Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HỒNG NGỰ

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 07-02-2025

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con



NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Quốc Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Tấn Dũng.
  2. Bà Lê Kim Tuyền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Diệp Văn Hiếu Nhỏ - Kiểm sát viên.

Ngày 07/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 217/2024/TLST-HNGĐ ngày 22/10/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 293/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/12/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Như Ý, sinh năm 1993; Có đơn xin vắng mặt.

Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Bị đơn: Anh Võ Thiện T, sinh năm 1986; Vắng mặt.

Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.


NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện, Biên bản lấy lời khai, trong quá trình tiến hành tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Thị Như Ý trình bày:

Chị và anh T cưới nhau vào khoảng năm 2009, hôn nhân tự tìm hiểu trước. Có đăng ký kết hôn trể hạn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp vào năm 2013. Sau khi cưới thì sống bên gia đình nhà chị. Thời gian đầu

sống có hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, sống không hợp nhau. Từ năm 2014 đến nay, chị và anh T không còn chung sống. Trong thời gian ly thân, hai bên có gặp gỡ nhưng không thể hàn gắn quan hệ hôn nhân. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh T. Về nuôi con chung: Có 02 con chung tên Võ Cát T1, sinh ngày 03/11/2009 và Võ Ngọc K, sinh ngày 29/01/2012. Hiện nay, các con đang sống cùng chị và có nguyện vọng tiếp tục ở với chị. Chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Võ Thiện T đã được Toà án triệu tập hợp lệ để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh T không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình cho Tòa án.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về tố tụng từ khi thụ lý vụ án và quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán thụ lý giải quyết vụ án theo đúng các quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tiến hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Cho chị Nguyễn Thị Như Ý được ly hôn với anh Võ Thiện T. Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn giao 02 con chung tên Võ Cát T1, sinh ngày 03/11/2009 và Võ Ngọc K, sinh ngày 29/01/2012 cho chị Ý tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: Chưa có yêu cầu nên chưa xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Ý không yêu cầu giải quyết, còn anh T không có văn bản ghi ý kiến, nên Viện kiểm sát không đề cập giải quyết.


NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Như Ý có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn anh Võ Thiện T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, nên Tòa án tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Như Ý và anh Võ Thiện T được pháp luật công nhận, do có đăng ký kết hôn phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Xét yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Như Ý, Hội đồng xét xử nhận thấy có căn cứ để chấp nhận, vì trong quá trình chung sống, giữa chị Nguyễn Thị Như Ý và anh Võ Thiện T phát sinh

mâu thuẫn, dẫn đến việc hai bên không còn chung sống từ năm 2014 đến nay. Hiện tại, chị Nguyễn Thị Như Ý và anh Võ Thiện T không thể hàn gắn quan hệ hôn nhân. Tòa án đã triệu tập anh Võ Thiện T để hòa giải và xét xử theo quy định, nhưng anh Võ Thiện T vắng mặt không có lý do, không thể hiện ý chí muốn đoàn tụ. Điều này cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Như Ý đối với anh Võ Thiện T, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

“Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

[4] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Như Ý và anh Võ Thiện T có hai con chung: tên Võ Cát T1, sinh ngày 03/11/2009 và Võ Ngọc K, sinh ngày 29/01/2012. Hiện nay, các con đang sinh sống ổn định cùng chị Nguyễn Thị Như Ý và có nguyện vọng tiếp tục ở với chị. Anh Võ Thiện T không có yêu cầu nuôi con, do đó, việc giao Võ Cát T1 và Võ Ngọc K cho chị Nguyễn Thị Như Ý tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Anh Võ Thiện T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình. Về cấp dưỡng, chưa có yêu cầu nên chưa xem xét.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên chưa xem xét.

[6] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.

[7] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định

Vì các lẽ trên,


QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 9, 53, 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban

Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Như Ý. Cho chị Nguyễn Thị Như Ý được ly hôn với anh Võ Thiện T.
  2. Về việc nuôi con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Như Ý. Chị Nguyễn Thị Như Ý được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung: Võ Cát T1, sinh ngày 03/11/2009 và Võ Ngọc K, sinh ngày 29/01/2012. Anh Võ Thiện T không phải cấp dưỡng cho con do chị Nguyễn Thị Như Ý tự nguyện không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Như Ý phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0014403 ngày 22/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.
  2. Về quyền kháng cáo: Các đương sự không có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Hồng Ngự;
  • - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn (nếu có);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Đặng Quốc Bình



HỘI THẨM NHÂN DÂN




Bùi Tấn Dũng

Lê Kim Tuyền

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Đặng Quốc Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 23/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger