L xác định chị có đủ khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc tốt cho con. Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nếu chị L không đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, làm ảnh hưởng đến lợi ích của con chung, thì anh T có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì vậy, để đảm bảo ổn định cuộc sống và nhằm giúp cháu Nhật H và Ngọc H1 phát triển tốt về mọi mặt, nên tiếp tục giao cho chị L được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai cháu Nhật H và Ngọc H1 đến tuổi trưởng thành là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị L và anh T đều được thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.

[3.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị L tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

[3.4] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị L và anh T xác định anh chị không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không giải quyết.

[4] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì chị Trần Thị L phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[5] Ý kiến phát biểu của Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất tham gia phiên toà là có cơ sở, nên HĐXX xem xét chấp nhận trong quá trình nghị án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Áp dụng Điều 55, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị L với anh Nguyễn Hoàng T.
  2. Về quan hệ con chung: Giao hai cháu tên Nguyễn Nhật H, sinh ngày 16/01/2014 và Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh ngày 17/3/2016 cho chị Trần Thị L được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
    • - Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
    • - Về quyền thăm nom, chăm sóc con chung: Trong thời gian chị Trần Thị L nuôi con; anh Nguyễn Hoàng T được quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.
  3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Thị L và anh Nguyễn Hoàng T xác định giữa anh chị không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc chị Trần Thị L phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị L đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009813 ngày 02 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Chị L không phải nộp thêm.
  5. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có mặt tại phiên toà quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND huyện Hòn Đất;
  • - THADS huyện Hòn Đất;
  • - UBND xã Vĩnh Bình, huyện Châu Thành, An Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lâm Nguyễn Thanh Huy

6. Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 23/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị L kiện Nguyễn Hoàng T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger