|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN YÊN TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 23/2024/HS-ST Ngày 29-11-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Nguyễn Quang Độ.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Lục Chiến Thắng và bà Nguyễn Thị Hương.
Thư ký phiên toà: bà Hoàng Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên tham gia phiên toà: ông Vi Đức Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Yên xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2024/TLST-HS ngày 18/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HS ngày 18/11/2024 đối với bị cáo:
Nông Văn T, sinh ngày 15/10/2005, tại T, tỉnh Quảng Ninh.
Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Tày; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nông Văn Y và bà: Sằn Móc C; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” hiện tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Anh Hoàng Chiến C1, sinh năm 2001;
Địa chỉ: thôn H, xã P, huyện T, Quảng Ninh.
Vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người tham gia tố tụng khác:
*. Người làm chứng:
- Anh Nông Văn B, sinh năm 1984.
Địa chỉ: thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
- Anh Nông Văn T1, sinh năm 1993.
Địa chỉ: thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
- Anh Nông Văn T2, sinh năm 1996.
Địa chỉ: thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
- Anh Nông Văn H, sinh năm 1986.
Địa chỉ: thôn H, xã H, huyện N, Hải Dương. Có mặt.
- Anh Hoàng Đức H1, sinh năm 1986.
Địa chỉ: thôn H, xã P, huyện T, Quảng Ninh. Vắng mặt (không có lý do).
- Anh Hoàng Văn C2, sinh năm 1996;
Địa chỉ: thôn H, xã P, huyện T, Quảng Ninh.
Vắng mặt (không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 12/02/2024, bị cáo Nông Văn T đến nhà anh Nông Văn T2 ở thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Quảng Ninh ăn cơm, trong đó có T2, Nông Văn T1, Nông Văn B và Nông Văn H. Trong lúc ăn cơm, T kể cho mọi người về việc ngày 11/2/2024, T đi chơi ở thôn H, xã P thì bị rơi mất điện thoại nhãn hiệu Iphone X, sau đó biết Hoàng Văn C2 nhặt được chiếc điện thoại của mình, nên T đến nhà C2 để xin lại điện thoại thì giữa T và C2 xảy ra mâu thuẫn dẫn đến cãi chửi nhau. Sau đó C2 dẫn nhiều người đến nhà tìm đánh T nhưng được mọi người can ngăn nên không đánh được. Sau khi nghe T kể lại sự việc trên, khoảng 19 giờ cùng ngày, T1, B, H, T2 và T rủ nhau đi sang thôn H, xã P tìm C2 hỏi chuyện. T một mình lái xe máy đi trước, T1 lái xe chở H, T2 lái xe chở B đi sau. Khi đi T2 có mang theo 01 ống kim loại cất giấu trong tay áo để phòng thân. Cả bọn đến khu vực đường liên thôn thuộc thôn H, xã P đứng đó một lúc thì gặp C2 đi đến, thấy vậy H đi đến dùng tay trái tát 01 nhát vào mặt làm C2 bỏ chạy. Biết tin C2 bị đánh Hoàng Chiến C1 (là em C2) đi xe máy từ nhà ông nội là Hoàng Văn Đ cách đó 100m đi đến, vứt xe đổ ra đường rồi xông vào xô xát, vật nhau với T ngã ra đất, T đứng dậy, nhặt được 01 cây gỗ keo (hình chữ Y, dài khoảng 01, đường kính khoảng 04 - 05cm) ở dưới đất gần đó rồi đứng đối diện với C1 đánh 01 nhát theo hướng từ trên xuống dưới. C1 quay lưng bỏ chạy thì bị T dùng cây gỗ keo này đánh tiếp 02 phát vào lưng. Lúc này Hoàng Đức H1 (là chú ruột của C1) đến, biết C1 bị T đánh nên đã cầm 01 cây gỗ đánh 01 nhát vào đầu T thì bị T dùng cây gỗ keo đánh lại 01 nhát vào đầu H1, sau đó được mọi người can ngăn mọi người đi về, T, C1 và H1 được đưa đi Trung tâm y tế huyện T điều trị thương tích.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 376 ngày 08/05/2024, của Trung tâm pháp y Sở Y1 đối với Hoàng Chiến C1 kết luận: Sẹo vết thương phần mềm nằm dọc vùng giữa đỉnh đầu kích thước trung bình, Gãy gai ngang đốt sống ngực T10, T11 bên trái, vết biến đổi rối loạn sắc tố da vùng cột sống ngực ngang T10, T11. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 13%, các tổn thương trên là do vật tày tác động trực tiếp gây nên.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1012 ngày 06/11/2024, của Trung tâm pháp y Sở Y1 đối với Hoàng Đức H1 kết luận: Sẹo vết thương phần mềm vùng trán trái kích thước trung bình, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 06%. Vết thương nêu trên là do vậy tày tác động trực tiếp gây nên.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1013 ngày 06/11/2024, của Trung tâm pháp y Sở Y1 đối với Nông Văn T kết luận: Sẹo vết thương phần mềm nằm dọc vùng đỉnh đầu, kích thước nhỏ, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 01%. Vết thương vùng đỉnh đầu do vậy tày tác động trực tiếp gây nên.
