|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
Bản án số: 23/2025/DS-PT
Ngày: 22 tháng 01 năm 2025
V/v Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất ở; thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lại Hiệp Phong.
Các Thẩm phán: ông Nguyễn Phước Hưng và bà Trịnh Ngọc Thuý.
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Dương Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: bà Lương Thị Hương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 309/2024/TLPT-DS ngày 28 tháng 10 năm 2024, về việc: “Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất ở; thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 98/2024/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 325/2024/QĐ-PT ngày 29 tháng 10 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 350/2024/QĐ-PT ngày 21 tháng 11 năm 2024 và Thông báo về việc mở lại phiên toà số 162/TB-TA ngày 24 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Triệu Thanh S, sinh năm 1968; nơi cư trú: Tổ A, ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông S: ông Mai Xuân T, sinh năm 1968; nơi cư trú: số D Hồ X, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (theo văn bản ủy quyền ngày 09/12/2022) (có mặt).
- Bị đơn: bà Triệu Thị T1, sinh năm 1997; nơi cư trú: Tổ A, ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Triệu Ngọc T2, sinh năm 1995 (vắng mặt);
- Bà Lê Thị Ngọc H, sinh năm 1999 (vắng mặt);
- Cháu Triệu Ngọc Bảo V, sinh năm 2021 (vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị Bích T3, sinh năm 1968 (vắng mặt);
- Ông Triệu Ngọc T4, sinh năm 1996 (vắng mặt);
- Ông Triệu Quốc T5, sinh năm 1992 (vắng mặt);
- Ông Triệu Quang T6, sinh năm 1961 (có mặt);
- Ông Triệu Tấn Đ, sinh năm 1970 (chết);
- Bà Trần Kim Ô, sinh năm 1977; nơi đăng ký thường trú: ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký tạm trú: Tổ A, ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt);
- Ông Đặng Minh S1, sinh năm 1993; nơi đăng ký thường trú: Tổ G, Khóm C, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nơi đăng ký tạm trú: Tổ A, ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
- Cháu Đặng Thùy D1, sinh năm 2019 (bà Triệu Thị T1 là người giám hộ); nơi đăng ký thường trú: Tổ A, ấp P, xã B, huyện C, An Giang (vắng mặt).
Cùng nơi cư trú: Tổ A, ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
Cùng nơi cư trú: khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang.
Ông Trung đại D theo ủy quyền cho ông Triệu Quốc T5 (theo Văn bản ủy quyền ngày 07/01/2023).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Triệu Tấn Đ: bà Trần Kim Ô và bà Triệu Thị T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Triệu Thanh S (do ông Mai Xuân T đại diện) và lời khai tại phiên toà có nội dung như sau: Cha mẹ ông Triệu Thanh S là cụ Triệu Thanh H1 và cụ Phạm Thị H2 (đều đã chết). Cụ H1, cụ H2 có 04 người con chung, gồm: Triệu Quang T6, Triệu Ngọc T7 (đã chết, có con tên Triệu Ngọc T2), Triệu Tấn Đ và Triệu Thanh S. Lúc còn sống, cụ H1, cụ H2 có 02 thửa đất, gồm: Thửa đất 90,2m², Giấy chứng nhận số H.00449/bĐ và thửa đất diện tích 2.638m², Giấy chứng nhận số H.00448/bÐ do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 20/12/2006; tọa lạc tại ấp H, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
Ngày 27/12/2012, cụ H1 và cụ H2 đã làm di chúc hợp pháp phân chia toàn bộ diện tích đất nêu trên cho ông Triệu Thanh S toàn quyền quản lý, sử dụng nhưng có phân chia lại cho 03 người cháu gồm: Triệu Ngọc T2, Triệu Quốc T5 và Triệu Thị T1 mỗi người 01 nền nhà để ở theo hiện trạng kèm theo di chúc, đồng thời chừa lại ngang 01m để cho những người phía sau vào nhà. Do cha mẹ chết và bối rối nên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên đã bị thất lạc nên đến nay chưa tách bộ theo di chúc. Vào khoảng cuối năm 2021, bà Triệu Thị T1 (con của Triệu Tấn Đ) ngang nhiên tiến hành xây dựng nhà kiên cố trên phần đất mà ông Triệu Thanh S đã được cha mẹ phân chia theo di chúc; mặc dù ông S đã nhiều lần ngăn cản nhưng bà Triệu Thị T1 vẫn tiến hành xây cất và hoàn thiện như hiện nay.
