Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2025/HNGĐ-ST

Ngày 23-01-2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Sóng.

Bà Nguyễn Thị Lương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 314/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hà Thị C, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái; vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1993; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường T, thành phố T (cũ là thôn T, xã T, huyện T), thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn là chị Hà Thị C trình bày (qua đơn khởi kiện và bản tự khai): Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn T trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Trung Hà, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng vào ngày 13/10/2014. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại xã Trung Hà, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Vợ chồng chung sống hoà thuận đến đầu năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hoà hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi nhau. Do mâu thuẫn nên chị và anh T đã sống ly thân nhau từ cuối năm 2017 đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên và bạn bè khuyên giải nhưng không có kết quả. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh T. Chị và anh T có 01 con chung tên là Nguyễn Hà Thế T, sinh ngày 09/12/2015. Khi ly hôn, chị C đề nghị giao con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng vì hiện tại anh T đang nuôi dưỡng, chăm sóc con bình thường. Việc cấp dưỡng cho con do chị và anh T tự thoả thuận giao nhận với nhau, không yêu cầu Toà án giải quyết. Chị và anh T không có tài sản chung nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết chia tài sản chung.

Bị đơn là anh Nguyễn Văn T đã được Toà án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Anh T không có quan điểm, ý kiến của mình về việc chị C đề nghị ly hôn, việc nuôi con của vợ chồng khi ly hôn. Anh T không có mặt tại các các buổi làm việc và tại phiên toà.

Thông tin tại địa phương và của người thân chị C, anh T xác định quan hệ hôn nhân giữa chị C và anh T đúng với nội dung trình bày của chị C. Về tình cảm giữa chị C và anh T có mâu thuẫn.

Về việc chị C xin ly hôn với anh T, cháu Nguyễn Hà Thế T có nguyện vọng muốn ở với bố.

Tại phiên toà, về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Cho chị Hà Thị C ly hôn với anh Nguyễn Văn T; giao cho anh T trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Hà Thế T, sinh ngày 09/12/2015; chị C có nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án

Chị Hà Thị C xin ly hôn với anh Nguyễn Văn T là vụ án Hôn nhân gia đình về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh T là bị đơn, cư trú tại thành phố Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng nên Tòa án nhân dân thành phố Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

2

[2] Về việc vắng mặt nguyên đơn và bị đơn

Chị Hà Thị C là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Văn T được triệu tập hợp lệ đến phiên toà lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Về nội dung yêu cầu khởi kiện

[3.1] Về yêu cầu ly hôn

Chị Hà Thị C với anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn và có đăng ký, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chứng nhận kết hôn nên việc kết hôn giữa chị C và anh T là hợp pháp. Xuất phát từ mâu thuẫn vợ chồng, chị C và anh T đã sống ly thân từ cuối năm 2017 đến nay. Xác định tình cảm vợ chồng với anh T không còn, chị C yêu cầu được ly hôn với anh T. Quá trình giải quyết vụ án, anh T không có mặt tại các buổi hoà giải, buổi làm việc và phiên toà, không có quan điểm, ý kiến của mình về việc chị C đề nghị ly hôn. Qua đó thể hiện, anh T không quan tâm đến tình cảm vợ chồng và không mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Điều này chứng minh hôn nhân giữa chị C và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị C ly hôn với anh T.

[3.2] Về yêu cầu người trực tiếp nuôi con khi ly hôn

Chị Hà Thị C và anh Nguyễn Văn T có 01 con chung là Nguyễn Hà Thế T, sinh ngày 09/12/2015. Chị C đề nghị giao cho anh T trực tiếp nuôi con chung. Anh T không có ý kiến về việc nuôi con. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con: Xét khả năng, điều kiện và hoàn cảnh của chị C, của anh T, thời gian từ khi chị C và anh T sống ly thân, anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng con bình thường, ổn định; xét nguyện vọng của cháu Thành, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của chị C, giao cho anh T trực tiếp nuôi con chung theo các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[3.3] Về việc cấp dưỡng cho con

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Anh T đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Cháu T cũng bày tỏ nguyện vọng được ở với bố vì bố chăm sóc tốt hơn. Chị C đề nghị việc cấp dưỡng cho con để chị và anh T tự thỏa thuận. Anh T hiện chưa có ý kiến về việc cấp dưỡng cho con. Do vậy, Hội đồng xét xử không buộc chị C phải cấp dưỡng cho con.

3

[3.4] Về việc chia tài sản chung khi ly hôn

Chị C không đề nghị; anh T không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[4] Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm

Chị Hà Thị C là nguyên đơn xin ly hôn nên phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

  1. - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Hà Thị C ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
  2. - Giao cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung là Nguyễn Hà Thế T, sinh ngày 09 tháng 12 năm 2015 đến khi con đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, trừ trường hợp pháp luật quy định khác.
  3. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  4. - Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
  5. - Chị Hà Thị C phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Đối trừ với số tiền tạm ứng án phí đã nộp (theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010152 ngày 28 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủy Nguyên), chị Hà Thị C đã nộp đủ án phí.

Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

4

  • - Đương sự;
  • - TAND, VKSND TP. Hải Phòng;
  • - VKSND TP. Thuỷ Nguyên;
  • - Chi cục THADS TP. Thuỷ Nguyên;
  • - UBND phường Thuỷ Hà, TP. Thủy Nguyên
  • (GCNKH số 041 ngày 13/10/2015 của
  • UBND xã Trung Hà);
  • - Lưu: VT, HSVA.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quốc Phương

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 23/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa chị Hà Thị C với Nguyễn Văn T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger