|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 23/2025/DS-PT Ngày 05/02/2025 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Lâm Sơn
Các Thẩm phán: Ông Lê Quang Tấn
Ông Trần Bá Kha
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:
Ông Trang Minh Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 244/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 45/2024/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 286/2024/QĐ-PT ngày 30 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trương Thị H (Bé S), sinh năm 1969; (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Lao Đ, sinh năm 1977 (Có mặt).
Bà Trần Thị Đ1, sinh năm 1982 (Vợ ông Đ – Có mặt).
Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện U, tỉnh Kiên Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Đ, bà Đ1: Luật sư Đoàn Công T – Văn phòng Luật sư Đoàn Công T thuộc Đoàn Luật sư tỉnh K.
Người kháng cáo: ông Nguyễn Văn Lao Đ, bà Trần Thị Đ1 - bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06/05/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trương Thị H trình bày:
Trong thời gian từ tháng 01/2021 đến tháng 06/2023 vợ chồng ông Nguyễn Văn Lao Đ, bà Nguyễn Thị Đ2 (Sau đây gọi tắt là ông Đ, bà Đ2) nhiều lần vay tiền bà Trương Thị H (Gọi tắt là bà H), tổng số tiền 517.200.000 đồng (Năm trăm mười bảy triệu hai trăm nghìn đồng). Hai bên thỏa thuận lãi suất 03%/tháng. Thời hạn vay khi nào vợ chồng ông Đ, bà Đ2 đáo hạn ngân hàng xong thì trả lại tiền gốc và lãi cho bà H, nhưng khi vợ chồng ông Đ, bà Đ2 đáo hạn ngân hàng xong thì ông, bà không thực hiện như đã thỏa thuận. Đến ngày 24/12/2023 âm lịch giữa bà H và vợ chồng ông Đ, bà Đ2 chốt nợ ông Đ, bà Đ2 nợ bà H là 517.200.000 đồng và ông, bà cam kết đến ngày 15/02/2024 âm lịch sẽ trả cho bà H số tiền 517.200.000 đồng.
Ngoài ra, trong năm 2023 vợ chồng ông Đ, bà Đ2 còn nhờ bà H vay dùm số tiền 137.000.000 đồng (Tức là bà H đi vay tiền của ông Trần Bá T1, sinh năm 1966; địa chỉ ấp M, xã M, U, Kiên Giang, sau đó đem tiền này cho vợ chồng ông Đ, bà Đ2 vay, bằng lãi ông T1 đưa ra 03%/tháng, hiện tiền này bà H đã trả cho ông T1 xong, nên vợ chồng ông Đ, bà Đ2 phải trả lại cho bà H). Mục đích ông Đ, bà Đ2 đóng tiền lãi cho ngân hàng TMCP K, tỉnh Kiên Giang. Từ khi vay đến nay ông Đ, bà Đ2 không trả gốc và lãi cho bà H, nên cùng ngày 24/12/2023 âm lịch vợ chồng ông Đ, bà Đ2 chốt nợ với bà H đối với số tiền vay 137.000.000 đồng. Bà H kêu vợ chồng ông Đ, bà Đ2 ghi biên nhận nợ chốt chung một biên nhận nợ đối với hai khoản nợ (517.200.000đ + 137.000.000đ= 654.200.000₫), nhưng vợ chồng ông Đ, bà Đ2 không đồng ý mà ông, bà nói ghi biên nhận từng khoản nợ, tiền nào nợ tiền bà H, tiền nào nhờ bà H vay dùm từ tiền ông T1, viết như vậy ông Đ, bà Đ2 mới dễ nhớ. Ông Đ, bà Đ2 cũng cam kết đến ngày 15/02/2024 âm lịch sẽ trả tiền cho bà H. Sau đó, vợ chồng ông Đ, bà Đ2 có trả cho bà H gốc được số tiền 16.000.000 đồng, số nợ còn lại 654.200.000₫ – 16.000.000đ = 638.200.000 đồng vợ chồng ông Đ, bà Đ2 đến nay chưa trả cho bà H.