Nay, ông Triệu Thanh S yêu cầu công nhận Di chúc lập ngày 27/12/2012 do cụ Triệu Thanh H1, cụ Phạm Thị H2 có hiệu lực; buộc bị đơn bà Triệu Thị T1 tháo dỡ toàn bộ căn nhà, công trình xây dựng để trả lại diện tích đất 85,6m² theo Bản trích đo hiện trạng ngày 11/12/2023 của Công ty Đ1. Tại phiên tòa, ông Triệu Thanh S đồng ý hoàn trả lại cho bà Triệu Thị T1 giá trị căn nhà là 400.000.000đ để giữ lại toàn bộ căn nhà; trong thời gian 03 tháng sẽ thanh toán số tiền và cho quyền lưu cư thời gian 02 tháng; ngoài ra, tự nguyện trả lại cho ông Triệu Quang T6 10.000.000đ tiền thuế trước bạ.
* Theo bản khai của bị đơn Triệu Thị T1 (đồng thời đại diện theo ủy quyền ông Triệu Tấn Đ) và lời khai tại phiên tòa có nội dung: bà Triệu Thị T1 là con ruột của ông Triệu Tấn Đ và là cháu nội của cụ Triệu Thanh H1, cụ Phạm Thị H2. Do lúc nhỏ T1 sống với mẹ bên ngoại để chăm sóc ngoại già yếu nên ông Triệu Tấn Đ sống một mình bên nội và đã được ông bà nội cho diện tích đất để 02 bàn bi da cho thuê để kiếm tiền sinh sống; đồng thời ông Triệu Tấn Đ đã làm thủ tục tách khẩu riêng. Do ông Triệu Thanh S làm tiệm cắt kiếng và yêu cầu trả lại diện tích đất để 02 bàn bi da nhưng ông Triệu Tấn Đ không đồng ý thì đã phát sinh tranh chấp; lúc này, cụ Triệu Thanh H1 có kêu ông Triệu Tấn Đ trả cho ông Triệu Thanh S số 20 triệu để được sử dụng diện tích đất này nhưng do không có tiền nên vẫn ở. Đến năm 2021, ngoại mất và phải trả lại nhà đất cho cậu nên bà Triệu Thị T1 về sửa chữa lại căn nhà của ông Triệu Tấn Đ để ở thì bị ông Triệu Thanh S tranh chấp. Hiện nay, ông Triệu Tấn Đ đã bị bệnh chết.
Nay, ông Triệu Thanh S yêu cầu tháo dỡ toàn bộ căn nhà, công trình xây dựng để trả lại diện tích đất 85,6m² theo yêu cầu thì bà T1 không đồng ý. Yêu cầu Tòa án xem xét giá trị pháp lý của Tờ di chúc do cụ Triệu Thanh H1, cụ Phạm Thị H2 lập để lại tài sản cho ông Triệu Thanh S.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Theo Bản khai của ông Triệu Quang T6 (đồng thời đại diện theo ủy quyền của Triệu Quốc T5) và lời khai tại phiên tòa có nội dung như sau: Ông Triệu Quang T6 là con ruột của cụ Triệu Thanh H1, cụ Phạm Thị H2. Vào năm 1977, cả gia đình quê từ huyện C đến địa phương không có nhà đất nên ông bà ngoại ông T6 đã kêu về và cho phần đất khoảng 1.200m² để cất nhà; đồng thời ba mẹ đã mua căn nhà gỗ dầu để cất ở. Đến năm 1988, do căn nhà mục nát nên ông T6 đã bỏ tiền ra cất căn nhà bán kiên cố để cha mẹ sinh sống cùng với gia đình; đến năm 2008 thì ông T6 về sống riêng tại khóm H5 (thị trấn A). Sau đó, cha mẹ của ông đã cất lại căn nhà kiên cố như hiện nay.
