Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/HSPT

Ngày 18-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hoàn.

Các Thẩm phán: Bà Đỗ Thị Hà;

Ông Ngô Thế Tương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Trung Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Mạnh Tính - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 208/2024/TLPT-HS ngày 10 tháng 12 năm 2024 đối với các bị cáo Phạm Văn T, Nguyễn Thị Hương L do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 99/2024/HS-ST ngày 16/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

- Bị cáo có kháng cáo:

  1. Phạm Văn T - sinh năm 1982 tại huyện Q, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn H, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn M và bà Đinh Thị L1; vợ: Lê Thị Y và có 04 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Từ tháng 03/2001 đến tháng 11/2003 tham gia nghĩa vụ quân sự. Ngày 30/7/2019, Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình ra quyết định số 184/QĐ-XPHC xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc (thi hành xong quyết định ngày 05/8/2019); bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (có mặt tại phiên tòa)
  2. Nguyễn Thị Hương L, sinh năm 1973 tại huyện Q, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Xuân N và bà Nguyễn Thị Thanh T1; chồng: Phạm Văn T2 và có 02 con, con lớn sinh năm 1993, con nhỏ sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại:

  1. Chị Nguyễn Thị Hương L, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình. (có mặt)
  2. Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1981; (có mặt)
  3. Chị Vũ Thị Y1, sinh năm 1983; (có mặt)

Đều cư trú: Thôn V, xã A huyện Q, tỉnh Thái Bình

Trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Nguyễn Đình C; những người làm chứng chị Đoàn Thị N1, anh Hoàng Duy N2, chị Lê Thị Y, anh Nguyễn Văn T3 không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn T có giấy phép lái xe hạng FC, số [...], do Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 05/12/2020, thời hạn đến ngày 05/12/2025. Tối ngày 23/01/2024, sau khi ăn cơm, uống khoảng 100ml rượu gạo, T điều khiển xe ô tô con, nhãn hiệu Toyota, màu sơn vàng, chỗ ngồi 5, biển số 17A-151.10, đi từ nhà đến thị trấn A, huyện Q chơi. Khoảng 21 giờ 45 phút, T điều khiển xe ô tô trên theo đường Q, hướng Hải Phòng đi Thái Bình, để về nhà. Đến 22 giờ, xe T điều khiển đi tới km số 61+750 mét, đường Q, thuộc thôn V, xã A, huyện Q. Đường thẳng, rải nhựa asphalt tương đối bằng phẳng, rộng 11,5 mét, chia thành 02 chiều đường, chiều Hải Phòng đi Thái Bình và ngược lại, phân chia bằng vạch sơn màu vàng, loại vạch đơn kích thước (02 x 0,15) mét kẻ nét đứt giữa tim đường. Chiều Hải Phòng đi Thái Bình rộng 5,4 mét, được chia thành 02 làn đường, làn giáp tim đường rộng 3,4 mét, làn giáp mép đường rộng 1,9 mét, phân chia bằng vạch sơn màu vàng, loại vạch đơn kích thước (02 x 0,15) mét kẻ nét đứt dọc theo đường. Chiều Thái Bình đi Hải Phòng rộng 5,45 mét, được chia thành 02 làn đường, làn giáp tim đường rộng 3,4 mét, làn giáp mép đường rộng 1,9 mét, phân chia bằng vạch sơn màu vàng, loại vạch đơn kích thước (02 x 0,15) mét kẻ nét đứt dọc theo dường. Giáp mép đường chiều Hải Phòng đi Thái Bình là cống thoát nước rộng 01 mét nắp bê tông cao bằng mặt đường, lề đường có cột biển báo giao nhau với đường không ưu tiên (W.207d), được chỉ dẫn bằng biển phụ (biển số 5.502) phạm vi tác dụng 400 mét và cột biển báo đường người đi bộ sang ngang (biển số 1.423). Giáp mép đường chiều Thái Bình đi Hải Phòng là cống thoát nước rộng 01 mét nắp bê tông cao bằng mặt đường, lề đường có cột biển báo giao nhau với đường không ưu tiên (W.207d), được chỉ dẫn bằng biển phụ (biển số 5.502) phạm vi tác dụng 400 mét. Lúc này, trời tối không mưa, có đèn đường, mật độ phương tiện tham gia giao thông đông. T bật đèn chiếu sáng (cos), điều khiển xe với tốc độ khoảng 70km/h trên làn giáp tim đường bên phải chiều đi. Ở phía trước, làn giáp tim đường bên trái có xe ô tô đầu kéo, kéo sơmi rơmooc, bật đèn chiếu xa đi tới. Bị hạn chế tầm nhìn do ánh sáng của đèn xe đi ngược chiều nhưng T vẫn không giảm tốc độ.