Bà H yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông Đ, bà Đ2 trả cho bà số tiền 638.200.000 đồng và yêu cầu tiền lãi suất theo quy định pháp luật, tính từ ngày 24/12/2023 âm lịch đến khi Tòa án xét xử.
Bị đơn ông Nguyễn Văn Lao Đ, bà Trần Thị Đ1 trình bày: Thời gian từ tháng 10/2021 âm lịch đến tháng 01/2022 âm lịch vợ chồng ông Đ, bà Đ1 có vay bà H số tiền 400.000.000 đồng. Thời hạn 03 tháng, lãi suất 5.000đ/ngày/triệu đồng. Ông Đ đã trả cho bà H gốc 400.000.000 đồng và bà H tính tiền lãi suất là 180.000.000 đồng, ông Đ có trả tiền lãi được 120.000.000 đồng; còn lại nợ lãi 60.000.000 đồng đến nay ông, bà chưa trả cho bà H.
Trong năm 2022 âm lịch vợ chồng ông Đ, bà Đ1 nhiều lần vay thêm bà H tổng số tiền 50.000.000 đồng. Không thời hạn, lãi suất 3.000đ/ngày/triệu đồng. Sau hơn 03 tháng bà H tính lãi bằng 16.000.000 đồng (Ngày, tháng không nhớ). Ông Đ đã trả nợ lãi cho bà H 16.000.000 đồng; còn nợ gốc 50.000.000 đồng vợ chồng ông Đ, bà Đ1 đến nay chưa trả cho bà H.
Tổng cộng vợ chồng ông Đ, bà Đ1 còn nợ bà H số tiền 110.000.000 đồng. Sau đó, bà H lần lượt tính lãi suất 3.000đ/ngày/triệu đồng, cụ thể: Tính lãi lần thứ nhất vào tháng 5/2022 âm lịch, nợ gốc và lãi là 228.000.000 đồng; lần thứ 02 (cách lần thứ nhất 5 - 6 tháng), nợ gốc và lãi là 334.000.000 đồng; lần thứ 03 vào ngày 24/12/2023 âm lịch cũng là ngày các bên chốt nợ. Ông Đ tự viết biên nhận nợ ngày 24/12/2023 âm lịch với số tiền 517.200.000 đồng, nhưng trong biên nhận chỉ thể hiện số tiền 517.200 đồng, do ông ghi không kỹ nên xác nhận lại số nợ trong biên nhận là 517.200.000 đồng.
Ngoài ra, ngày 25/08/2023 vợ chồng ông Đ, bà Đ1 còn vay thêm bà H số tiền 80.000.000 đồng để đóng lãi ngân hàng TMCP K. Lãi suất 5.000đ/ngày/triệu đồng. Vợ chồng ông Đ, bà Đ1 có đóng tiền lãi cho bà H được 8.000.000 đồng, hiện còn nợ bà H gốc 80.000.000 đồng và lãi suất. Đến ngày 24/12/2023 âm lịch ông Đ tự viết biên nhận nợ chốt với bà H số tiền 137.000.000 đồng.
Trong biên nhận ghi ngày 24/12/al do ông Đ ghi không kỹ, ông xác nhận lại là ngày 24/12/2023 âm lịch, do ông viết biên nhận cùng ngày với Biên nhận số tiền 517.200.000 đồng. Ông Đ thừa nhận chữ viết và ký tên trong Biên nhận nợ ngày 24/12/2023 âm lịch với số tiền 137.000.000 đồng là của ông tự viết và chữ ký của ông Đ, bà Đ1.
