|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2025/DS-PT
Ngày: 10-02- 2025
V/v Tranh chấp về di dời tài sản trên đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Phong Lan
Các Thẩm phán: Ông Bùi Đăng
Ông Lê Minh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồ Thu Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 199/2024/TLPT-DS ngày 24 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp về di dời tài sản trên đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 121/2024/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 09/2025/QĐ-PT ngày 09 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thuận T - sinh năm 1960
- Bà Doãn Thị T1 – sinh năm 1961
- Cùng địa chỉ: B, N, khu phố C, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận
- Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2. Địa chỉ: Lô E Khu dân cư B, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Thanh H - Tổng Giám đốc.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Thanh H: Ông Diệp Quốc Q – sinh năm 1979. Địa chỉ: Tổ E, khu phố A, phường L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, theo giấy ủy quyền ngày 30/8/2024.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Thái Quang Thượng N - Văn phòng L – Đoàn Luật sư tỉnh B.
Người kháng cáo: Bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn T2.
Tại phiên tòa có mặt ông Nguyễn Thuận T, bà Doãn Thị T1, ông Diệp Quốc Q và ông Thái Quang Thượng N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Trong đơn khởi kiện ngày 26/02/2024 và lời khai tại Tòa của nguyên đơn ông Nguyễn Thuận T và bà Doãn Thị T1 trình bày:
Gia đình ông bà được Ủy ban nhân dân huyện H cấp thửa đất số 830, diện tích 1.431m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 291145 ngày 08/5/2003, mục đích sử dụng đất lúa, tọa lạc tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Khoảng năm nào bà không nhớ đến đất để làm ruộng thì thấy Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 lấn chiếm toàn bộ diện tích đất 1.431m², lấn luôn bờ ruộng để đi vô đất có điểm đầu 0,9m, điểm cuối 0,8m dọc theo tường rào của Công ty TNHH S dài 39,4m và chiều dài dọc theo đất của Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 là 39,9m, tổng diện tích bờ ruộng là 31,7m². Sau đó, vợ chồng ông bà đi kiện được giải quyết tại Bản án số 02/2019/DS-ST ngày 22/02/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc và Bản án số 121/2022/DS-PT ngày 27/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận đều công nhận diện tích đất 1.431m² và bờ ruộng diện tích 31,7m² nêu trên cho vợ chồng ông bà. Đến khi thi hành án, Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 không chịu di dời tài sản trên đất nên vợ chồng ông bà khởi kiện yêu cầu Công ty T2 di dời các loại tài sản sau: Trên diện tích bờ ruộng 31,7m² có các tài sản: 01 cây Sộp, 40 cây Cau Vua bao gồm lớn và nhỏ, bờ ruộng này có điểm đầu giáp đường rộng 0,9m, điểm cuối giáp đất của ông T bà T1 rộng 0,8m; một bên giáp tường của Công ty TNHH S có chiều dài 39,4m và một bên giáp đất của Công ty TNHH T2 có chiều dài 39,9m; trên thửa đất số 830, diện tích đất 1.431m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 291145 ngày 08/5/2003 đứng tên Nguyễn Thuận T có tài sản: 250 cây Dầu cao 2,5m vành 10cm, 20 cây Sầu Chiều cao 10m vành 35cm, 40 cây Dừa khoảng 4 năm tuổi và 01 đoạn tường rào xây gạch cao 3m dài 6,5m.
* Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 do ông Diệp Quốc Q đại diện theo ủy quyền trình bày:
Công ty TNHH T2 không đồng ý di dời tài sản theo yêu cầu của ông Nguyễn Thuận T và bà Doãn Thị T1 vì: Diện tích đất 1.431m² là của ông Trần Thanh H, còn đất 1.431m² mà ông Nguyễn Thuận T và bà Doãn Thị T1 kiện là ở vị trí khác. Căn cứ vào hình thể diện tích 1.431m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 291145 ngày 08/5/2003 khác với hình thể đo đạc tại Trích đo bản đồ hiện trạng khu đất tranh chấp ngày 17/02/2017.