Khi đi qua xe ô tô trên, T phát hiện phía trước, cách đầu xe khoảng 20 mét, có xe mô tô, sau này T mới biết do Nguyễn Thị Hương L điều khiển chở chị Nguyễn Thị P và chị Vũ Thị Y1 (cả ba đều không đội mũ bảo hiểm) đi ngược chiều đường (trái đường) chuyển hướng chéo từ làn giáp mép đường ra làn giáp tim đường bên phải chiều đi. L khai có giấy phép lái xe hạng A1, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Airblade, màu sơn đen, biển số 17B1-554.59, có bật đèn chiếu sáng, chở chị P và chị Y1 đi ngược chiều (hướng Thái Bình đi Hải Phòng) ở làn đường giáp mép đường bên phải chiều Hải Phòng đi Thái Bình. Đến khu vực đối diện nhà chị Y1 ở bên phải chiều đường T đi Hải Phòng, L quan sát phía Hải Phòng có xe ô tô, cách khoảng 200 mét, sau biết do T điều khiển đi ở làn giáp tim đường bên phải chiều Hải Phòng đi Thái Bình tới. Cho rằng có thể chuyển hướng sang đường nên L đã giảm tốc độ, bật tín hiệu (rẽ phải), đi chậm chéo sang làn giáp tim đường. Còn T nghĩ xe mô tô sẽ qua được đường nên đã không giảm tốc độ. Xe L điều khiển gần đến vạch kẻ tim đường thì cũng là lúc xe T điều khiển đi tới. Khoảng cách giữa hai phương tiện còn khoảng 02 mét. T dậm phanh, đánh lái sang phải để tránh. Tuy nhiên, do xe ô tô đi nhanh, khoảng cách gần nên mặt cản trước, cụm đèn xe, nắp capô, ốp kim loại, kính chắn gió, gương chiếu hậu bên trái đầu xe ô tô do T điều khiển va chạm với người Lan, chị Y1, chị P và ốp nhựa bàn để chân, ốp nhựa sườn bụng, khung kim loại để hàng, khung kim loại giá đỡ để chân sau, giá để chân sau, cần khởi động, ống giảm xóc sau bên trái xe mô tô. Theo quán tính xe ô tô do T điều khiển tiếp tục đi về phía trước khoảng 15 mét thì dừng lại ở làn giáp tim đường bên phải chiều đi, đầu xe hướng phía Thái Bình. L, chị Y1, chị P bị đẩy ngã văng sang làn giáp tim đường bên phải chiều Thái Bình đi Hải Phòng, cách vạch kẻ tim đường khoảng 0,5 mét. Xe mô tô đổ phải trượt rê sang làn giáp tim đường bên phải chiều Thái Bình đi Hải Phòng, phần ốp nhựa, khung kim loại đỡ bàn để chân trước, mặt trên đầu trước thân máy bên trái xe mô tô va chạm với mặt trước ba đờ sốc, ốp nhựa và tấm kim loại phía dưới gầm, khung kim loại cố định ba đờ sốc đầu xe ô tô tải (Pickup ca bin kép), nhãn hiệu Ford, màu sơn đen, biển số 15C-341.86, do anh Nguyễn Đình C, sinh năm 1988, nơi cư trú: thôn T, xã A, huyện V, thành phố Hải Phòng, có giấy phép lái xe hạng C điều khiển, đi với tốc độ khoảng 35km/h. Anh C dậm phanh chân dừng xe ở giữa làn giáp tim đường bên phải chiều đi. Xe mô tô của L bị đẩy trượt rê 13 mét vào mép đường bên phải chiều Thái Bình đi Hải Phòng, đầu xe hướng Hải Phòng. T, anh C xuống xe đi lại thấy L, chị Y1, chị P chảy máu vùng đầu, nằm trên mặt đường, lần lượt cách đuôi xe anh C từ 02 đến 08 mét đã cùng người dân và gia đình chị Y1 đưa cả ba vào Bệnh viện đa khoa Phụ Dực huyện Q.