Vợ chồng ông Đ, bà Đ1 không đồng ý trả cho bà H số tiền 638.200.000 đồng, bởi vì theo ông Đ, bà Đ1 thì ông, bà còn nợ gốc bà H là: 110.000.000 đồng + 80.000.000 đồng = 190.000.000 đồng. Ông Đ, bà Đ1 xin trả gốc cho bà H số tiền 190.000.000 đồng và xin bà H không tính tiền lãi suất. Số tiền 190.000.000 đồng vợ chồng ông Đ, bà Đ1 cam kết đến ngày 25/12/2024 âm lịch sẽ trả cho bà H.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn bà H yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông Đ, bà Đ1 trả nợ theo 02 Biên nhận nợ cùng ngày 24/12/2023 âm lịch mà các bên đã chốt nợ tổng số tiền gốc 654.200.000 đồng, bà H khấu trừ cho vợ chồng ông Đ, bà Đ1 đã trả cho bà với số tiền 16.000.000 đồng, nên số nợ còn lại là 638.200.000 đồng. Bà H yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông Đ, bà Đ1 trả một lần dứt nợ 638.200.000 đồng và tiền lãi suất theo quy định pháp luật từ ngày 15/02/2024 âm lịch (Nhằm ngày 24/3/2024 dương lịch) đến khi Tòa án xét xử.
Việc bị đơn ông Đ, bà Đ1 khai nại cho rằng bà H tính tiền lãi suất 3.000đ/ngày/triệu đồng, cụ thể: Tính lãi lần thứ nhất vào tháng 5/2022 âm lịch, nợ gốc và lãi là 228.000.000 đồng; lần thứ 02, nợ gốc và lãi là 334.000.000 đồng là không đúng, bởi lẻ: Vợ chồng ông Đ, bà Đ1 vay tiền bà H nhiều lần, mỗi lần vay bà đều viết biên nhận nợ, sau đó đến ngày 24/12/2023 âm lịch các bên chốt nợ, tổng số tiền gốc là 654.200.000 đồng. Sau khi các bên chốt nợ thì bà H đã xé bỏ các biên nhận trước, chỉ còn một số biên nhận bà đã nộp cho Tòa án (Do thời gian đã lâu bà H không nhớ vợ chồng ông Đ, bà Đ1 vay cụ thể bao nhiêu tiền, bà cho rằng các bên đã chốt nợ xong nên bà chỉ nhớ hai Biên nhận nợ cùng ngày 24/12/2023, với tổng số tiền 654.200.000 đồng).
Bị đơn ông Đ, bà Đ1 thừa nhận có viết 02 Biên nhận nợ cùng ngày 24/12/2023 âm lịch. Trong đó 01 biên nhận số tiền 137.000.000 đồng và 01 biên nhận nợ số tiền 517.200.000 đồng, tổng cộng là 654.200.000 đồng. Sau đó, vợ chồng ông Đ, bà Đ1 có trả cho bà H được số tiền 16.000.000 đồng. Tổng số tiền 654.200.000 đồng là do bà H tính tiền lãi suất 3.000đ/ngày/triệu đồng. Tính lãi lần thứ nhất vào tháng 5/2022 âm lịch, nợ gốc và lãi là 228.000.000 đồng; lần thứ 02, nợ gốc và lãi là 334.000.000 đồng; lần thứ 03 ngày 24/12/2023 âm lịch cũng là ngày các bên chốt nợ. Ông Đ tự viết hai biên nhận nợ cùng ngày 24/12/2023 âm lịch, tổng số tiền 654.200.000 đồng. Do vậy, theo vợ chồng ông Đ, bà Đ1 xác định hiện ông, bà còn nợ bà H gốc là 130.000.000 đồng. Vợ chồng ông Đ, bà Đ1 đồng ý trả cho bà H gốc 130.000.000 đồng và xin bà H không tính tiền lãi suất.
* Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 45/2024/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị H (Bé S) đối với bị đơn ông Nguyễn Văn Lao Đ, bà Trần Thị Đ1 về việc tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản.
Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn Lao Đ, bà Trần Thị Đ1 phải trả cho bà Trương Thị H số tiền 696.820.000 đồng (Sáu trăm chín mươi sáu triệu, tám trăm hai mươi nghìn đồng). Trong đó, nợ gốc 638.200.000 đồng và nợ lãi 58.620.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và báo quyền kháng cáo theo hạn luật định.