Đến năm 2011, Văn phòng đăng ký đất có thông báo cha mẹ ông T6 đến nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất của gia đình nhưng không ai nhận nên ông T6 phải xuất tiền ra để đóng phí số tiền là 3.541.000 đồng (có biên lai). Tuy nhiên, cả 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho cụ Triệu Thanh H1, cụ Phạm Thị H2 đã sai năm sinh. Cụ H1, cụ H2 đã giao giấy lại cho ông T6 giữ để đi điều chỉnh lại cho đúng và đồng thời tách bộ trả lại một phần diện tích đất cho bên ngoại nhưng cuối cùng thì cha mẹ không ký thủ tục do ông Triệu Thanh S và ông Triệu Tấn Đ xảy ra tranh chấp. Sau đó, phát hiện cụ H1, cụ H2 đã lập di chúc cho ông Triệu Thanh S toàn bộ diện tích đất vào ngày 27/12/2012, mặc dù không có bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong tay và thông tin trên tài sản không đúng.
Nay, ông Triệu Quang T6 yêu cầu ông Triệu Thanh S trả số tiền 18.000.000đ (tương đương diện tích 168,2m²), bà Triệu Thị T1 trả số tiền 8.560.000đ (tương đương 85,6m²) và ông Triệu Ngọc T2 trả số tiền 8.025.000₫ (tương đương 75m²). Tại phiên tòa sơ thẩm, ông T6 thay đổi yêu cầu là buộc trả 50.000.000đ thì mới giao giấy chứng nhận cho ông Triệu Thanh S để thực hiện tách bộ; riêng bà Triệu Thị T1 và ông Triệu Ngọc T2 thì ông T6 vẫn giữ nguyên yêu cầu.
2. Theo B khai người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Triệu Ngọc T2 có nội dung: ông Triệu Ngọc T2 là con ruột của ông Triệu Ngọc T7 (chết 2008). Phần diện tích đất hiện tại do ông bà nội là cụ Triệu Thanh H1, cụ Phạm Thị H2 cho để cất nhà ở cùng với vợ là bà Lê Thị Ngọc H, con là Triệu Ngọc Bảo V và mẹ là Nguyễn Thị Bích T3. Từ khi ông bà nội cho đất đến nay vẫn chưa được tách bộ để đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay, ông Triệu Thanh S tranh chấp yêu cầu bà Triệu Thị T1 tháo dỡ nhà và trả lại diện tích đất 85,6m² theo Bản di chúc mà ông bà nội để lại thì ông Triệu Ngọc T2 không có ý kiến hay tranh chấp gì.
* Theo Bản trích đo hiện trạng ngày 11/12/2023 do Công ty Đ2 vẽ thể hiện: Diện tích đất ông Triệu Thanh S đang tranh chấp yêu cầu bà Triệu Thị T1 trả lại có diện tích 85,6m² (theo các điểm 17, 18, 101, 82, 102, 80 và 81) thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.00448/bÐ do UBND huyện C cấp ngày 20/12/2006 tên cụ Phạm Thị H2, cụ Triệu Thanh H1; đất tọa lạc tại ấp H, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
* Theo biên bản thẩm định tại chỗ ngày 30/3/2023 đã thể hiện: Diện tích đất 85,6m² (theo các điểm 17, 18, 101, 82, 102, 80 và 81) theo Bản trích đo ngày 11/12/2023, hiện tại có 01 căn nhà cấp 4C: Vách dừng thiếc, cột và kèo sắt, mái lợp thiếc, mặt trước xây gạch, cửa sắt có mái che, buồng và vách buồng bằng miếng ép dán xi măng, nhà bếp và nhà vệ sinh xây gạch có lót gạch men, nền nhà từ hàng ba đến hết nhà đều lót gạch men; hiện tại do bà Triệu Thị T1 trực tiếp quản lý và sinh sống cùng chồng là ông Đặng Minh S1, con gái Đặng Thùy D1 và cha mẹ là ông Triệu Tấn Đ, bà Trần Kim Ô .