* Luật sư Thái Quang Thượng N bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 trình bày:
Trong vụ án này Tòa thụ lý quan hệ pháp luật là tranh chấp quyền sử dụng đất là không đúng, vi phạm khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự vì đất đã được giải quyết ở vụ án khác rồi. Tất cả các loại cây tranh chấp nằm trên thửa đất nào chưa rõ, nằm trên diện tích 1.431m² hay nằm trên diện tích 2.958m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 291416 ngày 25/12/2003 đứng tên hộ Phạm Thị V chuyển nhượng cho ông Lê Thanh H1. Ông T và bà T1 chưa xác định được vị trí đất tranh chấp. Đề nghị Hội đồng xét xử ngừng phiên tòa để xác định lại cây nằm trên đất nào.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 121/2024/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã quyết định:
Căn cứ vào: Khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 158; Điều 165; Điều 166; Điều 227; Điều 228; Điều 244; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 160; Điều 161; Điều 164; Điều 166; Điều 169 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 11; Điều 26; Điều 31; khoản 1 Điều 236 của Luật Đất đai năm 2024; Điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vợ chồng ông Nguyễn Thuận T và bà Doãn Thị T1, buộc bị đơn là Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 phải di dời các tài sản trên đất như sau:
- Di dời tài sản trên bờ ruộng có diện tích 31,7m² gồm: 01 cây Sộp, 40 cây Cau Vua bao gồm lớn và nhỏ. Bờ ruộng này có điểm đầu giáp đường rộng 0,9m, điểm cuối giáp đất của ông T bà T1 rộng 0,8m; một bên giáp tường của Công ty TNHH S có chiều dài 39,4m và một bên giáp đất của Công ty TNHH T2 có chiều dài 39,9m.
- Di dời tài sản trên thửa đất số 830, diện tích đất 1.431m² thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 291145 ngày 08/5/2003 đứng tên Nguyễn Thuận T gồm: 250 cây Dầu cao 2,5m vành 10cm; 20 cây Sầu Chiều cao 10m vành 35cm; 40 cây Dừa khoảng 4 năm tuổi và 01 đoạn tường rào xây gạch cao 3m dài 6,5m.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19 tháng 9 năm 2024, bị đơn Công ty TNHH T2 có đơn kháng cáo toàn bộ nội dung tuyên án của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc và yêu cầu sửa bản án sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo như trên.
- Nguyên đơn yêu cầu giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng:
Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa.
Về nội dung:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh. Do đó xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, nhận thấy theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 01/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc không thể hiện chính xác số lượng cây (chỉ nêu khoảng 250 cây dầu; khoảng 20 cây sầu chiều...) nhưng Bản án sơ thẩm đã tuyên buộc bị đơn di dời 250 cây dầu, 20 cây sầu chiều...) là không chính xác và gây khó khăn cho công tác thi hành án. Do đó, cần điều chỉnh lại cách tuyên tại Bản án số 121/2024/DS-ST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc cho phù hợp là buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 phải di dời toàn bộ tài sản trên thửa đất số 830 và trên đường bờ ruộng điểm đầu giáp đường rộng 0.9m điểm cuối giáp đường bờ ruộng của hộ ông T rộng 0,8m, một bên giáp tường rào của Công ty TNHH S có chiều dài 39.4m và một bên giáp đất Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 có chiều dài 39,9m, có diện tích đất 31.7m². Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và tranh luận tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Luật sư Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 kháng cáo trong thời hạn và đúng quy định của pháp luật nên vụ án được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 Hội đồng xét xử nhận thấy:
Ngày 08/5/2003, ông Nguyễn Thuận T và bà Doãn Thị T1 (là nguyên đơn) đã được Ủy ban nhân dân huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 291145 đối với thửa đất số 830, diện tích 1.431m², đất trồng lúa nước, tọa lạc tại thôn T, xã H, huyện H.
Quá trình canh tác, Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 (là bị đơn) đã lấn chiếm và tạo lập các tài sản (cây cối) trên diện tích đất 1.431m² của nguyên đơn và lấn chiếm con đường đi vào thửa đất số 830 nêu trên. Do đó, hai bên phát sinh tranh chấp.