* Đơn kháng cáo ngày 25/9/2024 của bị đơn ông Nguyễn Văn Lao Đ, bà Trần Thị Đ1 yêu cầu Tòa án phúc thẩm xác định tiền nợ thực vay mà ông bà phải hoàn trả cho bà Trương Thị H là 130.000.000 đồng cùng lãi suất theo quy định pháp luật. Về thời hạn tính lãi như sau: khoản tiền 50.000.000 đồng tính từ tháng 01/2023; khoản tiền 80.000.000 đồng tính lãi từ tháng 8/2023.
* Tại phiên tòa phúc thẩm
Nguyên đơn: Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị đơn: Vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, không đồng ý nội dung khởi kiện của nguyên đơn. Luật sư T tranh luận cho rằng: Đề ngị Hội đồng xét xử xem xét về chứng cứ, nguyên đơn chỉ cung cấp chứng cứ là 02 giấy biên nhận nợ, còn bị đơn cho rằng cả hai biên nhận đó là gộp nợ lãi vào nợ gốc. Về phía nguyên đơn cho rằng biên nhận nợ là vay vào năm 2021, nhưng biên nhận nợ thể hiện vay vào năm 2023, đó là mâu thuẫn. Về lý do cho vay nguyên đơn trình bày là đáo nợ Ngân hàng và cho vay nhiều lần, trong khi thực tế việc cho vay đáo nợ Ngân hàng không phải nhiều lần. Về băng ghi âm, không có đoạn ghi nào thể hiện số tiền vay gốc mà nguyên đơn cho vay bằng tiền mặt, do đó, để bảo đảm tính công minh thì đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để làm rõ số tiền thực vay gốc là bao nhiêu?.
- Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện và chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử sửa một phần bản sơ thẩm về việc tính mức lãi suất vay của Tòa án cấp sơ thẩm chưa đúng khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ; ý kiến của nguyên đơn, bị đơn, Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn Lao Đ, bà Trần Thị Đ1, Hội đồng xét xử căn cứ vào 02 (hai) biên nhận nợ cùng ngày 24/12/2023 âm lịch gồm biên nhận nợ số tiền 517.200.000 đồng (bút lục 51) và biên nhận nợ số tiền 137.000.000 đồng (bút lục 50) và xét tại biên bản hòa giải ngày 28/06/2024, phía vợ chồng ông Đ, bà Đ1 đều thừa nhận có viết và ký biên nhận nợ ngày 24/12/2023 số tiền 517.200.000 đồng và biên nhận ngày 24/12 /(al) thực chất là ngày 24/12 (2023 al) số tiền nợ 137.000.000 đồng (bút lục 30). Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, phía ông Đ thừa nhận hai biên nhận nợ này là chốt số tiền nợ vay của cả hai khoản vay, trong đó có khoản vay dùm ông Trần bá T1, nhưng vợ chồng bà cho rằng nợ này là lãi nhập vốn mà không đưa ra được chứng cứ chứng minh số tiền lãi nhập vốn là bao nhiêu. Lời khai của ông Đ1, bà Đ trước phiên tòa phúc thẩm chỉ nợ tổng cộng 190.000.000 đồng, nhưng tại phiên tòa sơ thẩm và đơn kháng cáo thì khai chỉ nợ tổng cộng tiền gốc 130.000.000 đồng, trong khi phía bên bà H không thừa nhận. Tòa án cấp sơ thẩm xử buộc vợ chồng ông Đ, bà Đ1 trả số tiền nợ vay gốc còn lại 638.200.000 đồng là hoàn toàn phù hợp chứng cứ trong hồ sơ. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm phía ông Đ, bà Đ1 cung cấp thêm chứng cứ bản ghi âm mới với nội dung cho rằng là cuộc trao đổi giữa bà H với vợ chồng ông Đ, bà Đ1, tuy nhiên Đơn giao nộp chứng cứ kèm theo bản ghi âm cho rằng là cuộc ghi lời thoại giữa hai bên nhưng không rõ ràng, không đủ cơ sở chứng minh số tiền vay là do lãi nhập vốn, phía bị đơn không cung cấp được văn bản xác nhận xuất xứ của tài liệu ghi âm về địa điểm, thời gian, ..... căn cứ điểm b khoản 2 Điều 3 Nghị quyết số 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 ccua3 Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định về “Chứng minh và chứng cư”, thì tài liệu file ghi âm do phía bị đơn cung cấp không được xem là chứng cứ và về nội dung ghi âm cũng không đủ cơ sở pháp lý chứng minh để bác bỏ chứng cứ giấy tờ vay mượn nợ do phía bị đơn thừa nhận chữ viết và chữ ký tên của mình.
