TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 23/2025/DS-ST Ngày: 24-01-2025 “V/v tranh chấp đòi quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vũ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Quách Trung Sơn
- Ông Nguyễn Văn Tám
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Trần Khắc Huy là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Võ Liên Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 156/2016/TLST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2016 về “tranh chấp đòi quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 383/2024/QĐXX-ST ngày 16 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn P sinh năm: 1975
Địa chỉ: ấp Hòa Phú, xã Hòa Khánh, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang - Bị đơn:
- Bà Phạm Thị B sinh năm: 1950
- Ông Nguyễn Ngọc T sinh năm: 1974
- Bà Nguyễn Ngọc N1 sinh năm: 1976
- Bà Huỳnh Thị H sinh năm: 1974
- Anh Nguyễn Hữu L sinh năm: 2000
Cùng địa chỉ: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang
- Bà Nguyễn Thị Kim N sinh năm: 1980 (đã chết)
Địa chỉ: số C đường N, phường A, quận P, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Ngọc T, bà Nguyễn Ngọc N1, bà Huỳnh Thị H, anh Nguyễn Hữu L: Bà Phạm Thị B, sinh năm: 1950. Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang. (Văn bản ủy quyền ngày 23 tháng 11 năm 2018).
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Nguyễn Thị Kim N:
Bà Phạm Thị B sinh năm: 1950
Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Ông Lê Như T1 năm: 1970
Anh Nguyễn Hoàng M1 sinh năm: 2003
Em Lê Nguyễn Minh A sinh ngày 04 tháng 8 năm 2011
Cùng địa chỉ: số C đường N, phường A, quận P, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật của em Lê Nguyễn Minh A: ông Lê Như T2, sinh năm: 1970. Địa chỉ: số C đường N, phường A, quận P, thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Trần Văn Đ năm: 1940
Bà Trần Thị Hậu S năm: 1977
Bà Trần Thị C sinh năm: 1980
Bà Phạm Thị Kim D sinh năm: 1978
Anh Trần Quốc K sinh năm: 1996
Chị Trần Thị Ngọc M sinh năm: 2003
Cùng địa chỉ: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Đ1, bà Trần Thị H1, bà Trần Thị C, bà Phạm Thị Kim D, anh Trần Quốc K: Ông Trần Văn P, sinh năm: 1975. Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang. (Văn bản ủy quyền ngày 14 tháng 6 năm 2016 và ngày 20 tháng 7 năm 2016).
(Ông P có mặt; chị M, bà B, ông T2, anh M1 vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 26 tháng 5 năm 2016, đơn khởi kiện bổ sung ngày 18 tháng 8 năm 2016 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Trần Văn P đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Đ1, bà Trần Thị H1, bà Trần Thị C, bà Phạm Thị Kim D, anh Trần Quốc K trình bày: ông sử dụng hợp pháp 02 thửa đất số 958, tờ bản đồ HKC4, diện tích 285m² và thửa đất số 961, tờ bản đồ HKC4, diện tích 238,7m² cùng tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang, được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 27 tháng 8 năm 2004. Ranh đất của ông thửa đất số 958, 961 giáp với thửa đất số 27, 28 của bà Phạm Thị B và thửa đất số 113 của bà Nguyễn Thị Kim N. Đến khoảng cuối năm 2015 bà B rào lưới B40 và bà N trồng trụ đá lấn chiếm quyền sử dụng đất của ông cụ thể: thửa đất số 27 và một phần thửa đất số 28 của bà B lấn sang thửa đất 958 của ông theo đo đạc thực tế 7,1m² đất; thửa đất số 113 của bà N lấn sang thửa đất 961 của ông theo đo đạc thực tế là 10,8m² đất. Ông có yêu cầu bà B, bà N di dời hàng rào lưới B40 và trụ đá đã lấn chiếm trả lại diện tích đất lấn chiếm cho ông nhưng bà bé, bà N không thực hiện. Nay ông yêu cầu những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Nguyễn Thị Kim N là bà Phạm Thị B, ông Lê Như T2, anh Nguyễn Hoàng M1, em Lê Nguyễn Minh A (người đại diện theo pháp luật là ông Lê Như T2) có nghĩa vụ di dời 09 trụ đá và 02 tấm tole trả lại ông 10,8m² đất nằm trong thửa đất số 961 tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang; yêu cầu bà Phạm Thị B, ông Nguyễn Ngọc T, bà Nguyễn Thị Ngọc N1, bà Huỳnh Thị H, anh Nguyễn Hữu L có nghĩa vụ di dời một phần hàng rào lưới B40, diện tích 2,16m² và 02 tấm tole cột vào phần hàng rào trả lại ông 7,1m² (có 3,5m² là nền xi măng) đất nằm trong thửa đất số 958 tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Tại tờ tự khai bổ sung không ghi ngày tháng năm, các biên bản hòa giải và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là bà Phạm Thị B đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Ngọc T, bà Nguyễn Ngọc N1, bà Huỳnh Thị H, anh Nguyễn Hữu L và cũng là người kế thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Nguyễn Thị Kim N trình bày: bà đại diện hộ gia đình được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 27, diện tích 1342m² và thửa đất số 28, diện tích 1156m² cùng tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Thửa đất số 27, 28 của bà giáp với thửa đất số 958, 961 của ông P. Bà sử dụng đất không có lấn chiếm đất ông P nên không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của ông P.
Tại tờ tường trình, tờ tự khai bổ sung không ghi ngày tháng năm, các biên bản hòa giải và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là bà Nguyễn Thị Kim N trình bày: bà đại diện hộ gia đình được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 113, diện tích 179,2m² tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang, nguồn gốc là do mẹ bà là bà Phạm Thị B tặng cho. Thửa đất số 113 của bà giáp với thửa đất số 961 của ông P. Bà sử dụng đất không có lấn chiếm đất ông P nên không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của ông P.
Tại tờ tự khai không ghi ngày tháng năm và trong quá trình giải quyết vụ án người kế thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Nguyễn Thị Kim N là ông Lê Như T2 đồng thời cũng là người đại diện hợp pháp của người kế thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Nguyễn Thị Kim N là em Lê Nguyễn Minh A trình bày: ông và bà Nguyễn Thị Kim N kết hôn với nhau năm 2003, ông và bà N có 02 người con chung là Lê Nguyễn Hoàng M1 và Lê Nguyễn Minh A. Lúc còn sống vợ ông là bà N được cấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1034, diện tích 200m² (nay là thửa 113, diện tích 179,2m²), tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang, thủa đất này có tranh chấp với thửa đất 961 của ông P. Nay ông và ông P thỏa thuận được với nhau là diện tích đất tranh chấp theo bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 16 tháng 4 năm 2018 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Tiền Giang đo vẽ là mỗi bên ½ diện tích đất tranh chấp theo chiều dọc từ trụ điện cặp quốc lộ A chạy vô đến hết thửa đất 113 của bà N.
Tại phiên tòa ông P vẫn giữ nguyên ý kiến yêu cầu như trên; chị M có đơn xin giải quyết vắng mặt; bà B, ông T2, anh M1 vắng mặt không lý do mặc dù đã được Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang triệu tập hợp lệ nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị M, bà B, ông T2, anh M1 là phù hợp Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và các đương sự tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, tuy nhiên các bị đơn và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Nguyễn Thị Kim N chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tạm ngừng phiên tòa để tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ lại xong sẽ tiếp tục giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn ông Trần Văn P khởi kiện bà Phạm B, ông Nguyễn Ngọc T, bà Nguyễn Ngọc N1, bà Huỳnh Thị H, anh Nguyễn Hữu L, bà Nguyễn Thị Kim N về việc đòi quyền sử dụng đất. Đất tranh chấp ở ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại điểm Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- [2] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn yêu cầu các bị đơn trả lại diện tích đất đã lấn chiếm trên các thửa đất của nguyên đơn nên xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp đòi quyền sử dụng đất”.
