Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/HS-ST

Ngày: 24/01/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Duy Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Huỳnh Văn Bé.

- Ông Lê Văn Rồi.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lụa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Trúc Phượng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 01 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 295/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 339/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa 339A/2024/HSST-QĐ ngày 31/12/2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Trịnh Công V, sinh ngày 27 tháng 10 năm 1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú và chỗ ở: ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn B và bà Trần Thị G (Đã chết); Chưa có vợ con; Tiền án: Ngày 17/12/2016, bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Tây Ninh xử phạt 08 năm tù về tội “Cướp tài sản”, năm 2022 chấp hành xong; Tiền sự: không; Nhân thân: Năm 2014, bị Công an xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh đưa đi cai nghiện bắt buộc 18 tháng tại Trường G1, giải quyết việc làm số 3, ngày 25/6/2016 chấp hành xong.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/5/2024 cho đến nay (Có mặt).

  2. Họ và tên: Lê Trung T, sinh ngày 30 tháng 10 năm 1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú và chỗ ở: ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Trung H và bà Trần Thị H1; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 24/4/2019 bị Tòa án nhân dân huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh đưa đi cai nghiện bắt buộc 15 tháng tại Cơ sở cai nghiện P, ngày 06/8/2021 chấp hành xong.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/5/2024 cho đến nay (Có mặt).

  3. Họ và tên: Nguyễn Minh T1, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1993 tại tỉnh Cà Mau; Nơi cư trú: ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở: Khu phố S, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Phạm Thị M; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 24/8/2013, bị Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 25/5/2015 chấp hành xong.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/5/2024 cho đến nay (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 22 giờ 00 ngày 08/5/2024, Lê Trung T điều khiển xe đạp đến nhà Trịnh Công V rủ V sử dụng ma túy, V đồng ý. V điều khiển xe đạp chở T ngồi sau đến phòng trọ của Nguyễn Minh T1 tại khu phố S, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Khi đến phòng trọ của T1, V nhờ T1 mua ma túy giúp, V không nói cho T1 biết mua ma túy để làm gì; T1 đồng ý. T1 điều khiển xe đạp chở T ngồi sau đi mua ma túy, V ngồi đợi ở trước phòng trọ của T1. Lúc này T1 chở T đến khu vực bãi đất trống trên đường Q thuộc khu phố S, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh thì gặp một người thanh niên (không rõ lai lịch); T1 hỏi mua ma túy với số tiền 290.000 đồng. T đưa cho T1 số tiền 290.000 đồng để trả tiền mua ma túy. Khoảng 10 phút sau, người thanh niên quay lại đưa cho T1 01 gói ma túy, T1 đưa cho người thanh niên số tiền 290.000 đồng, sau đó hai bên rời đi thì T1 đưa gói ma túy cho T cầm và T1 điều khiển xe đạp chở T quay về phòng trọ của T1. Khi về đến phòng trọ của T1, V rủ T1 xuống nhà V sử dụng ma túy nhưng T1 từ chối không đi. T cầm gói ma túy trong tay trái điều khiển xe đạp chở V ngồi sau về nhà của V để sử dụng ma túy. Khi về đến nhà V, V lấy ra 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đưa T đổ chất ma túy vào ống thủy tinh đưa cho V nấu lên và đưa T sử dụng trước. Sau đó, T và V thay phiên nhau sử dụng.

Khoảng 23 giờ 20 phút ngày 08/05/2024, Tổ tuần tra 363 Công an huyện C phối hợp với Công an xã P kiểm tra hành chính nhà của Trịnh Công V tại ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Qua kiểm tra, phát hiện T1 và V đang sử dụng ma tý và trên nền gạch trước hiên nhà cạnh vị trí V, T đang ngồi có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy có gắn ống thủy tinh, bên trong ống thủy tinh chứa tinh thể và 01 quẹt gas. V khai nhận tinh thể bên trong ống thủy tinh là ma túy đá do T đi mua về để sử dụng chung, T và V thay phiên nhau sử dụng mỗi người được 02 lần thì bị kiểm tra. Công an huyện C tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật gồm: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy có thủy tinh chứa tinh thể, 01 quẹt gas và 01 xe đạp.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Nguyễn Minh T1 tại phòng trọ thuộc khu phố S, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh: Không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy: Trịnh Công V, Lê Trung T, Nguyễn Minh T1 dương tính ma túy tổng hợp.

