TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2025/HSST Ngày: 23/01/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nga
Ông Bùi Văn Bình
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Dương Tuấn Duy - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Long Biên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên tòa: Ông Hà Minh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 284/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 335/2024/QĐXXST-HS ngày 29/11/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 132/2024/QĐ-HPT ngày 24/12/2024 đối với bị cáo:
NGUYỄN VĂN T, Giới tính: Nam; Sinh Năm 1987; HKTT: Thôn K, xã V, huyện M, TP Hà Nội; Chỗ ở: Không cố định; Quốc tịch; Việt nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Con ông: Vũ Văn T1 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị N; Vợ: Ngô Thị O, sinh năm 1986; Có 01 con sinh năm 2008; Gia đình có 02 người con, bị cáo là con thứ hai.
Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 440 ngày 12/09/2024 của Công an quận L và lý lịch địa phương cung cấp bị cáo chưa có tiền án, tiền sự
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/09/2024, tạm giam từ ngày 13/09/2024 đến nay tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H.
Bị hại: Chị Đặng Thị Thúy H, HKTT: Nhà số G H, phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. (xin vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Quách Tuấn A, sinh năm 1984; Nơi ở: nhà số B H, TT Y, G, Hà Nội) (xin vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1962, địa chỉ: Đ, xã V, huyện M, thành phố Hà Nội. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tại cơ quan cảnh sát điều tra Nguyễn Văn T khai nhận:
Nguyễn Văn T là chú rể chị Đặng Thị Thúy H (SN: 2002; HKTT: nhà số G H, phố T, phường Đ, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa). Ngày 13/8/2023, T mượn chị H chiếc xe mô tô Honda Vision màu đen đỏ BKS: 36B5-915.05 trong hai ngày để đi có việc. Chị H đồng ý, giao chìa khóa và xe mô tô trên cho T mượn tại tổ A, phường P, quận L, Hà Nội. Việc cho mượn, giao xe có anh Lê Văn T2 (SN: 2002; nơi ở: Tổ A phường P, quận L, Hà Nội) là bạn trai của chị H chứng kiến. Sau khi mượn được xe, ngày 15/8/2023, T nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản nên mang chiếc xe mô tô trên đến cửa hàng cầm đồ Tuấn A tại địa chỉ D H, thị trấn Y, huyện G, Hà Nội để cầm cố. Tại đây, T gặp anh Ngô Ngọc H1 (sinh năm 1984; HKTT: nhà số G ngõ D H, TT Y, huyện G, Hà Nội) là nhân viên cửa hàng, nói muốn cầm cố xe của mình. T cầm cố xe mô tô lấy số tiền là 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng). T và anh H1 ký hợp đồng cầm cố trong thời hạn 10 ngày. Sau đó, T không trả lại xe mô tô cho chị H, bỏ trốn, không liên lạc lại. Đến ngày 15/9/2023, chị H liên hệ được với T thì biết là T đã cầm cố chiếc xe trên. Ngày 27/9/2023, chị H trình báo sự việc đến cơ quan công an.
Tại cơ quan công an, anh Quách Tuấn A (SN: 1984; Nơi ở: nhà số B H, TT Y, G, Hà Nội) là chủ cửa hàng nhận cầm cố đã tự nguyện giao nộp chiếc xe mô tô trên, căn cước công dân của T và giấy đăng ký xe mô tô để phục vụ điều tra, xác minh theo quy định.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 197/KL-HĐĐGTS ngày 18/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L kết luận chiếc xe mô tô BKS: 36B5-915.05, nhãn hiệu HonDa, loại xe Vision, màu sơn đen đỏ, số máy JF66E078056, số khung 5815GY708012 trị giá là 15.500.000đ (Mười lăm triệu năm trăm nghìn đồng).
Cơ quan điều tra tiến hành xác minh đăng ký chiếc xe mô tô trên mang tên ông Đặng Cao L (SN: 1978; HKTT: nhà số G H, T, Đ, TP T, tỉnh Thanh Hóa) là chủ sở hữu. Quá trình điều tra xác định năm 2017 ông L mua chiếc xe mô tô trên, sau đó cho chị Đặng Thúy H là con gái để sử dụng. Ông L ủy quyền cho chị H giải quyết vụ việc và nhận lại chiếc xe mô tô khi được trao trả.
Tiến hành thủ thục nhận dạng qua ảnh, kết quả chị H, anh T2 nhận dạng xác định được T là người mượn xe của chị H, anh H1 nhận nhận dạng xác định được T là người mang xe mô tô trên đến cầm cố.
Anh Ngô Ngọc H1 giao nộp 01 hợp đồng cầm đồ đối với chiếc xe mô tô trên. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L tiến hành trưng cầu định chữ viết, chữ ký trên hợp đồng này. Tại bản kết luận giám định số 2127/KL- KTHS ngày 25/3/2024 của Phòng K C kết luận như sau:
“1. Chữ ký, chữ viết dòng họ tên Nguyễn Văn T (dưới chữ ký) trên mẫu cần giám định ký hiệu A với chữ ký, chữ viết dòng họ tên Nguyễn Văn T (dưới chữ ký) trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M2 là chữ do cùng một người ký và viết ra.
