|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2025/HS-ST
Ngày: 12-02-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Long
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Lợi
Bà Nguyễn Thị Luận
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Đắc Hùng – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Tấn T, sinh ngày 14/07/2006.
Nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị H; vợ, con: Chưa có.
D1 chỉ bản số: 761 lập ngày 31/10/2024 tại Công an huyện C, Thành phố Hà Nội.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/10/2024.
Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 02 – Công an T4.
Có đơn xin xét xử vắng mặt..
* Người bị hại: Anh Tống Nguyên B, sinh năm 2005
Nơi cư trú: đội D, thôn T, xã T, huyện C, Hà Nội.
Vắng mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Trịnh Văn T1, sinh năm 2009
Người đại diện theo pháp luật của anh Trịnh Văn T1: Ông Trịnh Văn M, sinh năm 1979 và bà Đỗ Thị P, sinh năm 1982 (Bố mẹ đẻ).
Đều cư trú: thôn T, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Ninh.
Vắng mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Xuân C, sinh năm 1995
- Cư trú tại: thôn T, xã T, huyện C, TP Hà Nội.
- Anh Tống Bá V, sinh năm 2005
- Cư trú tại: thôn T, xã T, huyện C, TP Hà Nội.
- Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1960
- Cư trú tại: thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh.
Đều vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Tấn T làm thuê ở Hà Nội. Qua mạng Faebook, T có quen biết bạn gái tên Phạm Quỳnh T2, sinh năm 2010 quê ở tỉnh Nghệ An. Ngày 11/10/2024, T rủ bạn gái Phạm Quỳnh T2 đến nhà anh Nguyễn Xuân C ở xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội chơi và nghỉ qua đêm. Tại đây, T gặp Nguyễn Phạm Tâm T3 (Đ) cư trú tại xã P, huyện Đ tỉnh Lâm Đồng. Cả ba ngồi chơi nói chuyện đến khoảng 01 giờ sáng ngày 12/10/2024 thì có anh Tống Nguyên B, trú tại thôn T, xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội đi chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Wave alpha màu xanh đen bạc, biển kiểm soát 72D - 460.61 đến chơi, cùng đi với B có anh Tống Bá V ở cùng thôn với B đi chiếc xe mô tô không rõ biển kiểm soát đến nhà anh C chơi. Dựng xe máy ngoài sân, anh B và anh V vào ngồi chơi nói chuyện cùng với T, T2 và T3. Trong lúc ngồi chơi nói chuyện, anh B để chìa khóa xe máy trên mặt bàn ăn trong phòng. Ngồi chơi một lúc, anh B lên giường nằm ngủ, còn T, anh V và anh T3 tiếp tục ngồi chơi nói chuyện.
Đến khoảng 03 giờ sáng ngày 12/10/2024, T gọi T2 dậy rủ T2 đi cùng T về Bắc Ninh chơi. Do không có tiền thuê xe ô tô taxi, nên T đã nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe máy của anh B để chở bạn gái. T lấy chìa khóa xe máy trên bàn, rồi đi ra nổ máy xe chở T2 đi về nhà bà Nguyễn Thị X (bà nội T) tại xã T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh. Trên đường đi, T2 có hỏi T đã hỏi mượn xe anh B chưa, thì T nói dối là đã hỏi anh B mượn xe rồi.
Về đến nhà bà X, T đã tháo biển kiểm soát 72D - 460.61 của xe mô tô lấy trộm được ra để cạnh chạn bát ở khu bếp nhà bà X. T2 ở nhà cùng với T thì xảy ra mâu thuẫn cãi nhau, ngày 16/10/2024 T2 bỏ về Nghệ An. T ở nhà bà X sử dụng xe máy trộm cắp đi lại, đến ngày 18/10/2024 T mang chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha màu xanh đen bạc, biển kiểm soát 72D - 460.61 đi bán cho anh Trịnh Văn T1 ở thị Trấn T, huyện L, tỉnh Bắc Ninh được 6.500.000 đồng (có viết giấy bán xe). Khi bán xe T nói dối là xe của T cần tiền nên bán.
Ngày 22/10/2024, T biết tin anh Tống Nguyên B trình báo Công an xã T về việc bị mất trộm xe máy biển kiểm soát 72D - 460.61, nên T đến Cơ quan Điều tra Công an huyện C đầu thú. Cơ quan điều tra tiến hành thu lại xe mô tô biển kiểm soát 72D - 460.61 và các vật chứng liên quan.