* Theo kết quả Chứng thư thẩm định giá của Công ty cổ phần T8 ngày 29/3/2024 thể hiện: Đất đang tranh chấp có giá 14.843.000đ/m² và tổng diện tích 85,6m² có tổng giá trị là 1.270.560.800đ; nhà đang tranh chấp bao gồm: Nhà và mái che; trong đó: Nhà có giá 3.057.000đ/m² và mái che có giá 1.444.000đ/m²; tổng giá trị căn nhà và mái che là 108.688.420đ. Tổng tài sản tranh chấp là 1.379.249.220₫.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 98/2024/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024, của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của ông Triệu Thanh S về việc tuyên bố di chúc do cụ Triệu Thanh H1, cụ Phạm Thị H2 lập ngày 27/12/2012 có hiệu lực pháp luật. Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa ông Triệu Thanh S và bà Triệu Thị T1, ông Đặng Minh S1, bà Trần Kim Ô như sau:
+ Công nhận sự tự nguyện của ông Triệu Thanh S là bồi thường cho bà Triệu Thị T1 toàn bộ giá trị căn nhà cấp 4C có đặc điểm: Vách dừng thiếc, cột và kèo sắt, mái lợp thiếc, mặt trước xây gạch, cửa sắt có mái che, buồng và vách buồng bằng miếng ép dán xi măng, nhà bếp và nhà vệ sinh xây gạch có lót gạch men, nền nhà từ hàng ba đến hết nhà đều lót gạch men với số tiền tổng cộng là 400.000.000₫ (Bốn trăm triệu đồng); thời hạn giao tiền được thực hiện là 03 tháng và ông Triệu Thanh S cho quyền lưu cư đối với bà Triệu Thị T1 và những người trong gia đình trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày nhận đủ tiền.
+ Công nhận sự tự nguyện của bà Triệu Thị T1, ông Đặng Minh S1, bà Trần Kim Ô là di dời toàn bộ vật dụng sinh hoạt trong nhà để trả lại cho ông Triệu Thanh S diện tích đất ở 85,60m² gắn liền căn nhà cấp 4C (theo các điểm 17, 18, 101, 82, 102, 80 và 81) thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.00448/bÐ do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 20/12/2006 tên cụ Phạm Thị H2, cụ Triệu Thanh H1; đất tọa lạc tại ấp H, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
- Công nhận sự tự nguyện của ông Triệu Thanh S trả lại cho ông Triệu Quang T6 số tiền là 10.000.000đ; công nhận sự tự nguyện của bà Triệu Thị T1 trả lại cho ông Triệu Quang T6 số tiền là 8.560.000đ.
+ Bác yêu cầu của ông Triệu Quang T6 buộc ông Triệu Thanh S trả lại tiền thuế tổng số tiền là 50.000.000đ; bác yêu cầu của ông Triệu Quang T6 buộc ông Triệu Ngọc T2 trả lại số tiền thuế tổng cộng 8.025.000đ.
+ Buộc ông Triệu Quang T6 trả lại cho ông Triệu Thanh S 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.00449/bĐ và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.00448/bĐ đều cấp ngày 20/12/2006 mang tên Triệu Thanh H1, Phạm Thị H2 để ông Triệu Thanh S thực hiện thủ tục tách bộ, sang tên theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, quyền thi hành án và thời hiệu thi hành án của các bên đương sự.
Ngày 06/9/2024, ông Triệu Thanh S kháng cáo không đồng ý với quyết định của án sơ thẩm; yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại và buộc bà Triệu Thị T1 phải tháo dỡ vật kiến trúc trên phần đất của ông được hưởng theo di chúc.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
+ Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu bà Triệu Thị T1 phải tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc trên phần đất để trả lại toàn bộ diện tích đất mà ông Triệu Thanh S được hưởng theo di chúc.
+ Bị đơn bà Triệu Thị T1 đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Triệu Thanh S.
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu quan điểm và đề xuất hướng giải quyết vụ án:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Thư ký, Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, phúc xử: Chấp nhận kháng cáo của ông Triệu Thanh S. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 98/2024/DS-ST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành; chuyển hồ sơ lại cho Tòa án nhân dân huyện Châu Thành giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn ông Triệu Thanh S làm đơn kháng cáo và nộp tạm ứng án phí trong thời hạn luật định, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và xét xử phúc thẩm theo quy định tại Điều 285 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[1.2] Tại phiên tòa, ông Triệu Thanh S xác định giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, không đồng ý trả cho bà T1 400.000.000 đồng theo Quyết định của bản án sơ thẩm, yêu cầu bà Triệu Thị T1 phải tháo dỡ toàn bộ vật kiến trúc trên phần đất để trả lại toàn bộ diện tích đất mà ông Triệu Thanh S được hưởng theo di chúc.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Triệu Thanh S, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
[2.1] Ông S và bà T1 đều thống nhất cụ Triệu Thanh H1 sinh năm 1930, cụ Phạm Thị H2 sinh năm 1940 được cấp quyền sử dụng 02 thửa đất: Thửa thứ nhất diện tích 90,2m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H.00449/bĐ cấp ngày 20/12/2006 và thửa đất diện tích 2.338m² theo Giấy chứng nhận số H.00448/bĐ cấp ngày 20/12/2006; tọa lạc tại ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
Tại phiên toà sơ thẩm, Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự với nội dung: ông Triệu Thanh S bồi thường cho bà Triệu Thị T1 toàn bộ giá trị căn nhà cấp 4C, với số tiền tổng cộng là 400.000.000₫ (Bốn trăm triệu đồng); thời hạn giao tiền được thực hiện là 03 tháng và ông Triệu Thanh S cho quyền lưu cư đối với bà Triệu Thị T1 và những người trong gia đình trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày nhận đủ tiền; bà T1 tự nguyện di dời vật dụng sinh hoạt để giao đất lại cho ông S.
Xét, cụ Triệu Thanh H1 và cụ Phạm Thị H2 đã chết, có để lại di chúc phân chia di sản cho ông Triệu Thanh S và các cháu nội của các cụ. Quá trình giải quyết vụ án tranh chấp chia di sản thừa kế, các đương sự có tranh chấp về tính hợp pháp của di chúc. Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm căn cứ vào sự thoả thuận giữa ông S và bà T1 để công nhận việc phân chia di sản thừa kế khi chưa có ý kiến của các đồng thừa kế khác là ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ.
Mặt khác, phiên toà xét xử vụ án ngày 23/8/2024 nhưng nghị án kéo dài đến ngày 30/8/2024 tuyên án. Trong thời gian nghị án kéo dài thì ngày 26/8/2024, ông Triệu Thanh S có gửi bản đề nghị xin rút lại toàn bộ nội dung ông S đã thỏa thuận với bà T1 để Tòa án xét xử theo quy định của pháp luật. Ông S đã rút lại nội dung thỏa thuận trước khi tuyên án, thể hiện nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không còn nhưng Hội đồng xét xử không trở lại phần hỏi để xác định những nội dung cần giải quyết mà Quyết định công nhận sự thoả thuận giữa ông S và bà T1, ông S1, bà Kim Ô là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
[2.2] Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông S về việc tuyên bố di chúc do cụ Triệu Thanh H1, cụ Phạm Thị H2 lập ngày 27/12/2012 có hiệu lực pháp luật, công nhận sự thỏa thuận của đương sự nhưng không giao cho ông S được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất cụ thể thì ông S không thể thực hiện được việc kê khai đăng ký quyền sử dụng đất.
Mặt khác, án sơ thẩm buộc bà Triệu Thị T1, ông Đặng Minh S1, bà Trần Kim Ô di D2 toàn bộ vật dụng sinh hoạt trong nhà để trả lại cho ông Triệu Thanh S căn nhà và đất diện tích 85,60 m² nhưng thực tế bà T1 chỉ sử dụng phần nhà 54,1 m², mái che 13,1m² (Tổng cộng 67,2 m²) là không đúng với thực tế sử dụng đất.
[2.3] Theo đơn khởi kiện ngày 07/11/2022 của ông Triệu Thanh S (BL01-03) yêu cầu công nhận di chúc ngày 27/12/2012 do cụ H1, cụ H2 lập; yêu cầu ông Triệu Quốc T5, ông Triệu Ngọc T2, bà Triệu Thị T1 phải thực hiện đúng nội dung được ghi nhận trong di chúc nhưng cấp sơ thẩm giải quyết không đúng nội dung yêu cầu khởi kiện của ông S. Nội dung di chúc chia đất cho ông Triệu Quốc T5, ông Triệu Ngọc T2, bà Triệu Thị T1 và ông Triệu Thanh S mỗi người một nền nhà nhưng chưa giải quyết đối với các căn nhà của ông Triệu Quốc T5, ông Triệu Ngọc T2, bà Triệu Thị T1 là chưa đảm bảo quyền lợi của những người này.
Mặt khác, sơ đồ kèm di chúc thể hiện tại vị trí nền nhà bà T1 được cho theo di chúc có căn nhà của ông S cất trên vị trí đất này nhưng Toà án cấp sơ thẩm không đề cập giải quyết.
[2.4] Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, ông Phạm Ngọc H3 có đơn khởi kiện yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00448/bĐ liên quan đến thửa đất đang tranh chấp. Đồng thời, ông Triệu Quang T6 cho rằng, cả 02 Giấynhận quyền sử dụng đất cấp cho cụ Triệu Thanh H1, cụ Phạm Thị H2 đã sai năm sinh. Cha mẹ của ông là cụ H1, cụ H2 đã giao giấy lại cho ông giữ để đi điều chỉnh lại cho đúng và đồng thời tách bộ trả lại một phần diện tích đất cho bên ngoạicụ bà Huỳnh Thị R) nhưng cuối cùng thì cha mẹ của ông không ký thủ tục do ông Triệu Thanh S và ông Triệu Tấn Đ xảy ra tranh chấp. Sau đó, phát hiện cụ H1, cụ H2 đã lập di chúc cho ông Triệu Thanh S và các cháu.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét việc đưa ông Phạm Ngọc H3 vào tham gia tố tụng là chưa đảm bảo về tố tụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Mặc khác, tại phiên tòa phúc thẩm, ông S và ông T6 đều xác định khi còn sống, cụ Triệu Thanh H1 và cụ Phạm Thị H2 có làm giấy tờ chuyển nhượng cho ông Tống Văn H4 diện tích đất ngang 05m, dài 09m để ông H4 cất nhà ở. Thực tế, ông H4 đã cất nhà ở cùng vợ và các con trên phần đất theo nội dung di chúc đã hơn 20 năm. Bản trích đo hiện trang khu đất cũng có thể hiện trên đất có căn nhà của ông H4 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông Tống Văn H4 cùng vợ và các con ông H4 tham gia tố tụng là vi phạm nghiệm trọng thủ tục tố tụng.
[3] Trên cơ sở các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm chưa thực hiện đầy đủ việc thu thập chứng cứ làm rõ nguồn gốc thửa đất diện tích 90,2m² theo Giấychứng nhận quyền sử dụng đất số H.00449/bĐ cấp ngày 20/12/2006 và thửa đất diện tích 2.338m² theo Giấynhận số H.00448/bĐ cấp ngày 20/12/2006 để xác định chính xác di sản của cụ H1 và cụ H2; đồng thời chưa đưa đầy đủ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Tòa án cấp phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung, khắc phục được. Do đó, cần chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết, xét xử lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm, đúng quy định của pháp luật.
Kháng cáo của nguyên đơn thuộc về nội dung giải quyết vụ án sẽ được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét trong quá trình giải quyết, xét xử lại vụ án.
[4] Về án phí phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 3 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 21/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, do Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; nghĩa vụ chịu án phí được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 308 và Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự,
- Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 98/2024/DS-ST ngày 30/8/2024 của Toà án huyện C, tỉnh An Giang xét xử vụ án “Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất ở; thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại” giữa nguyên đơn là ông Triệu Thanh S, bị đơn là bà Triệu Thị T1; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang để giải quyết, xét xử sơ thẩm lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Triệu Thanh S không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; trả lại cho ông Triệu Thanh S số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004859 ngày 09/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lại Hiệp Phong |
Bản án số 23/2025/DS-PT ngày 22/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất ở; thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại
- Số bản án: 23/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất ở; thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/01/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ: Triệu Thanh S BĐ: Triệu Thị T1
