|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Bản án số: 23/2024/HS-ST Ngày: 05-12-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Thái
Ông Lê Đình Tuyến
- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Trung Tín - Thư ký Tòa án nhân dân Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hữu Sỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Võ Thanh P, sinh năm: 1992 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở hiện nay: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Nhân viên kế toán; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Võ Văn G (đã chết) và bà Trần Thị Đ; Vợ: Lê Thị Ngọc V và có 01 sinh năm 2021; Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có hai chị em; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ ngày 13/4/2024, chuyển tạm giam từ ngày 22/4/2024 đến nay, (Có mặt).
- Nguyễn Hương T, sinh năm: 1998 tại Bình Phước; Hộ khẩu thường trú: Khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; Chỗ ở hiện nay: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Hương L và bà Lê Thị Hồng A; Vợ và con: Chưa có; Bị cáo là thứ hai trong gia đình có hai anh em; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ ngày 13/4/2024, chuyển tạm giam ngày 22/4/2024 đến nay, (Có mặt).
- Lê Thị Bích N, sinh năm: 2003 tại Kiên Giang; Hộ khẩu thường trú: Ấp V, xã H, huyện U, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở hiện nay: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Không rõ và bà Lê Thị Bích H; Chồng và con: Chưa có; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ ngày 13/4/2024, chuyển tạm giam ngày 22/4/2024 đến nay, (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Thị Cẩm T1, sinh năm 1997 (Vắng mặt)
- Ông Nguyễn Đăng H1, sinh năm 1993 (Có mặt)
Cùng địa chỉ: Khu dân cư S, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 01 giờ 15 phút ngày 13/04/2024, tại phòng Vip số 02 quán K trên đường T thuộc Khu dân cư S, huyện C, đội Điều tra tổng hợp (ĐTTH) Công an huyện C phát hiện Võ Thanh P, Nguyễn Hương T, Lê Thị Bích N và Thị Cẩm T1 đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng gồm: 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng; 02 (hai) tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng; 01 (một) gói nilon dạng khóa “zip” chứa chất bột màu trắng; 01 (một) đoạn ống hút bằng nhựa màu đen, dài 10 cm; 01 (một) bật lửa hiệu HOA VIỆT; 01 (một) bật lửa hiệu BIC; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung S22 Ultra Galaxy, màu xám, số sê ri: R5CT21RK7WK, gắn sim số: 0383998744; 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Promax, màu xám, số sê ri: F2MZL2ETN70G, gắn sim số: 0325787216; 01 (một) điện thoại di động Iphone 14 Promax, màu tím, số sê ri: MTYH16W7QG, gắn sim số: 0378300998; 01 (một) điện thoại di động Iphone 13 Promax, màu vàng, số sê ri: DQCNFQNQCR, gắn sim số: 0971416966 (BLĐT: 06-08).
Tại cơ quan điều tra, Võ Thanh P, Nguyễn Hương T khai nhận số ma túy cơ quan công an thu giữ nêu trên là do T và P góp tiền mua, cụ thể: Ngày 24/3/2024, P và T bàn bạc cùng nhau góp tiền và tìm người nhờ mua ma tuý “Khay” và “Thuốc lắc” từ đất liền mang ra để sử dụng. Đến 12 giờ 24 phút ngày 25/3/2024, T sử dụng số tài khoản 33339777796789 - Ngân hàng Q (M) của T chuyển đến số tài khoản 103005887366 - Ngân hàng TMCP C (V3) của P số tiền 7.000.000đồng (Bảy triệu đồng) để mua ma tuý. Ngày 27/3/2024, P biết Lê Thị Bích N đang ở TP Hồ Chí Minh nên điện thoại nhờ N mua 04 (Bốn) viên “Thuốc lắc” và “Nửa hộp năm” ma tuý “Khay” để sử dụng, N đồng ý. Cùng ngày, N đi đến khu vực trước quán K thuộc xã T, huyện H, TP. gặp một người đàn ông chạy xe ôm (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 04 (Bốn) viên “Thuốc lắc” và 01 (Một) gói nylon chứa ma tuý “Khay” với giá 5.800.000đồng (Năm triệu tám trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma tuý, N điện thoại báo cho P biết đã mua được ma tuý với số tiền 5.800.000đồng (Năm triệu tám trăm nghìn đồng). Đến 18 giờ 10 phút ngày 27/3/2024, P sử dụng số tài khoản 103005887366 - Ngân hàng TMCP C (V3) của P chuyển đến số tài khoản 060264734201 - Ngân hàng TMCP S (S1) của N số tiền 16.300.000đồng (Mười sáu triệu ba trăm nghìn đồng). Trong đó, P trả 5.800.000đồng (Năm triệu tám trăm nghìn đồng) tiền mua ma tuý, cho N mượn 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), cho em gái N 500.000đồng (Năm trăm nghìn đồng). Ngày 01/4/2024, N mang ma tuý ra huyện C đưa lại cho P, P mang toàn bộ số ma túy N đưa về cất giấu tại nhà của mình để sử dụng dần. Khoảng ngày 08/4/2024, P gọi điện thoại báo cho T biết đã mua được ma túy và thống nhất chọn ngày để cùng sử dụng (BLĐT: 110, 114, 118, 174, 176, 179).