[2] Tuy nhiên, việc các bên cho vay không thõa thuận mức lãi suất bằng văn bản, trong khi lời khai của các bên trình bày mức lãi suất cho vay khác nhau, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng mức lãi suất cho vay 20%/năm theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 là không phù hợp vì theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Trường hợp các bên có thõa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rỏ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ”, như vậy, mức lãi suất tính trong trường hợp này là 10%/năm (50%x 20%/năm), do đó cần sữa bản án sơ thẩm phần này và rút kinh nghiệm với Tòa án cấp sơ thẩm.
Lãi suất được tính từ ngày 24/3/2024 đến ngày 10/9/2024 như sau:
638.200.000 đồng x 0,83%/ tháng x (05 tháng 16 ngày) = 29.242.324 đồng, tính tròn 29.242.000 đồng.
Tổng cộng, vợ chồng ông Đ, bà Đ1 có nghĩa vụ trả nợ cho bà H tiền vay gốc và lãi là: 638.200.000 đồng + 29.242.000 đồng = 667.442.000 đồng.
Do bản án sơ thẩm bị sửa, căn cứ khoản 2 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án cấp phúc thẩm xác định lại nghĩa vụ chịu án phí như sau:
20.000.000 đồng x (267.442.000 đồng x 4%) = 30.497.680 đồng, tính tròn: 30.498.000 đồng.
Từ cơ sở nhận định trên, trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của vợ chồng ông Đ, bà Đ1, không chấp nhận đề nghị của Luật sư T; Chấp nhận đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát về việc sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm về tính mức lãi suất của số tiền vay.
[2] Về án phí dân sự phúc thẩm, phía vợ chồng ông Đ, bà Đ1 không phải chịu do Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Văn Lao Đ, bà Trần Thị Đủ
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 45/2024/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.
Áp dụng Điều 91, 92 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 463, 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; Khoản 1 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị H (Bé S) đối với bị đơn ông Nguyễn Văn Lao Đ, bà Trần Thị Đ1 về việc tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản.
- Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn Lao Đ, bà Trần Thị Đ1 có nghiã vụ phải trả cho bà Trương Thị H số tiền 667.442.000 đồng (Sáu trăm sáu mươi bảy triệu, bốn trăm bốn mươi hai nghìn đồng). Trong đó, nợ vay gốc 638.200.000 đồng và nợ lãi 29.242.000 đồng.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Vợ chồng ông Nguyễn Văn Lao Đ, bà Trần Thị Đ1 phải chịu nộp tiền án phí giá ngạch là: 30.498.000 đồng (ba mươi triệu bốn trăm chín mươi tám ngàn đồng).
- Nguyên đơn bà Trương Thị H không phải chịu nộp án phí, hoàn trả số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm bà H đã nộp 16.355.000 đồng theo biên lai thu số 0000537 ngày 04/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Vợ chồng ông Nguyễn Văn Lao Đ, bà Trần Thị Đ1 không phải nộp. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm ông Đ, bà Đ1 đã nộp mỗi người 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000669 và số 0000670 cùng ngày 25/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Lâm Sơn |
Bản án số 23/2025/DS-PT ngày 05/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 23/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Hận kiện ông động