Do bị thương tích nặng cả ba được chuyển Bệnh viện đa khoa tỉnh T, Bệnh viện H1. T điều khiển xe ô tô lên lề đường bên phải đỗ trước cửa nhà ông Đỗ Xuân N3 rồi về. Anh C ở lại hiện trường cho đến khi Phòng C1 Công an tỉnh T đến. L bị rách da, chảy máu vùng trán phải, gãy hai xương cẳng chân phải, gãy hai xương cẳng chân trái, vỡ mâm chày gối trái, rách da phức tạp vùng cẳng chân trái, lộ cơ, tổ chức dưới da được chuyển tiếp đến Bệnh viện Đ, Bệnh viện Đ điều trị từ 23/1/2024 đến 26/3/2024. Chị P bị chảy máu dưới nhện rãnh cuộn não thái dương, gây 1/3 giữa xương đùi trái, gãy đầu dưới xương đùi trái, gãy rạn mâm chày trái, gãy gai ngàng L1 đến L5 bên phải, trượt thân đốt sống L4 độ 2 ra trước do hở eo, gãy sụn sườn 5, 6 bên phải, gãy cánh xương cùng bên phải, gãy xương cánh chậu bên phải, tổn thương màng phổi phải (tràn dịch màng phổi phải), vỡ xương mu trái, đụng dập nhu mô gan, vỡ cơ hoành phải được chuyển Bệnh viện Đ điều trị đến ngày 08/02/2024. Chị Y1 bị tổn thương nhu mô não, tổn thương đốt sống cổ C2, vỡ ổ cối khớp háng bên trái, vỡ rạn xương cánh chậu trái, gãy 1/3 giữa hai xương cẳng chân trái, gãy xương sườn 3 bên trái, gãy xương sườn 4, 5 bên trái, tổn thương màng phổi trái (dịch màng phổi trái) được chuyển về Bệnh viện đa khoa tỉnh T điều trị đến ngày 05/3/2024. Hậu quả theo Kết luận giám định: L bị thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể 52%; chị P bị thương tích tỷ lệ tổn thương cơ thể 81%; chị Y1 bị thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể 74%, tổng cộng = 207%; các phương tiện bị hư hỏng, thiệt hại xe ô tô biển số 15C-341.86 trị giá 2.193.333 đồng, xe ô tô biển số 17A-151.10 trị giá 37.976.668 đồng, xe mô tô biển số 17B1-554.59 trị giá 16.201.666 đồng

Bản án hình sự sơ thẩm số 99/2024/HS-ST ngày 16/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tuyên bố các bị cáo Phạm Văn T, Nguyễn Thị Hương L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt:

- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

- Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hương L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án

Bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo đối với các bị cáo.

Ngày 21/10/2024, bị cáo Nguyễn Thị Hương L kháng cáo xin được hưởng án treo.

Ngày 28/10/2024, bị cáo Phạm Văn T kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo T thay đổi nội dung kháng cáo, bị cáo chỉ xin giảm nhẹ hình phạt để yên tâm cải tạo, sớm được trở về với gia đình; bị cáo xuất trình tài liệu mới thể hiện bị cáo có ông nội, ông ngoại được tặng thưởng H, huy chương kháng chiến, xác nhận của chính quyền về hoàn cảnh gia đình bị cáo có bố mẹ đã già yếu, gia đình bị cáo đông con, con út bị tâm thần bẩm sinh nên kinh tế rất khó khăn; bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như án sơ thẩm đã kết luận và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo đồng thời cũng mong muốn Hội đồng xét xử cho bị cáo L được hưởng án treo.