- [3] Về nội dung vụ án: Hộ gia đình ông Trần Văn P được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 4473 QSDĐ/885282, ngày 27 tháng 8 năm 2004 đối với thửa đất số 958, diện tích 285m² và thửa đất số 961, diện tích 238,7m² cùng tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Giáp ranh thửa đất số 958 của hộ ông P là thửa đất số 27 và 01 phần thửa đất số 28 của hộ bà Phạm Thị B còn thửa đất 961 của hộ ông P giáp với thửa đất số 113 của hộ bà Nguyễn Thị Kim N. Ông P cho rằng trong quá trình sử dụng đất thửa đất 113 của hộ bà N lấn chiếm thửa đất 961 của ông với diện tích thực đo là 10,8m²; thửa đất số 27 và một phần thửa đóát số 28 của hộ bà B lấn chiếm thửa đất 958 của ông với diện tích thực đo là 7,1m² nên khởi kiện yêu cầu hộ bà B, bà N trả lại diện tích đất lấn chiếm; còn bà B, bà N cho rằng mình sử dụng đất không có lấn chiếm đất ông P.
- [4] Xét thấy, theo kết quả đo đạc hiện trạng các thửa đất tranh chấp thì thửa đất số 958 và thửa đất 961 của ông P trước đây là thửa 114, tờ bản đồ 16 qua đo đạc thực tế có diện tích là 481,9m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông P ở thửa 958 và 961 thì diện tích đất ông P giảm 41,8m² cộng với diện tích đất đang tranh chấp đối với thửa đất 113 của hộ bà N là 10,8m² và thửa đất 27, một phần thửa 28 của hộ bà B là 7,1m² thì 02 thửa đất 958 và 961 (thửa cũ là 114) của ông P vẫn thiếu 23,9m². Đối với thửa đất số 113 của hộ bà N qua đo đạc thực tế có diện tích là 201,6m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp có diện tích là 179,2m² thì diện tích đất bà N tăng 22,4m² cộng với diện tích đất đang tranh chấp, đất bà N dư 33,2m². Đối với thửa đất số 27 và một phần thửa đất số 28 theo Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất là thửa 571 tờ bản đồ số 16 tách thành 02 thửa đất 1024, 1025. Hợp thửa đất số 63 và thửa đất 1024 tạo thành thửa 1050 theo giấy chứng nhận là thửa đất số 27 và một phần thửa đất số 28 của hộ bà B qua đo đạc thực tế diện tích thửa đất tăng 337m². Trên phần đất tranh chấp giữa thửa đất 961 của hộ ông P và thửa đất 113 của hộ bà N thì bà N có cắm 09 trụ đá và rào 02 tấm tole, ông P có rào 06 tấm tole; trên phần đất tranh chấp giữa thửa đất 958 của hộ ông P và thửa đất số 27, 01 phần thửa đất số 28 của hộ bà B thì bà B có rào 01 phần lưới B40, diện tích 21,6m² và 02 tấm tole bà B cột vào diện tích lưới B40 này, bà B có xây một phần nền xi măng diện tích 3,5m². Nay ông P yêu cầu những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Nguyễn Thị Kim N có nghĩa vụ di dời 09 trụ đá và 02 tấm tole trả lại ông Trần Văn P 10,8m² đất nằm trong thửa đất số 961 tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang; yêu cầu bà Phạm Thị B, ông Nguyễn Ngọc T, bà Nguyễn Thị Ngọc N1, bà Huỳnh Thị H, anh Nguyễn Hữu L có nghĩa vụ di dời một phần hàng rào lưới B40, diện tích 21,6m² và 02 tấm tole cột vào phần hàng rào trả lại ông Trần Văn P 7,1m² (có 3,5m² là nền xi măng) đất nằm trong thửa đất số 958 tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Qua đo đạc thực tế thì điện tích đất của thửa đất 958, 961 (thửa cũ là thửa 114) của hộ ông P giảm so với giấy đất được cấp còn thửa đất số 113 của hộ bà N, thửa đất số 27 và 01 phần thửa đất số 28 (thửa cũ là thửa 1050) của hộ bà B lại tăng so với giấ đất được cấp. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn P là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015.