Tại bản Cáo trạng số: 1315/CT-VKS ngày 18/11/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên đã truy tố bị cáo Nông Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nông Văn T từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng đến 60 tháng về tội “Cố ý gây thương tích”. Giao bị cáo T cho Uỷ ban nhân dân nơi bị cáo cư trú, giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục.
Về phần bồi thường: Trong giai đoạn điều tra bị cáo đã bồi thường cho bị hại anh H2 Chiến Công 70 triệu đồng, tại phiên toà bị hại vắng mặt nhưng trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt cũng không yêu cầu bồi thường thêm khoản tiền nào khác nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
Về vật chứng: Đối với đoạn cây gỗ keo bị cáo T sử dụng để đánh Hoàng Chiến C1, sau khi đánh xong T vứt lại hiện trường, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu hồi được, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật;
Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Yên là đúng người, đúng tội; Lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt, bị cáo không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp, phù hợp với các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Trong quá trình điều tra bị cáo Nông Văn T đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai phù hợp như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Tại phiên toà, một lần nữa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai này phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và thừa nhận việc đưa ra truy tố, xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình.
Lời khai nhận của bị cáo còn phù hợp với lời khai của người bị hại anh Hoàng Chiến C1; đồng thời lời khai của bị cáo còn phù hợp với lời khai của những người làm chứng anh Nông Văn B, Nông Văn T1, Nông Văn T2, Nông Văn H, Hoàng Đức H1 và Hoàng Văn C2; biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường; bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống của Trung tâm pháp y Sở Y1 đối với bị hại anh C1, đó chính là các căn cứ xác định:
Do mâu thuẫn trong việc bị cáo T bị rơi điện thoại nhãn hiệu Iphone X, sau đó T biết Hoàng Văn C2 nhặt được chiếc điện thoại của mình, nên T đến nhà C2 để xin lại điện thoại thì giữa T và C2 xảy ra mâu thuẫn dẫn đến cãi chửi nhau. Sau đó, C2 dẫn nhiều người đến nhà tìm đánh T nhưng được mọi người can ngăn nên không đánh được. Sau khi nghe T kể lại sự việc trên, T1, B, H, T2 và T rủ nhau đi tìm C2 hỏi chuyện. Cả nhóm đến khu vực đường liên thôn thuộc thôn H, xã P đứng đó một lúc thì gặp C2 đi đến, thấy vậy H đi đến dùng tay trái tát 01m nhát vào mặt làm C2 bỏ chạy. Biết tin C2 bị đánh Hoàng Chiến C1 (là em C2) đi xe máy đến, vứt xe đổ ra đường rồi xông vào xô xát, vật nhau với T ngã ra đất, T đứng dậy, nhặt được 01 cây gỗ keo (hình chữ Y, dài khoảng 01, đường kính khoảng 04 - 05cm) ở dưới đất gần đó rồi đứng đối diện với C1 đánh 01 nhát theo hướng từ trên xuống dưới. C1 quay lưng bỏ chạy thì bị T dùng cây gỗ keo này đánh tiếp 02 phát vào lưng. Lúc này Hoàng Đức H1 (là chú ruột của C1) đến, biết C1 bị T đánh nên đã cầm 01 cây gỗ đánh 01 nhát vào đầu T thì bị T dùng cây gỗ keo đánh lại 01 nhát vào đầu H1, sau đó được mọi người can ngăn mọi người đi về, T, C1 và H1 được đưa đi Trung tâm y tế huyện T điều trị thương tích. C1 bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 13%.