Tại Kết luận giám định số 243/KL-KTHS-MT ngày 18/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Một phong bì màu trắng, có hình dấu của Khu dân cư số 5-UBND huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên: Đỗ Văn H2, Nguyễn Hương T, Võ Thanh P, Lê Thị Bích N, Thị Cẩm T1, Nguyễn Đăng H1, Nguyễn Anh H3, Đỗ Vương B, bên trong có 01(một) gói nylon hàn kín chứa chất bột màu trắng (kí hiệu mẫu A) có khối lượng 0,3237 gam, là ma túy, loại Ketamine (BLĐT: 91-95).
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện C, Võ Thanh P, Nguyễn Hương T, Lê Thị Bích N khai nhận về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, như sau:
Lần 1: Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 12/4/2024, T rủ P đến quán K trên đường T thuộc khu dân cư S, huyện C để hát và sử dụng ma túy. Khi đến quán K, T vào phòng Vip 02, còn P đi về nhà lấy gói nylon chứa ma túy “Khay” và 04 (Bốn) viên “Thuốc lắc” rồi đem đến quán. Sau khi vào phòng hát, P gọi nhân viên Lê Thị Bích N và Thị Cẩm T1 vào hát cùng, N ngồi cạnh P còn T1 ngồi cạnh T. Sau đó, P đi ra ngoài gọi nhân viên phục vụ lấy 01 (Một) cái đĩa sứ màu trắng nói là để chia trái cây đem vào phòng, dùng để sử dụng ma túy. P lấy 01 (Một) viên “thuốc lắc” đưa cho T sử dụng, P tự sử dụng 01 (Một) viên “thuốc lắc” bằng cách uống, P lấy 01 (Một) viên “thuốc lắc” khác bẻ làm đôi, P lấy một nửa viên “thuốc lắc” đưa cho N sử dụng bằng cách uống, T lấy một nửa viên “thuốc lắc” còn lại đưa cho T1 uống. Tiếp đó, P đưa gói nylon chứa ma túy “Khay”, một tờ tiền mệnh giá 2.000đồng (Hai nghìn đồng), 01 (một) đĩa sứ cho N. N đổ một phần ma túy “Khay” ra tờ tiền mệnh giá 2.000đồng, dùng bật lửa của T hơ nóng, dùng ly bia cà nhuyễn ma túy “Khay” rồi đổ ra đĩa sứ, dùng thẻ ATM của T kẻ thành nhiều đoạn thẳng trên đĩa đưa cho P, T sử dụng bằng cách dùng ống hút nhựa (loại ống để uống nước) có sẵn trong phòng hít ma túy “Khay” vào trong mũi. N không sử dụng ma túy “Khay” do còn phải tiếp khách ở phòng khác. Đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 12/4/2024, T do “phê” ma túy nên nằm ngủ trong phòng Vip 02. P mang số ma túy “Khay” còn lại và 01 (Một) viên “thuốc lắc” về nhà cất giấu.