Tại Bản án số 02/2019/DS-ST ngày 22/02/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc và Bản án số 121/2022/DS-PT ngày 27/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận đã tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T và bà T1 buộc bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 phải trả lại cho ông T, bà T1 thửa đất số 830/1.431m² và buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 phải mở lại đường bờ ruộng điểm đầu giáp đường rộng 0.9m, điểm cuối giáp đường bờ ruộng của hộ ông T rộng 0,8m, một bên giáp tường rào của Công ty TNHH S có chiều dài 39.4m và một bên giáp đất Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 có chiều dài 39,9m, có diện tích đất 31.7m² để cho ông T và bà T1 đi vào thửa đất số 830. Hai bản án trên đã có hiệu lực thi hành.
Sau đó Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 có đơn đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với Bản án số 121. Đến ngày 26/6/2023 Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh ban hành Thông báo số 579/TB-VKS-DS về việc không kháng nghị giám đốc thẩm theo đơn đề nghị của Công ty T2. Ngày 26/6/2024 Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh ban hành Thông báo số 1191/TB-TA trả lời không có cơ sở để kháng nghị giám đốc thẩm Bản án số 121 theo đơn đề nghị của Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2.
Trên cơ sở đơn yêu cầu của ông T, bà T1 Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc đã ban hành Quyết định thi hành án đối với hai bản án nêu trên. Tuy nhiên, do tài sản trên đất chưa được giải quyết nên không thể thi hành án. Do đó, ông T và bà T1 khởi kiện yêu cầu buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 phải di dời toàn bộ tài sản có trên thửa đất số 830 và trên diện tích đường bờ ruộng đi vào thửa đất 830.
Xét thấy, nguyên đơn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 830 nên nguyên đơn là chủ sử dụng hợp pháp thửa đất số 830. Việc bị đơn tự ý tạo lập các tài sản (trồng cây, xây hàng rào) trên thửa đất số 830 và trên đường đi vào thửa đất số 830 là không có căn cứ pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn do đó nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải di dời tài sản và Tòa án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
Xét bị đơn kháng cáo cho rằng số lượng cây trồng đã lâu, không phải nằm trên thửa đất số 830 của nguyên đơn mà nằm trên đất của ông Trần Thanh H đã được cấp giấy chứng nhận; không đánh giá hay xác định số tài sản nằm trên phần đất của nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận, bởi Bản án số 02/2019/DS-ST của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc và Bản án số 121/DS-PT ngày 27/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận đã có hiệu lực pháp luật đều công nhận thửa đất số 830 là của nguyên đơn, đã buộc bị đơn trả lại đất cho nguyên đơn.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn cho rằng thửa đất số 830/1.431m² là đất của ông Trần Thanh H nhưng không đưa ra chứng cứ chứng minh. Đối với việc nguyên đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông H cũng không tranh chấp, khiếu nại nên ý kiến của bị đơn là không có căn cứ chấp nhận.
Bị đơn đã trồng cây trong khoảng thời gian từ năm 2019 đến nay nhưng thửa đất số 830 có mục đích là đất trồng lúa nên việc bị đơn trồng cây lâu năm, xây hàng rào trên đất là không đúng mục đích sử dụng đất, không được phép tồn tại nên Tòa án sơ thẩm buộc bị đơn di dời là đúng quy định.
Quá trình xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 01/8/2024, khi nguyên đơn xác định vị trí thửa đất số 830 và diện tích đường bờ ruộng đi vào thửa đất số 830 để hội đồng xem xét, thẩm định kiểm đếm tài sản trên đất thì bị đơn cũng có mặt và đã thống nhất, ký tên. Theo đó biên bản đã thể hiện đặc điểm, vị trí, diện tích đất nguyên đơn yêu cầu di dời tài sản và tài sản có trên đất. Hơn nữa ngày 07/01/2025 Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận tiến hành xem xét vị trí đất và tài sản trên đất của thửa đất 830, diện tích 1.431m² như Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2019/DS-ST của TAND huyện Hàm Thuận Bắc và Bản án dân sự phúc thẩm số 121/DS-PT ngày 27/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận đã xác định, tuy nhiên nhận thấy theo Biên bản xem xét, thẩm định ngày 01/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc không thể hiện chính xác số lượng cây (chỉ nêu khoảng 250 cây dầu; khoảng 20 cây sầu chiều...) nhưng Bản án sơ thẩm đã tuyên buộc bị đơn di dời 250 cây dầu, 20 cây sầu chiều...) là không chính xác và gây khó khăn cho công tác thi hành án. Do đó, cần điều chỉnh lại cách tuyên tại Bản án số 121/2024/DS-ST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc cho phù hợp là buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 phải di dời toàn bộ tài sản trên thửa đất số 830/1.431m² và trên đường bờ ruộng điểm đầu giáp đường rộng 0.9m, điểm cuối giáp đường bờ ruộng của hộ ông T rộng 0,8m, một bên giáp tường rào của Công ty TNHH S có chiều dài 39.4m và một bên giáp đất Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 có chiều dài 39,9m, có diện tích đất 31.7m².
Từ những nhận định trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
[3] Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm như tòa án cấp sơ thẩm xác định là đúng pháp luật.
[4] Về chi phí tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 phải chịu 2.500.000đ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Số tiền này công ty đã nộp đủ nên không phải nộp nữa.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên bị đơn phải nộp án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[6] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 121/2024/DS-ST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.
[2] Căn cứ:
- Khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 158; Điều 165; Điều 166; Điều 227; Điều 228; Điều 244; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 160; Điều 161; Điều 164; Điều 166; Điều 169 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 11; Điều 26; Điều 31; khoản 1 Điều 236 của Luật Đất đai năm 2024;
- Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Luật Thi hành án dân sự.
[3] Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vợ chồng ông Nguyễn Thuận T và bà Doãn Thị T1, buộc bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 phải di dời toàn bộ các tài sản trên đất như sau:
- Di dời toàn bộ tài sản có trên bờ ruộng có diện tích 31,7m² (gồm cây Sộp, cây Cau Vua...). Bờ ruộng này có điểm đầu giáp đường rộng 0,9m, điểm cuối giáp đất của ông T bà T1 rộng 0,8m; một bên giáp tường của Công ty TNHH S có chiều dài 39,4m và một bên giáp đất của Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 có chiều dài 39,9m.
- Di dời toàn bộ tài sản có trên thửa đất số 830, tờ bản đồ số 1, diện tích đất 1.431m² tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X291145 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 08/5/2003 cho ông Nguyễn Thuận T, bà Doãn Thị T1 (gồm cây Dầu, cây S, cây D ... và 01 đoạn tường rào xây gạch cao 3m, dài 6,5m).
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng:
- Ông Nguyễn Thuận T và bà Doãn Thị T1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét tại chỗ và đo đạc đất. Số tiền chi phí xem xét tại chỗ, định giá tài sản là 2.000.000đ do vợ chồng ông Nguyễn Thuận T, bà Doãn Thị T1 đã nộp tại Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận do Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 hoàn trả.
- Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Ngoài ra, Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 phải chịu 2.000.000đ (hai triệu đồng) để hoàn trả cho vợ chồng ông Nguyễn Thuận T, bà Doãn Thị T1 do vợ chồng ông Nguyễn Thuận T, bà Doãn Thị T1 đã nộp 2.000.000đ tạm ứng chi phí xem xét tại chỗ, định giá tài sản tại Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
[5] Về chi phí tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 phải chịu 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Số tiền này công ty đã nộp đủ nên không phải nộp nữa.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0013672 ngày 24/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
[7] Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[8] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (10/02/2025).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Phong Lan |
Bản án số 23/2025/DS-PT ngày 10/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp về di dời tài sản trên đất
- Số bản án: 23/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về di dời tài sản trên đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thuận T, Doan Thị T1 khởi kiện Công ty TNHH H