Như vậy, với các chứng cứ nêu trên đã đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ, ngày 12/02/2024, tại đường liên thôn H, xã P, huyện T, tỉnh Quảng Ninh, do mâu thuẫn trong việc trả lại điện thoại, bị cáo Nông Văn T đã sử dụng 01 đoạn gậy gỗ hình chữ Y, dài khoảng 01m, đường kính khoảng 04 - 05cm đánh 01 nhát vào vùng đỉnh đầu và 02 nhát vào vùng lưng (theo chiều từ trên xuống dưới) anh H2 Chiến Công gây thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 13% . Hành vi này của bị cáo T đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù, từ 02 năm đến 06 năm.
Đối với Hoàng Đức H1 dùng cây gỗ đánh Nông Văn T gây thương tích, tổn hại 01% sức khỏe. T không yêu cầu khởi tố và không yêu cầu bồi thường gì nên Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện T để xử phạt vi phạm hành chính; Đối với Nông Văn T khi bị Hoàng Đức H1 đánh đã sử dụng cây gỗ đánh lại H1, gây thương tích cho H1 bị tổn hại 06% sức khỏe. Do H1 có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T nên Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện T để xử phạt vi phạm hành chính; Đối với Nông Văn H có hành vi dùng tay đánh Hoàng Văn C2 và Lưu Văn D nhưng không gây thương tích nên Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện T để xử phạt vi phạm hành chính; Đối với Nông Văn B, Nông Văn H, Nông Văn T1, Nông Văn T2 cùng Nông Văn T đi tìm Hoàng Văn C2 và Hoàng Chiến C1 mục đích để nói chuyện, không phải đi tìm C2, C1 để đánh nên không cấu thành tội phạm. Nên Hội đồng xét xử không xét.
[3] Xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác mà pháp luật tôn trọng và bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm đối với bị cáo.
[4]. Tuy nhiên cũng cần phải xét xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy:
[4.1]. Về tình tiết tăng nặng: không có.
[4.2]. Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, là người dân tộc thiểu số, phạm tội lần đầu, đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại và được người bị hại có đơn xin giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tương ứng được quy định tại Điều 51 của Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt.
[5] Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét toàn diện nội dung vụ án, Hội đồng xét xử thấy: Đến nay bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần thiết buộc bị cáo phải cách ly xã hội, mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đảm bảo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Xã hội chủ nghĩa.
[6] Xét về phần bồi thường: trong giai đoạn điều tra bị cáo đã bồi thường cho bị hại anh Hoàng Chiến C1, anh C1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác. Tại phiên toà hôm nay anh C1 vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đơn cũng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác nên Hội đồng xét xử không xét.
[7] Về vật chứng vụ án: đối với với đoạn cây gỗ keo bị cáo T sử dụng để đánh Hoàng Chiến C1, sau khi đánh xong T vứt lại hiện trường, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu hồi được, nên Hội đồng xét xử không xét.
[8] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[9] Xét đề nghị của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử thấy đề nghị này phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; điểm d khoản 1 Điều 125; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Nông Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Nông Văn T 24 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 48 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nông Văn T cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nông Văn T có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo T.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
Huỷ biện pháp ngăn chặn là Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 10/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 18/11/2024 của Toà án huyện Tiên Yên đối với bị cáo Nông Văn T.
Huỷ biện pháp ngăn chặn là Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 10/2024/QĐ-TA ngày 18/11/2024 của Toà án huyện Tiên Yên đối với bị cáo Nông Văn T.
Về án phí: bị cáo Nông Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Độ |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Lục Chiến Thắng – Nguyễn Thị Hương |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quang Độ |
Bản án số 23/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 23/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nông Văn Thắng - Cố ý gây thương