* Vật chứng thu giữ:
- 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh đen bạc, không gắn biển kiểm soát, số máy: JA39E2013185, số khung: 3924LY012942, xe cũ đã qua sử dụng (do anh Trịnh Văn T1 tự nguyện giao nộp).
- 01 (Một) biển kiểm soát 72D1-460.61 (do bà Nguyễn Thị X tự nguyện giao nộp).
- 01 (Một) Giấy mua bán xe giữa Nguyễn Tấn T và Trịnh Văn T1.
- 01 (Một) điện thoại Iphone X, màu trắng, số IMEI: 359046086866965 có gắn 01 sim điện thoại số 0967.922.xxx, đã qua sử dụng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 161 ngày 21/10/2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng Hình sự huyện C kết luận: 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh đen bạc, số máy: JA39E2013185, số khung: 3924LY012942 đã qua sử dụng trị giá: 15.000.000 đồng (Bằng chữ: Mười lăm triệu đồng).
Kết quả tra cứu vật chứng chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 72D - 460.61 không có trong dữ liệu vật chứng. Chủ xe mang tên Nguyễn Văn D2 (là chú ruột của anh Tống Nguyên B), đây là xe ông D2 mua cho anh B để làm phương tiện đi lại.
*Xử lý vật chứng:
- Ngày 15/11/2024, Cơ quan Điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh đen bạc, không gắn biển kiểm soát, số máy: JA39E2013185, số khung: 3924LY012942 kèm theo 01 biển kiểm soát 72D1 - 460.61 cho anh Tống Nguyên B.
- Đối với 01 (Một) điện thoại Iphone X, màu trắng, số IMEI: 359046086866965 có gắn 01 sim điện thoại số 0967.922.xxx, đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của T. Ngày 18/11/2024 Cơ quan Điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả chiếc điện thoại và S điện thoại trên cho anh Nguyễn Văn D là bố đẻ của T quản lý.
*Vật chứng còn thu giữ: 01 Giấy mua bán xe viết tay giữa Nguyễn Tấn T và Trịnh Văn T1 được thu giữ, thống kê trong hồ sơ vụ án
* Về trách nhiệm dân sự:
- + Anh Tống Nguyên B đã nhận lại xe không có yêu cầu bồi thường.
- + Cháu Trịnh Văn T1 không yêu cầu T phải trả lại số tiền 6.500.000 đồng.
Cáo trạng số: 07/CT-VKS-CM ngày 15/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Tấn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- Bị cáo Nguyễn Tấn T có đơn xin được xét xử vắng mặt và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Nguyễn Tấn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Tấn T từ 03 tháng 21 ngày đến 05 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/10/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của cơ quan truy tố, về hành vi tố tụng của Điều tra viên, của Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự về: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam, các biện pháp điều tra như: Lấy lời khai bị can, lấy lời khai người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, trưng cầu định giá tài sản, giao nhận các văn bản tố tụng cho bị can. Các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thu thập đầy đủ, đúng trình tự theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên không momg cung, ép cung, bức cung, dùng nhục hình đối với bị can. Quá trình điều tra, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2]. Về sự vắng mặt của bị cáo Nguyễn Tấn T, người bị hại là anh Tống Nguyên B và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Trịnh Văn T1 và người đại diện theo pháp luật của anh Trịnh Văn T1: Bị cáo Nguyễn Tấn T đã có đơn xin xét xử vắng mặt; người bị hại là anh Tống Nguyên B đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Trịnh Văn T1 và người đại diện theo pháp luật của anh Trịnh Văn T1 trong quá trình điều tra không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền mà bị cáo đã nhận. Do vậy, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Xét lời khai của bị cáo Nguyễn Tấn T trong quá trình điều tra phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, kết luận định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở để kết luận:
Tối ngày 12/10/2024, Nguyễn Tấn T cùng với bạn gái Phạm Quỳnh T2 ngồi chơi nói chuyện ở nhà anh Nguyễn Xuân C ở xã T, huyện C, Thành phố Hà Nội. Do Không có tiền thuê xe ô tô taxi để về quê ở Bắc Ninh, đến khoảng 03 giờ 00 phút cùng ngày, T lợi dụng lúc anh Tống Nguyên B đang ngủ, T đã lén lút trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh đen bạc, biển kiểm soát: 72D1-460.61, số máy JA39E2013185, số khung 3924LY012942 của anh Tống Nguyên B trị giá 15.000.000 đồng (Bằng chữ: Mười lăm triệu đồng). Đến ngày 22/10/2024 Nguyễn Tấn T đến Công an huyện C đầu thú.