2. Chữ ký, chữ viết dòng họ tên Ngô Ngọc H1 (dưới chữ ký) trên mẫu cần giám định ký hiệu A với chữ ký, chữ viết dòng họ tên Ngô Ngọc H1 (dưới chữ ký) trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M2 là chữ do cùng một người ký và viết ra.”
Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã nhiều lần triệu tập Nguyễn Văn T, xác định T không có mặt tại nơi cư trú. Ngày 19/8/2024, Cơ quan điều tra ra Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn T tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Do T bỏ trốn, không xác định được nơi cư trú nên Cơ quan điều tra ra Quyết định truy nã đối với T. Do chưa bắt được bị can, ngày 27/8/2024, Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra bị can đối với T.
Ngày 09/09/2024, Nguyễn Văn T ra đầu thú tại Công an phường H, quận H, Hà Nội. Ngày 10/09/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L tiếp nhận Nguyễn Văn T và ra quyết định đình nã. Ngày 12/9/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L ra quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự, phục hồi điều tra bị can và ra lệnh tạm giam đối với bị can T.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T thành khẩn, thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên, T khai sử dụng số tiền 8.000.000 đồng từ việc cầm cố xe để tiêu sài cá nhân hết. Lời khai của T phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng, người liên quan cùng các tài liệu chứng cứ khác thu thập được.
Đối với anh Ngô Ngọc H1 và Quách Tuấn A, khi nhận cầm cố xe mô tô trên, không biết đây là tài sản do T phạm tội mà có nên không xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự. Về hành vi anh Quách Tuấn A và Ngô Ngọc H1 nhận cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác nhưng không có giấy ủy quyền hợp lệ của người đó cho người mang tài sản đi cầm cố là vi phạm quy định tại điểm 1 khoản 3 Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021, của Chính Phủ. Tuy nhiên, do hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính nên không xử phạt.
Về dân sự: Cơ quan điều tra đã trao trả cho chị Đặng Thị Thúy H chiếc xe Honda Vision màu đen đỏ BKS: 36B5-915.05 trên. Sau khi nhận lại tài sản, chị H không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T.
Quá trình điều tra bà Nguyễn Thị N (SN: 1962; HKTT: Đội 6, V, M, Hà Nội) là mẹ của Nguyễn Văn T đã tự nguyện giao nộp số tiền 8.000.000đ (Tám triệu đồng) để giúp T khắc phục hậu quả, trả cho anh Quách Tuấn A. Cơ quan điều tra trao trả cho anh Quách Tuấn A số tiền 8.000.000 đồng. Sau khi nhận lại số tiền này, anh Tuấn A không có yêu cầu gì về dân sự.
Tại Bản cáo trạng số 268/CT-VKSLB ngày 05/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố Nguyễn Văn T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bà Nguyễn Thị N khai:
Theo yêu cầu của bị cáo, bà đã giao nộp số tiền 8.000.000đ (tám triệu đồng) để giúp T khắc phục hậu quả, đã trả cho anh Quách Tuấn A. Đây là sự tự nguyện của bà, không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại cho bà.
Đại diện Viện kiểm sát quận L giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thấy rằng: Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015. Về tiền án, tiền sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi tường khắc phục hậu quả; đầu thú; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Về tình tiết tăng nặng: Không. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 12 đến 15 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có thu nhập ổn định.
Về trách nhiệm dân sự: Chị H, anh Tuấn A, bà N không yêu cầu về dân sự nên không đặt vấn đề xử lý.
Nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình là sai, vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn, bị cáo và bị hại không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; kết luận định giá tài sản; lời khai của bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 13/8/2023, tại phường P, quận L, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn T mượn của chị Đặng Thị Thúy H chiếc xe mô tô Honda Vision mang BKS: 36B5-915.05 trị giá 15.500.000 đồng để sử dụng trong hai ngày. Sau khi mượn xe, đến ngày 15/8/2023, do cần tiền tiêu sài cá nhân, T nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản nên cầm cố chiếc xe mô tô này cho anh Ngô Ngọc H1 tại cửa hàng cầm đồ tại địa chỉ D H, thị trấn Y, huyện G, Hà Nội để vay số tiền 8.000.000 đồng trong thời hạn 10 ngày. Sau đó, T không liên lạc, bỏ trốn, không trả lại xe mô tô cho chị H.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; làm mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi gây nguy hiểm cho xã hội do mình gây ra.
Bị cáo T là đối tượng bị truy nã do sau khi thực thực hiện hành vi phạm tội bỏ trốn, không xác định được nơi cư trú cho đến ngày 09/09/2024, bị cáo ra đầu thú. Căn cứ theo tính chất tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng một hình phạt tù trong khung hình phạt, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi tường khắc phục hậu quả; đầu thú; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
[3] Về hình phạt bổ sung:
Xét bị cáo không có thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu về dân sự, anh Quách Tuấn A và bà Nguyễn Thị N không yêu cầu về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên đề nghị áp dụng hình phạt tù là hình phạt chính, không áp dụng hình phạt bổ sung, về trách nhiệm dân sự là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Về hình phạt: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 8 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 10/09/2024.
2. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2006 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Án xử công khai sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Thanh Phương |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Hội thẩm nhân dân | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
Bản án số 23/2025/HSST ngày 23/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 23/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T phạm tội Lạm dụng tín nhiệm CĐTS