Lần hai: Khoảng 22 giờ 00 ngày 12/4/2024, P và T tiếp tục đến quán K để thuê phòng hát và sử dụng ma túy. Khi P, T đến quán thì gặp Lê Thị Bích N tại hầm giữ xe nên P rủ N lên hát chung. N đồng ý, cả ba đi lên thuê phòng Vip 02. Sau khi vào phòng khoảng 10 phút, P về nhà lấy 01 (Một) gói nylon chứa ma túy “Khay” và 01 (Một) viên “Thuốc lắc” mang lại phòng Vip 02 để sử dụng. Tại đây, P lấy ma túy ra để trên bàn, lấy 01 (một) viên “thuốc lắc” bẻ làm đôi, rồi tiếp tục bẻ nửa viên thành hai phần nhỏ hơn, P sử dụng một phần bằng cách uống, đưa cho N một phần để sử dụng bằng cách uống, nửa viên thuốc lắc còn lại P đưa cho T. P lấy ra hai tờ tiền mệnh giá 2.000đồng (Hai nghìn đồng) đưa cho N để cà nhuyễn ma túy “Khay”, T đưa ra một tờ tiền mệnh giá 5.000đồng (Năm nghìn đồng) cho N để đựng ma túy “Khay” đã cà nhuyễn, T lấy ống hút nhựa màu đen ngắt lấy một đoạn để làm dụng cụ hít ma túy. N đổ ma túy “Khay” ra tờ tiền mệnh giá 2.000đồng, dùng bật lửa của T hơ nóng, dùng ly thủy tinh uống bia cà nhuyễn ma túy “Khay” rồi đổ ra tờ tiền mệnh giá 5.000đồng đưa P, T sử dụng ma túy “Khay” bằng cách hít vào mũi, N sử dụng ma túy “Khay” bằng cách cho vào ly bia để uống. Khoảng 10 phút sau, Thị Cẩm T1 được T gọi đến phòng V1 02 và ngồi cạnh T, T bẻ nửa viên thuốc lắc thành hai phần, T lấy một phần và đưa cho T1 một phần để sử dụng bằng cách uống. T1 cũng sử dụng ma túy “Khay” chung với cả nhóm bằng cách hít vào mũi. Đến 01 giờ 15 phút ngày 13/4/2024, khi cả nhóm đang ở trong phòng Vip 02 thì bị Công an huyện C phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên (BLĐT: 06 - 08, 83 - 90, 110, 114, 118).
Nguyễn Hương T ban đầu không thừa nhận việc cùng Võ Thanh P góp tiền mua ma túy với mục đích để sử dụng, chỉ thừa nhận có rủ Thị Cẩm T1 sử dụng ma túy một lần và bị cơ quan công an phát hiện bắt giữ. Sau đó, quá trình điều tra T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý như trên (BLĐT: 110, 114, 118, 133 - 144, 152 - 162, 170 - 171, 176, 178, 190 - 195).
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:
+ Đồ vật, tài liệu thu giữ:
- - 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, là tờ tiền T đưa cho N để đựng ma túy “Khay” vào ngày 13/4/2024.
- - 02 (hai) tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, là hai tờ tiền P1 đưa cho N để cà nhuyễn ma túy “Khay” vào ngày 13/4/2024.
- - 01 (một) gói nilon dạng khóa zip chứa chất bột màu trắng, thu giữ khi bắt quả tang.
- - 01 (một) đoạn ống hút bằng nhựa màu đen, dài 10 cm, được T sử dụng làm dụng cụ hít ma tuý vào ngày 13/4/2024.
- - 01 (một) bật lửa hiệu HOA VIỆT, là bật lửa của T dùng để hơ nóng ma túy “Khay” vào ngày 13/4/2024.
- - 01 (một) bật lửa hiệu BIC, là bật lửa của T dùng để hơ nóng ma túy “Khay” vào ngày 13/4/2024.
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung S22 Ultra Galaxy, màu xám, số sê ri: R5CT21RK7WK, gắn sim số: 0383998744, là điện thoại của P sử dụng điện thoại này để liên lạc, chuyển tiền cho Lê Thị Bích N để mua ma túy vào ngày 27/3/2024.
- - 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Promax, màu xám, số sê ri: F2MZL2ETN70G, gắn sim số: 0325787216, là điện thoại của Lê Thị Bích N. N sử dụng điện thoại liên lạc với P vào ngày 27/3/2024 để mua, nhận tiền ma tuý.
- - 01 (một) điện thoại di động Iphone 13 Promax, màu vàng, số sê ri: DQCNFQNQCR, gắn sim số: 0971416966, là điện thoại của T. Ngày 25/3/2024, T sử dụng điện thoại này để chuyển số tiền 7.000.000 đồng cho P để mua ma túy.
- - 01 (một) điện thoại di động Iphone 14 Promax, màu tím, số sê ri: MTYH16W7QG, gắn sim số: 0378300998, là điện thoại của Thị Cẩm T1. Không sử dụng vào mục đích phạm tội. Do đó, T1 có yều cầu xin được nhận lại chiếc điện thoại để tiếp tục quản lý và sử dụng (BLĐT: 06 - 08).
+ Xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 (một) điện thoại di động Iphone 14 Promax, màu tím, số sê ri: MTYH16W7QG, gắn sim số: 0378300998 là của Thị Cẩm T1 sử dụng để liên lạc. Ngày 08/9/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chị Thị Cẩm T1 chiếc điện thoại nêu trên (BLĐT: 185 - 186).
- - Vật chứng còn lại hiện đang tạm giữ: 01 (một) phong bì gửi giám định đã (được niêm phong) mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định được hoàn lại kèm theo kết luận giám định 243/KL-KTHS-MT ngày 18/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B (BLĐT: 94 - 95); 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, 02 (hai) tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, 01 (một) đoạn ống hút bằng nhựa màu đen, dài 10 cm, 01 (một) bật lửa hiệu HOA VIỆT, 01 (một) bật lửa hiệu BIC, 01 (một) điện thoại di động Samsung S22 Ultra Galaxy, màu xám, số sê ri: R5CT21RK7WK, gắn sim số: 0383998744, 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Promax, màu xám, số sê ri: F2MZL2ETN70G, gắn sim số: 0325787216, 01 (một) điện thoại di động Iphone 13 Promax, màu vàng, số sê ri: DQCNFQNQCR, gắn sim số: 0971416966 .
* Các vấn đề khác:
- - Quá trình điều tra xác định: Số ma túy, loại Ketamine có khối lượng 0,3237 gam do Võ Thanh P, Nguyễn Hương T góp tiền nhờ Lê Thị Bích N mua bị cơ quan công an thu giữ, các bị can đem đến với mục đích tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Mặt khác, trọng lượng ma túy dưới 01 (một) gam nên hành vi này không cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự.
- - Đối với Thị Cẩm T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vi phạm khoản 1 điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP. Ngày 22/04/2024, Công an huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 45/QĐ-XPHC đối với T1, số tiền phạt 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng), T1 đã chấp hành đóng tiền phạt (BLĐT: 187 - 189).
- - Đối với hộ kinh doanh dịch vụ karaoke 4 YOU do ông Nguyễn Đăng H1 là chủ hộ kinh doanh. Ngày 07/5/2024, UBND huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Người đứng đầu cơ sở kinh doanh dịch vụ để xảy ra hoạt động sử dụng trái phép chất ma túy trong khu vực do mình quản lý” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, số tiền phạt 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng), phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng giấy phép, Chứng chỉ hành nghề, Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự 09 tháng. Ông H1 đã chấp hành đóng tiền phạt (BLĐT: 180 - 184).
- - Đối với người đàn ông chạy xe ôm đã bán ma túy cho N, do không có đủ thông tin về nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ (BLĐT: 176 - 179).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
Bản cáo trạng số 22/CT-VKSCĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo truy tố Võ Thanh P, Nguyễn Hương T và Lê Thị Bích N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.
Đại điện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- + Điểm a, b Khoản 2 Điều 255; điểm s, r Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 54 và Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Võ Thanh P mức án từ 06 (sáu) năm đến 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù.
- + Điểm a, b Khoản 2 Điều 255; điểm s, r Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 54 và Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hương T mức án từ 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng đến 07 (bảy) năm tù.
- + Điểm a, b Khoản 2 Điều 255; điểm s, r Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 54 và Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Thị Bích N mức án từ 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng đến 07 (bảy) năm tù.
- - Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định.
Các bị cáo nhất trí với bản luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật và các bị cáo đã thật sự ăn năn hối cải, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ được tại hiện trường, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian từ 01 giờ 00 phút ngày 12/4/2024 đến 22 giờ 00 ngày 12/4/2024 tại phòng Vip 02 quán K trên đường T thuộc khu dân cư S, huyện C, các bị cáo P, T và N đã 02 lần có hành vi cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Ketamine cho cả 03 bị cáo và với người khác là Thị Cẩm T1 thì bị phát hiện bắt quả tang. Các lần tổ chức sử dụng ma túy đều do bị cáo T khởi xướng và chủ động thuê phòng, còn nguồn gốc ma túy do bị cáo P và bị cáo T hùn tiền và nhờ bị cáo N tìm mua và cung cấp để cùng nhau sử dụng với Thị Cẩm T1.
Như vậy, hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm a, b Khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Côn Đảo truy tố các bị cáo với tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách của Nhà nước trong quản lý, sử dụng chất ma túy. Hiện nay, các tội phạm liên quan đến ma túy ngày càng diễn biến phức tạp. Ma túy là hiểm họa chung của nhân loại, tác hại của ma túy không thể lường hết, làm gia tăng tội phạm, bạo lực, làm suy thoái nhân cách, phẩm giá con người, tàn phá cuộc sống yên vui của nhiều gia đình. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian phù hợp nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân và hình thức xử lý đối với các bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi bị bắt các bị cáo đã chủ động khai báo hành vi phạm tội của mình trước đó nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, r Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T có ông nội (ông Nguyễn Hồng T2) là người có công với cách mạng; Bị cáo P có bác (ông Võ Văn G1) và cậu (ông Nguyễn Xuân V2) là cựu tù chính trị huyện C, ông ngoại, bà ngoại và dì ruột là người có công với cách mạng, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang nuôi con nhỏ sinh năm 2021, hiện mắc các bệnh viêm gan siêu vi B và đái tháo đường độ II. Vì vậy, cho hai bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Xét các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nên cần áp dụng Khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử các bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Tuy nhiên, cân nhắc nhân thân, vai trò, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo xét thấy cần xử bị cáo N mức án cao nhất, bị cáo T mức án thấp hơn bị cáo N nhưng cao hơn bị cáo P và bị cáo P mức án thấp nhất.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 (một) phong bì gửi giám định đã (được niêm phong) mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định được hoàn lại kèm theo kết luận giám định 243/KL-KTHS-MT ngày 18/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B là vật cấm tàng trữ lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5.000đồng, 02 (hai) tờ tiền mệnh giá 2.000đồng, 01 (một) điện thoại di động Samsung S22 Ultra Galaxy, màu xám, số sê ri: R5CT21RK7WK, gắn sim số: 0383998744, 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Promax, màu xám, số sê ri: F2MZL2ETN70G, gắn sim số: 0325787216, 01 (một) điện thoại di động Iphone 13 Promax, màu vàng, số sê ri: DQCNFQNQCR, gắn sim số: 0971416966 là vật chứng có liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
- - Đối với 01 (một) đoạn ống hút bằng nhựa màu đen, dài 10 cm, 01 (một) bật lửa hiệu HOA VIỆT, 01 (một) bật lửa hiệu BIC là công cụ các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[7] Về các vấn đề khác:
- - Quá trình điều tra xác định: Số ma túy, loại Ketamine có khối lượng 0,3237 gam do Võ Thanh P, Nguyễn Hương T góp tiền nhờ Lê Thị Bích N mua bị cơ quan công an thu giữ, các bị can đem đến với mục đích tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Mặt khác, trọng lượng ma túy dưới 01 (một) gam nên hành vi này không cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự.
- - Đối với Thị Cẩm T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vi phạm khoản 1 điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP. Ngày 22/04/2024, Công an huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 45/QĐ-XPHC đối với T1, số tiền phạt 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng), T1 đã chấp hành đóng tiền phạt.
- - Đối với hộ kinh doanh dịch vụ karaoke 4 YOU do ông Nguyễn Đăng H1 là chủ hộ kinh doanh. Ngày 07/5/2024, UBND huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Người đứng đầu cơ sở kinh doanh dịch vụ để xảy ra hoạt động sử dụng trái phép chất ma túy trong khu vực do mình quản lý” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, số tiền phạt 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng), phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng giấy phép, Chứng chỉ hành nghề, Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự 09 tháng. Ông H1 đã chấp hành đóng tiền phạt.
- - Đối với người đàn ông chạy xe ôm đã bán ma túy cho N, do không có đủ thông tin về nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Võ Thanh P, Lê Thị Bích N và Nguyễn Hương T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm a, b Khoản 2 Điều 255; điểm s, r Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 54 và Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Võ Thanh P 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 13/4/2024.
Căn cứ điểm a, b Khoản 2 Điều 255; điểm s, r Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 54 và Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hương T 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 13/4/2024.
Căn cứ điểm a, b Khoản 2 Điều 255; điểm s, r Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 54 và Điều 58 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Thị Bích N 06 (sáu) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 13/4/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì gửi giám định đã (được niêm phong) mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định được hoàn lại kèm theo kết luận giám định 243/KL-KTHS-MT ngày 18/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B; 01 (một) đoạn ống hút bằng nhựa màu đen, dài 10 cm, 01 (một) bật lửa hiệu HOA VIỆT và 01 (một) bật lửa hiệu BIC.
- - Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: Số tiền 9.000đồng (Chín ngàn đồng) gồm 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5.000đồng và 02 (hai) tờ tiền mệnh giá 2.000đồng, 01 (một) điện thoại di động Samsung S22 Ultra Galaxy, màu xám, số sê ri: R5CT21RK7WK, gắn sim số: 0383998744, 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Promax, màu xám, số sê ri: F2MZL2ETN70G, gắn sim số: 0325787216, 01 (một) điện thoại di động Iphone 13 Promax, màu vàng, số sê ri: DQCNFQNQCR, gắn sim số: 0971416966.
(Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Côn Đảo đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/10/2024 và Biên lai thu tiền số 0003311 ngày 21/10/2024).
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án, các bị cáo Võ Thanh P, Lê Thị Bích N và Nguyễn Hương T mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Mỹ Dung |
Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 23/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÔN ĐẢO, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