Hành vi lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu là anh Tống Nguyên B rồi lén lút chiếm đoạt tài sản của anh B là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát: 72D1-460.61, trị giá 15.000.000 đồng mà Nguyễn Tấn T thực hiện đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng số: 07/CT-VKS-CM ngày 15/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Tấn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; xâm phạm đến trật tự công cộng gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn. Do vậy, cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như phòng ngừa chung.
[2.2] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo, tạo điều kiện để bị cáo yên tâm cải tạo.
[2.3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự .
[2.4] Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho người bị hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bản thân bị cáo bị bệnh thiếu máu huyết tán nên thường xuyên phải đi truyền máu là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để xem xét cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[3]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Tống Nguyên B đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Trịnh Văn T1 không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền 6.500.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét trách nhiệm bồi thường.
[4]. Về xử lý vật chứng: Không xem xét.
+ Đối với Phạm Quỳnh T2: Mặc dù, trong quá trình Nguyễn Tấn T thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 72D1 – 460.61, Phạm Quỳnh T2 có mặt và đi cùng T về nhà tại tỉnh Bắc Ninh. Tuy nhiên, khi T2 hỏi T, thì T nói dối T2 về việc T đã hỏi mượn chiếc xe mô tô trên của anh B rồi, nên T2 tin tưởng không hỏi T nữa. Đến nay, ngoài những thông tin nhân thân của T2 do T và những người liên quan cung cấp, thì Cơ quan Cảnh sát Điều tra chưa xác định được chính xác về nhân thân của T2. Các cuộc gọi giữa T với T2 đều gọi qua F, nên không xác định được. Ngày 31/10/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra có văn bản gửi Trung tâm D3 – Bộ C1 đề nghị phối hợp sinh trắc dữ liệu khuôn mặt của đối tượng T2 theo đặc điểm nhận dạng (qua ảnh). Ngày 31/12/2024, Trung tâm D3 có văn bản phúc đáp trả lời: Tiến hành rà soát, tra cứu trên hệ thống Căn cước Công dân kết quả không phát hiện trường hợp nào có sinh trắc khuôn mặt nghi trùng với hình ảnh cung cấp. Do đó, Cơ quan Cảnh sát Điều tra không có căn cứ để làm rõ và không có căn cứ để xử lý T2.
+ Đối với Trịnh Văn T1 (người mua tài sản do T trộm cắp được): Khi T bán cho T1, T nói dối là tài sản của T, giấy tờ bố T đang giữ. Còn biển kiểm soát xe mô tô T tháo ra để rửa xe chưa lắp lại, không có nhu cầu nên muốn bán. Do tin lời T, nên T1 đã mua chiếc xe mô tô trên với giá là: 9.000.000 đồng. Thời điểm giao xe, xe chưa có đủ giấy tờ, biển kiểm soát, nên T1 chỉ đưa cho T số tiền 6.500.000 đồng và thoả thuận khi nào T đưa giấy tờ xe mô tô và biển kiểm soát thì T1 sẽ trả nốt số tiền còn lại. Nên hành vi của T1 không phạm tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự, nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra không đề cập xử lý gì đối với T1 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[5]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tấn T phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự và khoản 5 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Xử phạt Nguyễn Tấn T 03 (Ba) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/10/2024. Trả tự do cho bị cáo Nguyễn Tấn T ngay nếu bị cáo không bị tạm giam về tội phạm khác.
3. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
4. Về xử lý vật chứng: Không xem xét.
5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Tấn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Bị cáo Nguyễn Tấn T, người bị hại là anh Tống Nguyên B; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Trịnh Văn T1 và người đại diện theo pháp luật của anh Trịnh Văn T1 là ông Trịnh Văn M và bà Đỗ Thị P vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Bản được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hoàng Long |
Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 23/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tuyên bố bị cáo phạm tội