- Bị cáo L giữ nguyên nội dung kháng cáo, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như án sơ thẩm đã kết luận và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo vì sau khi tai nạn bị cáo vẫn chưa đi lại bình thường được mà phải ngồi xe lăn do hai chân phải trải qua nhiều lần phẫu thuật vẫn chưa bình phục; trước khi xảy ra tai nạn bị cáo tham gia nhiều hoạt động có ích cho cộng đồng và xã hội tại địa phương; bị cáo hiện là lao động chính trong gia đình và ở chung với bố mẹ đẻ của bị cáo là những người có công với Nhà nước, được tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương kháng chiến, bằng khen, giấy khen. Bị cáo L cũng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T.

- Bị hại là chị P và chị Y1 khai nhận sức khoẻ đang bình phục, tha thiết xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và cho các bị cáo được hưởng án treo vì tai nạn xảy ra ngoài mong muốn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo của các bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 355, điểm c, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình theo hướng giảm hình phạt cho bị cáo Phạm Văn T từ 09 tháng đến 12 tháng tù, xử phạt bị cáo từ 06 năm 03 tháng đến 06 năm 06 tháng tù; giữ nguyên hình phạt nhưng thay đổi biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị Hương L và cho bị cáo được hưởng án treo.

- Các bị cáo không tranh luận và nói lời sau cùng: Bị cáo T đã nhận thức hậu quả, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, giảm hình phạt thấp hơn nữa cho bị cáo. Bị cáo L xin được hưởng án treo để tiếp tục đi chạy chữa đôi chân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo Phạm Văn T, Nguyễn Thị Hương L gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định là hợp lệ, được chấp nhận xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.

[2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo Phạm Văn T, Nguyễn Thị Hương L:

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm kết luận. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 22 giờ ngày 23/01/2024, tại km số 61+750 đường Q, thuộc thôn V, xã A, huyện Q, Phạm Văn T có giấy phép lái xe hạng FC, điều khiển xe ô tô con nhãn hiệu Toyota, màu sơn vàng, biển số 17A-151.10 lưu thông trên làn giáp tim đường bên phải, hướng Hải Phòng đi Thái Bình, khi hơi thở có nồng độ cồn 0,296 mg/l, nơi có biển báo hiệu giao nhau với đường không ưu tiên (W.207d), được chỉ dẫn bằng biển phụ (biển số S.502) phạm vi tác dụng 400 mét và biển báo đường người đi bộ sang ngang (biển số 1.423), trong điều kiện trời tối bị hạn chế tầm nhìn bởi ánh sáng của đèn xe ô tô đi ngược chiều, đã không tuân thủ quy định về tốc độ, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn nên khi thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Airblade, màu sơn đen, biển số 1781-554.59, do Nguyễn Thị Hương L, có giấy phép lái xe hạng A1, điều khiển chở chị Nguyễn Thị P và chị Vũ Thị Y1 (quá số người quy định) đi ngược chiều đường (trái đường), chuyển hướng không nhường đường cho xe ô tô do T điều khiển đi ngược chiều tới, nên cả hai đã không xử lý kịp để cho mặt cản trước, cụm đèn xe, nắp capô, ốp kim loại, kính chắn gió, gương chiếu hậu bên trái phần đầu xe ô tô va chạm với ba người trên xe mô tô và ốp nhựa bàn để chân, ốp nhựa sườn bụng, khung kim loại để hàng, khung kim loại giá đỡ để chân sau, giá để chân sau, cần khởi động, ống giảm xóc sau bên trái xe mô tô. Sau va chạm, xe mô tô đổ phải trượt rê sang làn giáp tim đường bên phải chiều Thái Bình đi Hải Phòng, ốp nhựa, khung kim loại đỡ bàn để chân trước, mặt trên đầu trước thân máy bên trái xe mô tô va chạm với mặt trước ba đờ sốc, ốp nhựa và tấm kim loại phía dưới gầm, khung kim loại cố định ba đờ sốc của phần đầu xe ô tô tải nhãn hiệu Ford, màu sơn đen, biển số 15C-341.86, do anh Nguyễn Đình C, có giấy phép lái xe hạng C điều khiển. Hậu quả: L bị thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể 52%; chị P bị thương tích tỷ lệ tổn thương cơ thể 81%; chị Y1 bị thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể 74%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của 03 người là 207%; của chị P, chị Y1 là 155%. Các phương tiện bị hư hỏng, thiệt hại gồm: xe ô tô biển số 15C-341.86 trị giá 2.193.333 đồng, xe ô tô biển số 17A-151.10 trị giá 37.976.668 đồng, xe mô tô biển số 1781-554.59 trị giá 16.201.666 đồng.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, hậu quả gây thiệt hại lớn đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ trong đó có sức khoẻ của chính bị cáo L đồng thời còn gây thiệt hại về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ trong đó có thiệt hại của chính bị cáo T. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

“Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

  1. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

...

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

  1. Phạm tội thuộc một trong các trường sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

...

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

  1. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

[3] Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo:

Các bị cáo là người có nhận thức đầy đủ về xã hội và pháp luật nhưng do cẩu thả, chủ quan nên vẫn phạm tội. Tuy nhiên, các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào, nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo T phạm tội có một phần lỗi của bị hại, bị hại L đồng thời còn là bị cáo như bản án sơ thẩm đã nhận định. Hầu hết bị hại đã bình phục sức khoẻ và tha thiết xin án treo, xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Toà án cấp sơ thẩm xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo để quyết định xử phạt bị cáo T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù là, bị cáo L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù là có phần nghiêm khắc.

Cần xác định các bị cáo đều có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này thì đều chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, thực hiện bồi thường đầy đủ, bị hại tiếp tục có mặt ở phiên toà phúc thẩm và tha thiết xin án treo cho các bị cáo, bị cáo T có thời gian tham gia quân đội, nộp thêm các tài liệu mới để trình bày về hoàn cảnh gia đình đông con và có con út bị tâm thần phải điều trị tốn kém, về việc ông nội, ông ngoại của bị cáo là người có công với cách mạng.

Đối với bị cáo T, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, giảm cho bị cáo 01 năm 06 tháng tù để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm được trở về với gia đình và xã hội.

Đối với bị cáo L phải thực hiện phẫu thuật cả hai chân nhiều lần vẫn chưa bình phục sức khoẻ, còn phải ngồi xe lăn có người hỗ trợ khi di chuyển và chăm sóc hàng ngày để chờ phẫu thuật tiếp, nếu phải đi cải tạo tập trung sẽ rất khó khăn, vì vậy cần áp dụng Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự, giữ nguyên hình phạt nhưng chuyển biện pháp chấp hành hình phạt từ cải tạo tập trung sang hưởng án treo để bị cáo tự cải tạo bản thân dưới sự quản lý, giám sát của chính quyền địa phương để bị cáo có cơ hội phục hồi sức khoẻ là phù hợp.

Từ những phân tích trên, căn cứ Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo; căn cứ khoản 1 Điều 355, điểm c, e khoản Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Văn T, Nguyễn Thị Hương L và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát, sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng hướng giảm hình phạt cho bị cáo Phạm Văn T và giữ nguyên hình phạt nhưng thay đổi biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị Hương L để bị cáo L được hưởng án treo.

[4] Về án phí: Kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 355, điểm c, e khoản Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phạm Văn T, Nguyễn Thị Hương L, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 99/2024/HS-ST ngày 16/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình:

1.1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn T, Nguyễn Thị Hương L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

1.2. Về hình phạt:

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn T 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hương L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thị Hương L cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện Q giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[2] Về án phí: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Phạm Văn T, Nguyễn Thị Hương L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 18/02/2025.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan Điều tra, Cơ quan thi hành án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, Chi cục thi hành án Dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình;
  • - Các bị cáo có kháng cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu hành chính tư pháp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thúy Hoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HSPT ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 23/2025/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T, Nguyễn Thị Hương L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger