Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ AYUNPA

TỈNH GIA LAI

Bản án số: 23/2024/HS-ST

Ngày 09/12/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUNPA, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Siu Lanh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đức Thại

2. Ông Trần Văn Công

- Thư ký phiên toà: Nguyễn Thị Thu Thảo – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Võ Đình Sơn – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HS, ngày 21 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

TRƯƠNG ĐÌNH T, sinh ngày 05/5/1969 tại H, Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Đình T và bà Nguyễn Thị U (đều đã chết),

Về nhân thân:

  • - Ngày 24/10/1995 bị Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Sông Bé (nay là tỉnh Bình Phước) xử phạt 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 12 tháng tù về tội “Trốn khỏi nơi giam”. Đã được xóa án tích.
  • - Ngày 19/02/1998 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phat: 03 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã được xóa án tích.
  • - Ngày 13/4/2001, bị Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xử phạt 42 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã được xóa án tích.
  • - Ngày 23/11/2005 bị Tòa án nhân dân huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước xử phạt 36 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã được xóa án tích.
  • - Ngày 25/11/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xử phạt 36 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã xóa án tích.

Tiền sự: Không, Tiền án: Có 03 tiền án:

  • + Ngày 31/10/2016 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 08/02/2018, bị cáo chấp hành xong án phạt tù và chưa được xóa án tích.
  • + Ngày 13/3/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đăk Lăk xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 19/05/2020, bị cáo chấp hành xong án phạt tù và chưa được xóa án tích.
  • + Ngày 20/4/2021 bị Tòa án nhân dân dân huyện Ea H'leo, tỉnh Đăk Lăk xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 24/05/2023, bị cáo chấp hành xong án phạt tù và chưa được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/5/2024 đến ngày 08/5/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thị xã A, Gia Lai. Bị cáo có mặt.

- Bị hại:

  • + Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1954; trú tại: Thôn D, xã C, huyệ P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  • + Anh Trần Ngọc D, sinh năm 1978; trú tại: Số B L, phường Đ, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • + Anh Nguyễn P, sinh năm 1998; trú tại: Tổ C, phường S, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • + Anh Lang Thành V, sinh năm 1984; trú tại: Thôn B, xã I, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • + Ông Bùi Văn V1, sinh năm 1995; trú tại: Thôn H, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trương Đình T sống lang thang không có nơi cư trú nhất định, sinh sống tại nhiều địa bàn khác nhau không ổn định, với thủ đoạn lợi dụng sơ hở của chủ quản lý tài sản để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, sau đó mang đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Quá trình điều tra xác định: Từ ngày 28/01/2024 đến ngày 02/5/2024, Trương Đình T thực hiện 05 vụ Trộm cắp tài sản tại các địa bàn thị xã A, huyện P thuộc tỉnh Gia Lai và các huyện E, huyện B thuộc tỉnh Đắk Lắk, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 28/01/2024, Trương Đình T bắt xe khách đi đến thị xã A. Khi đến nơi, T2 đi lang thang trên các tuyến đường thị xã A, Gia Lai để tìm xe mô tô không có người quản lý để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 18giờ00 cùng ngày, T đi trên đường T thuộc phường S, A thì thấy xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS màu đen – trắng, biển kiểm soát 81M1– 062.81 của anh Nguyễn P (sinh năm 1998, trú tại: tổ C, phường S, thị xã A) có chìa khóa cắm trên ổ khóa của xe, không có ai trông coi, T đứng ngoài sân quan sát xung quanh, khi không thấy ai thì lén lút đi bộ về phía xe mô tô dắt xe ra đường T mở chìa khóa khởi động và điều khiển xe đi đến huyện E, tỉnh Đắk Lắk để bán.

Vụ thứ hai: Sau khi lấy trộm được xe mô tô biển kiểm soát 81M1–062.81 ở thị xã A thì Trương Đình T điều khiển đi đến huyện E, tỉnh Đắk Lắk để bán xe. Tuy nhiên, do không có giấy tờ xe nên không bán được, đến khoảng 12giờ00 ngày 31/01/2024, T2 điều khiển xe đến thôn B, xã I, huyện E, tỉnh Đắk Lắk thì phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 47P1– 317.73, nhãn hiệu HonDa, loại Wave A, màu xanh– đen– bạc dựng trong sân nhà ông Lang Thành V (sinh năm: 1984, trú tại: thôn B, xã I, huyện E, tỉnh Đắk Lắk). Thấy trên xe để chìa khóa, không có người trông coi, xe còn mới thì T bỏ lại xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS màu đen-trắng, biển kiểm soát: 81M1-062.81 ở ngoài đường rồi đi vào trong sân nhà, dắt xe mô tô biển kiểm soát 47P1–317.73 ra đường và điều khiển xe theo đường quốc lộ 14C đi qua xã I, huyện E bán cho người đàn ông lạ mặt không rõ nhân thân lai lịch với số tiền 7.000.000₫ rồi tiêu xài hết.

Vụ thứ ba: Vào khoảng 17giờ00 ngày 21/3/2024, Trương Đình T đến huyện P, Gia Lai với mục đích trộm cắp tài sản. Sau khi đi bộ đến xã C, huyện P, tỉnh Gia Lai T phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 81T4-2751, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu xanh– đen của ông Nguyễn Văn T1 (SN: 1954, trú tại tại thôn D, xã C, huyện P, Gia Lai), đang dựng trước sân, chìa khóa xe để chung với chùm chìa khóa cửa để trên kệ tủ nên T quan sát xung quanh không thấy ai trông coi nên lén lút đi vào nhà lấy chìa khóa và khởi động xe đi đến huyện B, tỉnh Đắk Lắk để bán.

Vụ thứ 4: Sau khi lấy trộm được xe mô tô biển kiểm soát 81T4 – 2751 ở huyện P thì Trương Đình T điều khiển xe mô tô trên đi đến huyện B, tỉnh Đắk Lắk để bán xe với mục đích lấy tiền tiêu xài nhưng do không có giấy đăng ký xe nên không bán được. Đến khoảng 13 giờ 30 phút ngày 22/3/2024, T2 phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 47S1- 255.39, nhãn hiệu HonDa; Loại xe Wave a, màu sơn xanh-đen-bạc của ông Bùi Văn V1 (sinh năm: 1995, trú tại: thôn H, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Lắk) để trước nhà, thấy chiếc xe có giá trị nên T2 đã bỏ lại chiếc xe mô tô biển số 81T4 – 2751, lấy trộm chiếc xe mô tô biển số 47S1- 255.39 điều khiển xe đi theo hướng tỉnh lộ 1 về huyện E qua Quốc lộ A đến khu vực biên giới giáp ranh với Campuchia thuộc huyện C, tỉnh Gia Lai bán chiếc xe trên cho một người nam thanh niên không rõ nhân thân lai lịch với giá 8.000.000 đồng.

Vụ thứ năm: Vào khoảng 15giờ00 ngày 02/05/2024, Trương Đình T bắt xe khách hiệu “Tuấn V2” đi từ tỉnh Đắk Lắk đến khu vực Ngã ba cây xoài thuộc phường C, thị xã A, Gia Lai nhằm mục đích trộm cắp xe mô tô. Khi xuống xe, T đi lang thang trên các tuyến đường thuộc thị xã A, Gia Lai tìm những nơi tập trung đông người để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Khi đi trên đường L đoạn thuộc tổ C, phường Đ, thị xã A, Gia Lai thì phát hiện xe mô tô biển kiểm soát 81F4-9233, nhãn hiệu WAVE, màu sơn Đỏ của anh Trần Ngọc D (sinh năm 1978, trú tại: B L, phường Đ, thị xã A, Gia Lai) đang dựng trước sân nhà chìa khóa xe để trên xe nên nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô trên. Thịnh quan sát xung quanh không thấy ai thì lén lút đi đến vị trí để xe mô tô dắt ra đường L. Khi dắt xe ra khỏi sân bê tông, T lên xe mở chìa khóa, khởi động xe và điều khiển đi được khoảng 01m thì bị tổ công tác Công an thị xã A phát hiện bắt quả tang.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 07/KL-HĐĐGTS ngày 07/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã A, Kết luận: xác định giá trị của xe mô tô nhãn hiệu HonDa Wave, mang biển kiểm soát 81F4– 9233 là 8.667.000 đồng (tám triệu sáu trăm sáu mươi bảy ngàn đồng).

Tại Kết luận định giá tài sản số: 10/KL-HĐĐGTS ngày 29/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã A, Kết luận: xác định giá trị của xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, mang biển kiểm soát 81M1– 062.81 là 6.500.000 đồng (sáu triệu năm trăm ngàn đồng).

Tại Kết luận định giá tài sản số: 13/KL-HĐĐGTS ngày 13/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P, Gia Lai, Kết luận: xác định giá trị của xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, mang biển kiểm soát 81T4 – 2751 là 3.200.000 đồng (ba triệu hai trăm ngàn đồng).