- [5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [6] Về án phí: Ông Lê Như T2, anh Nguyễn Hoàng M1, em Lê Nguyễn Minh A (người đại diện theo pháp luật là ông Lê Như T2), ông Nguyễn Ngọc T, bà Nguyễn Thị Ngọc N1, bà Huỳnh Thị H, anh Nguyễn Hữu L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn P được Hội đồng xét xử chấp nhận. Bà Phạm Thị B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí. Ông Trần Văn P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện của ông P được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều12, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Điều 35, Điều 39, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn P.
- 1.1. Buộc những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Nguyễn Thị Kim N là bà Phạm Thị B, ông Lê Như T2, anh Nguyễn Hoàng M1, em Lê Nguyễn Minh A (người đại diện theo pháp luật là ông Lê Như T2) có nghĩa vụ di dời 09 trụ đá và 02 tấm tole trả lại ông Trần Văn P 10,8m² đất nằm trong thửa đất số 961 tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang, được ký hiệu ( ) theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 10 tháng 4 năm 2018; diện tích đất 10,8m² bà Phạm Thị B, ông Lê Như T2, anh Nguyễn Hoàng M1, em Lê Nguyễn Minh A trả lại ông Trần Văn P có tứ cận như sau:
Hướng Đông giáp đất bà Nguyễn Thị Kim N
Hướng Tây giáp đất ông Trần Văn Phú
Hướng Nam giáp Quốc lộ A
Hướng Bắc giáp đất ông Trần Văn P
(Có sơ đồ kèm theo)
- 1.2. Buộc bà Phạm Thị B, ông Nguyễn Ngọc T, bà Nguyễn Thị Ngọc N1, bà Huỳnh Thị H, anh Nguyễn Hữu L có nghĩa vụ di dời một phần hàng rào lưới B40, diện tích 2,16m² và 02 tấm tole cột vào phần hàng rào trả lại ông Trần Văn P 7,1m² (có 3,5m² là nền xi măng) đất nằm trong thửa đất số 958 tọa lạc tại ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang, được ký hiệu ( ) theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 10 tháng 4 năm 2018; diện tích đất 7,1m² bà Phạm Thị B, ông Nguyễn Ngọc T, bà Nguyễn Thị Ngọc N1, bà Huỳnh Thị H, anh Nguyễn Hữu L trả lại ông Trần Văn P có tứ cận như sau:
Hướng Đông giáp đất bà Phạm Thị B
Hướng Tây giáp đất ông Trần Văn P
Hướng Nam giáp đất ông Trần Văn P và bà Nguyễn Thị Kim Ngân
Hướng Bắc giáp đất ông Trần Văn P và bà Phạm Thị B
(Có sơ đồ kèm theo)
- Về án phí:
- 2.1. Ông Trần Văn P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho ông P 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo các biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 05249 ngày 26 tháng 5 năm 2016, số 05629 ngày 25 tháng 8 năm 2016, số 05248 ngày 26 tháng 5 năm 2016 và số 05630 ngày 25 tháng 8 năm 2016 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
- 2.2. Bà Phạm Thị B được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm do thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí.
- 2.3. Ông Lê Như T2, anh Nguyễn Hoàng M1, em Lê Nguyễn Minh A (người đại diện theo pháp luật là ông Lê Như T2) phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng)
- 2.4. Ông Nguyễn Ngọc T, bà Nguyễn Thị Ngọc N1, bà Huỳnh Thị H, anh Nguyễn Hữu L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng)
- 3. Về quyền kháng cáo: Ông Trần Văn P được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Đối với các bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt thời hạn kháng cáo trên được tính kể từ ngày được Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.
- 4. Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Vũ |
Nơi nhận:
- - Các đương sự;
- - VKSND huyện Cái Bè;
- - Chi cục THADS huyện Cái Bè;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
Bản án số 23/2025/DS-ST ngày 24/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất
- Số bản án: 23/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/01/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Trần Văn P yêu cầu bà Nguyễn Thi Kim N trả lại 10,8m2 đất lấn chiếm, yêu cầu bà Phạm Thị B và cá bị đơn trả lại 7,1m2 đất lấn chiếm.