Kết luận giám định số 5740/KL – KTHS ngày 17/05/2024, Phòng PC09 Công an T2 kết luận như sau: Tinh thể được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1823g (không phẩy một tám hai ba gam), loại Methamphetamine.

Tại Bản cáo trạng số 282/CT-VKS.CC ngày 16 tháng 10 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị can Trịnh Công V, Lê Trung T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 và truy tố bị can Nguyễn Minh T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017).

Tại phiên toà, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như trên.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 255; Điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017) xử phạt bị cáo Trịnh Công V mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017) xử phạt bị cáo Lê Trung T mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T1 mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định. Do các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng:

Bị cáo Trịnh Công V: Bị cáo ăn năn, hối lỗi, xin được giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Lê Trung T: Bị cáo biết lỗi của mình, xin được giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Nguyễn Minh T1: Bị cáo biết lỗi của mình, xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Vào lúc 22 giờ ngày 08/5/2024, tại khu phố S, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, bị cáo Nguyễn Minh T1 có hành vi mua giùm ma túy đá với số tiền 290.000 đồng cho Lê Trung T cất giữ qua giám định có tổng trọng lượng 0,1823g là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine. Bị cáo T1 thừa nhận việc mua ma túy đá giùm cho bị cáo T cất giữ, tàng trữ ma túy để sử dụng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo T1 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Ngoài ra, sau khi nhận ma túy từ bị cáo T1, bị cáo T và V cùng rủ nhau về nhà của V tại ấp B, xã P, huyện C để sử dụng ma túy chung vào lúc 23 giờ 20 phút ngày 08/5/2024. Do đó, hành vi của bị cáo T và V phạm vào tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo T và V về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về trật tự quản lý hành chính, lĩnh vực quản lý dược liệu, dược phẩm độc hại, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt của mọi người. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo nhận thức rõ rằng chất ma túy là mặt hàng Nhà nước cấm tàng trữ, mua bán, việc các bị cáo rủ rê sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy là phạm pháp, là tiếp tay cho các phần tử xấu gây nguy hại cho xã hội, là mầm móng gây ra những tội phạm khác, nhưng các bị cáo vẫn ngang nhiên đi đến hành động phạm tội chỉ vì thỏa mãn động cơ tư lợi riêng cá nhân bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử lý các bị cáo bằng một hình phạt nghiêm khắc là cần thiết.

Trong vụ án người thanh niên chưa rõ lai lịch bán ma túy cho T1 chưa làm việc được, cơ quan điều tra sẽ làm rõ, xử lý sau, Hội đồng xét xử thấy phù hợp nên không xét.

Xét các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp hình phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi là phù hợp.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Trịnh Công V phạm tội khi chưa được xóa án tích nên thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo V, T, T1 sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa, do vậy Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo phần nào về hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật.

[5] Về vật chứng vụ án:

  • 01 gói niêm phong mang số vụ 1765/24, có chữ ký của Điều tra viên và Giám định viên.
  • 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
  • 01 quẹt ga.
  • 01 xe đạp thu giữ của Nguyễn Minh T1.

Các vật chứng nêu trên là vật, công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy hoặc nộp ngân sách nhà nước là phù hợp.

[6] Về nghĩa vụ chịu án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Trịnh Công V, Lê Trung T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Trịnh Công V 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/5/2024.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Lê Trung T 03 (Ba) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/5/2024.

Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T1 02 (Hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/5/2023.- Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

Tịch thu, tiêu hủy:

  • 01 gói niêm phong số 1765/24, có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và Giám định viên;
  • 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy;
  • 01 quẹt gas.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

  • 01 xe đạp.

(Lệnh nhập kho vật chứng số 1627/LNK-ĐCSKT ngày 30/9/2024 và Phiếu nhập kho vật chứng số 273/PNK ngày 23/10/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C).

- Áp dụng Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và lệ phí năm 2015, Đ1 a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc mỗi bị cáo Trịnh Công V, Lê Trung T, Nguyễn Minh T1 phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Công an huyện C;
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Duy Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 23/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Trịnh Công V, Lê Trung T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger