|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 23/2025/HS-ST Ngày: 12/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Ánh Sáng
2. Bà Nguyễn Thị Thu Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa:
Bà Huỳnh Đức Xuân Thương - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:
Võ Quốc V, sinh ngày 19/12/1986 tại Đồng Nai; CCCD: [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 08/8/2023; Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Nơi sinh sống hiện nay: Ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Quốc A và bà Phạm Thị T; Bị cáo có vợ tên Đặng Nữ A1 T1 và có 01 con sinh năm 2014; Gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con nhỏ nhất.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/10/2024 và chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện L.
- Bị hại: Anh Nguyễn Hoàng B, sinh năm 2006.
Địa chỉ thường trú: Ấp L, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Nơi ở hiện tại: Đường N, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.
(Bị cáo V, bị hại B có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 21 giờ 00 ngày 04/10/2024, anh Nguyễn Hoàng B điều khiển xe mô tô biển số 72K8-037, lưu thông trên Quốc lộ E hướng B - Vũng Tàu. Khi đến km 36+900, Quốc lộ E thuộc ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai thì xe bị tắt máy nên B xuống xe dẫn bộ. Lúc này, Võ Quốc V điều khiển xe mô tô biển số 36B3-509.06 đang đi phía sau thấy vậy chạy lên song song và phụ đẩy xe đi tìm tiệm sửa xe thì anh B đồng ý. V điều khiển xe đẩy xe anh B đi được khoảng 100 mét thì phát hiện trong túi quần bên trái của anh B có 01 điện thoại di động nên V nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại trên. Thực hiện ý định trên, Vương giả V1 nói B gọi vào số điện thoại 0918.306.xxx (do V tự bịa đặt ra) và giới thiệu đó là người sửa xe quen của V. Anh Bảo tưởng thật gọi vào số điện thoại trên nhưng không liên lạc được. V kêu B đưa điện thoại cho V để V gọi dùm, tưởng thật nên B đưa điện thoại hiệu Iphone 11 cho V, nhưng do điện thoại có mật khẩu nên V nói B cho mật khẩu thì B không cho. Lúc này, lợi dụng B không để ý, V cầm điện thoại chiếm đoạt được nhanh chóng điều khiển xe tăng ga bỏ chạy về nhà cất giấu điện thoại. Đến 20 giờ ngày 05/10/2024, V mang điện thoại đến nhà Nguyễn Đức H tại ấp A, xã B nhờ bẻ khóa màn hình. Sau đó, qua định vị anh B xác định được vị trí điện thoại tại ấp A, xã B nên đến Công an xã P trình báo. Đến 20 giờ ngày 06/10/2024, V quay lại nhà H để lấy điện thoại thì H không có ở nhà, điện thoại chưa bẻ khóa gì cả. Cùng lúc này lực lượng Công an xã P cùng bị hại B đến nhà H, anh B xác định V chính là người đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của mình nên lực lượng Công an đã mời V về trụ sở để làm việc.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 99/KL-HĐĐTS ngày 10/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, 64GB, màu đỏ trị giá 5.000.000 đồng
Vật chứng thu giữ, xử lý: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, 64GB, màu đỏ, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại B.
Đối với xe mô tô biển số 36B3-509.06, qua xác minh do bà Phạm Thị T là chủ sở hữu, bà T không biết V mượn sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà T.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, đại diện gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại 3.000.000 đồng tiền tổn thất tinh thần, bị hại B có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Trước Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, bị cáo Võ Quốc V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng cùng các vật chứng, tài liệu đã được thu thập đúng trình tự pháp luật có tại hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Thành giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Võ Quốc V về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1, Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Võ Quốc V từ 12 tháng đến 14 tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
- + Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, 64GB, màu đỏ, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại B.
- + Đối với xe mô tô biển số 36B3-509.06, qua xác minh do bà Phạm Thị T là chủ sở hữu, bà T không biết V mượn sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà T.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, đại diện gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại 3.000.000 đồng tiền tổn thất tinh thần theo yêu cầu, bị hại B có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
- Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo V khai nhận: Lúc 21 giờ 00 ngày 04/10/2024, tại km 36+900, Quốc lộ E thuộc ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai, trong lúc giúp anh Nguyễn Hoàng B đẩy xe mô tô tìm chỗ sửa xe, Võ Quốc V phát hiện trong túi quần của anh B có 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, 64GB, màu đỏ nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt. Thực hiện ý định, V nói dối anh B đưa điện thoại để V gọi điện người sửa xe, tưởng thật anh B đã tạm giao điện thoại cho V nhưng điện thoại cài mật khẩu nên kêu B cung cấp mật khẩu thì B không cho. Lợi dụng lúc B không để ý, V cầm chiếc điện thoại trên rồi nhanh chóng lên xe mô tô điều khiển xe tăng ga bỏ chạy. Sau đó, V mang điện thoại trên đến nhà Nguyễn Đức H ở ấp A, xã B nhờ mở khóa màn hình. Đến 20 giờ ngày 06/10/2024, V quay lại nhà H để lấy điện thoại (lúc này H không có ở nhà, điện thoại chưa bị mở khóa) thì cùng lúc này lực lượng Công an xã P và bị hại B qua định vị đã đến nhà H, anh B xác định V chính là người đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của mình nên lực lượng Công an đã mời V về trụ sở để làm việc.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Bằng cách dùng thủ đoạn gian dối, nói với bị hại đưa điện thoại cho bị cáo gọi cho người sửa xe, bị cáo đã được anh B chuyển giao chiếc điện thoại, sau đó lợi dụng sơ hở của anh B để tẩu thoát. Bị cáo dùng xe mô tô làm phương tiện phạm tội, tuy nhiên tại thời điểm thực hiện hành vi, bị cáo đã dừng xe để nói chuyện với anh B và anh B đã tạm giao tài sản cho bị cáo quản lý, sau đó bị cáo mới tăng ga điều khiển xe bỏ chạy nên không thuộc trường hợp “dùng thủ đoạn nguy hiểm” để cướp giật tài sản.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy tố bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc làm của mình là sai trái, vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài nên đã cố ý phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần thiết buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn thì mới có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét cho bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường tổn thất tinh thần cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) được Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Về xử lý vật chứng:
- + Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, 64GB, màu đỏ, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại B là đúng quy định của pháp luật.
- + Đối với xe mô tô biển số 36B3-509.06, qua xác minh do bà Phạm Thị T là chủ sở hữu, bà T không biết V mượn sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà T là đúng quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, đại diện gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại 3.000.000 đồng tiền tổn thất tinh thần, bị hại B xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Căn cứ Án lệ số 57/2023/AL Về hành vi gian dối nhằm tiếp cận tài sản trong tội “Cướp giật tài sản”;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Võ Quốc V phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo Võ Quốc V 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 07/10/2024.
2. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Trúc |
Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 12/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai về cướp giật tài sản
- Số bản án: 23/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cướp giật tài sản