Tại Kết luận định giá tài sản số: 26/KL-HĐĐGTS ngày 24/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện E, tỉnh Đăk Lăk, Kết luận: xác định giá trị của xe mô tô nhãn hiệu Wave A, biển kiểm soát 47P1– 317.73 là 10.333.000 đồng (mười triệu ba trăm ba ba ngàn đồng).

Tại Kết luận định giá tài sản số: 28/KL-HĐĐGTS ngày 23/7/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện B, tỉnh Đăk Lăk, Kết luận: xác định giá trị của xe mô tô nhãn hiệu Wave a, biển kiểm soát 47S1 – 255.39 là 12.200.000 đồng (mười hai triệu hai trăm ngàn đồng).

Vật chứng vụ án:

  • - Xe mô tô mang biển kiểm soát 81F4-9233, nhãn hiệu WAVE, màu sơn Đỏ, số máy: NF110ME0056364, số khung: NF110M0056364. Qúa trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Trần Ngọc D.
  • - Xe mô tô mang biển kiểm soát 81M1-062.81, nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, màu sơn Đen-Trắng, số máy: 5C6K289545, số khung: C6K0GY289537, do anh Lang Thành V giao nộp. Qúa trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Phúc .
  • - Xe mô tô BKS 81T4- 2751, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu sơn xanh - đen, số khung: 309Y211512, số máy: 5C63-211515, do Công an xã E, huyện B tạm giữ. Qúa trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Văn T1.
  • - Xe mô tô biển kiểm soát 47S1- 255.39, nhãn hiệu Honda; Loại xe Wave a, Màu sơn xanh-đen-bạc, số máy: JA39E-2376357, số khung RLHJA3921MY256047. Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã ra Quyết định truy tìm xe mô tô trên nhưng không tìm được.
  • - Xe mô tô xe mô tô biển kiểm soát 47P1–317.73 nhãn hiệu HonDa, loại Wave A, màu xanh-đen-bạc, số máy JA39E2389361, số khung RLHJA3920MY269381. Cơ quan CSĐT Công an huyện E đã ra Thông báo truy tìm nhưng không tìm được.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Văn T1, anh Trần Ngọc D và anh Nguyễn P đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu gì. Anh Lang Thành V yêu cầu bồi thường thiệt hại 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng), anh Bùi Văn V1 yêu cầu bồi thường thiệt hại số tiền 12.200.000 đồng (mười hai triệu hai trăm ngàn đồng).

Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Trương Đình T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 18 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Trương Đình T về tội Trộm cắp tài sản, theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trương Đình T về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị truy tố thêm điểm b khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại anh Lang Thành V số tiền 15.000.000 đồng và bồi thường cho anh Bùi Văn V1 số tiền 12.200.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong tại giai đoạn điều tra nên không đề cập.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.360.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo và bị hại không có ý kiến tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Trương Đình T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 28/01/2024 đến ngày 02/5/2024, Trương Đình T thực hiện 05 vụ Trộm cắp tài sản tại các địa bàn thị xã A, huyện P thuộc tỉnh Gia Lai và các huyện E, huyện B thuộc tỉnh Đắk Lắk, cụ thể như sau: Vào khoảng 18giờ00 ngày 28/01/2024, tại tổ C, phường S, thị xã A, Gia Lai bị cáo có hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô biển kiểm soát 81M1 – 062.81 nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS màu đen – trắng của anh Nguyễn P, có giá trị 6.500.000đ. Ngày 31/01/2024, tại thôn B, xã I, huyện E, tỉnh Đắk Lắk T2 có hành vi lén lút trộm cắp xe mô tô biển kiểm soát 47P1 – 317.73 nhãn hiệu HonDa, loại Wave A, màu X – Đen – Bạc trong sân nhà ông Lang Thành V có giá trị 10.333.000 đồng. Ngày 21/3/2024, tại thôn D, xã C, P, Gia Lai, Trương Đình T có hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô biển kiểm soát 81T4 -2751, nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu xanh – đen của ông Nguyễn Văn T1, có giá trị 3.200.000 đồng. Ngày 22/3/2024, tại thôn H, xã E, huyện B, tỉnh Đắk Thịnh có hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô biển kiểm soát 47S1- 255.39, nhãn hiệu: Honda; loại xe: Wave a, màu sơn: Xanh-đen-bạc của ông Bùi Văn V1, có giá trị 12.200.000 đồng. Ngày 02/05/2024, tại B L, phường Đ, thị xã A, Gia Lai Trương Đình T có hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô BKS: 81F4-9233, nhãn hiệu WAVE, màu sơn Đỏ của anh Trần Ngọc D, có giá trị 8.667.000 đồng. Tổng trị giá tài sản do hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo Trương Đình T gây ra là 40.900.000 đồng (bốn mươi triệu chín trăm nghìn đồng).

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; mặt khác hành vi phạm tội của bị cáo còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại các địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo không có nghề nghiệp, không có nơi ở ổn định, sống lang thang, di chuyển liên tục nhiều nơi để lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu để lén lút chiếm đoạt, tài sản của người khác. Sau khi trộm cắp tài sản của người này, bị cáo sử dụng chính tài sản trộm cắp được để tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản khác và bán tài sản trộm cắp lấy tiền làm nguồn sống. Bị cáo thực hiện liên tục 05 lần hành vi trộm cắp tài sản với tổng trị giá là 40.900.000 đồng, các lần trộm cắp đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Bị cáo phạm tội lần này là tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi phạm tội của bị cáo Trương Đình T đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm b, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là có cơ sở, đúng người, đúng tội.

[3] Xét nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Về nhân thân: Trước khi phạm tội trong vụ án này, bị cáo Trương Đình T là người có nhân thân xấu. Bị cáo đã nhiều lần bị kết án tù về các tội Cố ý gây thương tích, Trốn khỏi nơi giam và 07 lần về tội Trộm cắp tài sản thì có 03 lần bị Tòa án xử phạt về tội Trộm cắp tài sản nhưng chưa được xóa án tích. Tuy nhiên, bị cáo đã không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân để chấp hành pháp luật, cải tạo cho tốt mà còn tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp trong vụ án này. Điều này chứng tỏ bị cáo có thái độ coi thường pháp luật, không tỏ ra ăn năn hối cải qua các lần phạm tội của mình.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi vụ án được phát hiện, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nên áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, bị cáo thực hiện 05 vụ trộm cắp khác nhau, mỗi lần phạm tội đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm, do đó cần áp dụng cho bị cáo tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự khi xem xét quyết định hình phạt.

Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS và nhân thân của bị cáo, HĐXX xét thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành người tốt, đồng thời làm tốt công tác răn đe, phòng ngừa chung.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Văn T1, anh Trần Ngọc D và anh Nguyễn P đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên HĐXX không xét.

Trong giai đoạn điều tra, bị hại anh Lang Thành V yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 15.000.000 đồng và bị hại anh Bùi Văn V1 yêu cầu bồi thường số tiền 12.200.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền theo yêu cầu của 02 bị hại. Xét thấy, việc bồi thường cho các bị hại của bị cáo là tự nguyện, không bị cưỡng ép, không trái đạo đức xã hội, cho nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5] Về xử lý vật chứng: Ba chiếc xe mô tô thu giữ đã được Cơ quan cảnh sát Điều tra công an thị xã A và Công an huyện P xử lý trả lại cho các bị hại trong giai đoạn điều tra nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết nữa.

[6] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên: Cơ quan điều tra Công an thị xã A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ayun Pa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, tuân thủ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trương Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Căn cứ điểm b, g khoản 2 Điều 173, Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Trương Đình T 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/5/2024.

  3. Về trách nhiệm dân sự:
  4. Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự;

    Căn cứ các Điều 584, 585 và Điều 589 Bộ luật Dân sự;

    Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Lang Thành V số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) và bồi thường cho anh Bùi Văn V1 số tiền 12.200.000 đồng (Mười hai triệu hai trăm nghìn đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  5. Về án phí:
  6. Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23, khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Buộc bị cáo Trương Đình T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.360.000 đồng án phí dân sự trong hình sự để sung vào ngân sách Nhà nước.

  7. Quyền kháng cáo:
  8. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm đối với những người có mặt tại phiên tòa. Thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày trích lục bản án được tống đạt hợp lệ đối với những người vắng mặt tại phiên tòa.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Ayun Pa;
  • - CQ. CSĐT Công an TX. Ayun Pa;
  • - CQ.THA HS Công an TX. Ayun Pa;
  • - Chi cục THA DS TX. Ayun Pa;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu HSVA, Lưu trữ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Siu Lanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 09/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUNPA, TỈNH GIA LAI về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 23/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AYUNPA, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Đình T sống lang thang không có nơi cư trú nhất định, sinh sống tại nhiều địa bàn khác nhau không ổn định, với thủ đoạn lợi dụng sơ hở của chủ quản lý tài sản để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, sau đó mang đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger